Hôm nay,  

Bông cỏ May, ai nở chối từ

12/26/202500:00:00(View: 1815)

bong co may
 
Nhạc sến và nhạc vàng đều hay. Mỗi bên có chất hay riêng, có vẻ đẹp khác nhau, như những thiếu nữ hoa hậu của các trường trên tỉnh so với những cô thôn nữ dưới quê trong hội trăng rằm. Một điểm thường thấy nhất là gái quê thành thật hơn gái tỉnh. Nhạc sến gây xúc động hơn nhạc vàng.

Tháng Sáu ấy, ở trong trại Fort Chaffee chờ người bảo trợ, đêm đêm nằm trong căn phòng san sát nhau, cách một vách mỏng. Nghe đủ thứ chuyện trên đời. Nghe cả đủ thứ loại nhạc bởi những giọng ca cảm hứng. Nhạc vàng thường làm tôi lâng lâng lắng nghe rồi băn khoăn buồn buồn, dù người hát thường không đủ tiêu chuẩn. Rồi một lần, giữa đêm hè nóng nực, một anh lính Biệt Động Quân, người trấn đồn biên giới, cất giọng ca sai cả nốt cao lẫn nốt thấp. Anh hát, “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / khi thấy mai đào nở vàng bên nương…”(1) tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, rồi chảy thành dòng, không thể nào ngưng được. Đó là chất sôi nổi của nhạc sến.

Nhạc sến, lịch sử bên lề.

Tôi yêu nhạc sến như yêu thôn nữ đang gặt lúa ở Lục tỉnh. Tôi yêu nhạc vàng như như yêu hoa hậu trường Bồ Đề, Nhân Thảo, Lê Quí Đôn, Bùi thị Xuân, Trưng Vương, Gia Long và yêu nhạc Pháp như yêu Louise ở Couvent des Oiseaux, Solèn ở Marie Curie. Bây giờ, đang yêu nhạc Mỹ, nhạc Âu châu, nhất là nhạc đảo.

Dù là loại nhạc gì, mỗi ca khúc đều có một câu truyện, kể rõ ràng hay kể mơ hồ. Nhạc vàng thường có lối kể mông lung, lảng đảng. Nhạc sến thường kể một cách thành thật và cảm động. Một bên gây cho người nghe cảm giác lãng mạng. Một bên làm cho người nghe chạnh lòng.

Nhạc sến chiếm một vị trí quan trọng trong nền âm nhạc Việt. Dòng nhạc này theo sát biến chuyển của xã hội, cuộc đời và tâm tình của những người sống trong giai đoạn thời sự đó. Dòng nhạc ghi lại những bối cảnh, sinh hoạt, tâm sự qua những mảnh rời của ca khúc, ráp lại như một lại lịch sử bên lề lịch sử chính thống. Có lịch sử chính thống không? Không. Lịch sử luôn bị bóp méo và điều chỉnh theo phe chiến thắng. Nhưng lịch sử bên lề thì còn nguyên. Hát sao, còn vậy
.
Người ta nói rằng, các nhà văn muốn kể một câu chuyện, cần phải viết mươi trang sách hoặc hơn nữa. Nhạc sĩ kể một câu chuyện, chỉ trong vòng ba phút hoặc năm phút. Như vậy mới biết, nhạc chuyên chở trí tuệ, tình cảm đến lòng người nhanh hơn văn, chỉ thua thơ.

Nhạc sến. Chữ ‘sến”, nghĩa trong tự điển là "lãng mạn quá độ, ủy mị, sướt mướt. (Wiktionary.) Nhạc sến phải có ca từ ướt át, bình dân, thì mới sến. Nội dung thành thật và nhiều cảm xúc thì mới gần gũi với sến.

Nhạc sến thường thể hiện trong điệu Bolero hoặc Tango Habanera với nhịp chậm và nhạc khí thường tấu lên với giọng rền rĩ.

Một trong số những nhạc sến kể những câu chuyện thú vị, đầy đủ cốt truyện, nhiều chi tiết bắt mắt, có khả năng ở lại trong trí nhớ để thỉnh thoảng hồi tưởng hoặc bất chợt nghe được bài ca quen thuộc từ đâu đó, chúng ta không thể không mỉm cười.

Đó là ca khúc “Bông Cỏ May” của Trúc Phương, sáng tác năm 1969. Giữa lúc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam leo thang khói lửa và hàng ngàn chàng trai lên đường bảo vệ quê hương.

bong co may 2bong co may 3
Bông cỏ May và người lính trẻ.

Nhân vật chính là một chàng thanh niên trong quá trình nhập ngũ, “Rồi đây mai ngày ai hỏi đến tên tôi / Bạn ơi ! hãy nói khoác chiến y rồi.“ Cùng những chàng trai đồng trang lứa, họ đi vào chiến trận, “có về là khi nước non vui bình yên.” (2) Và ước mơ đó không xảy ra.   

Ca từ chia làm ba đoạn, đúng theo cấu trúc truyền thống của bản nhạc. Đoạn mở, đoạn giữa tức là điệp khúc và đoạn kết.

Không khí câu chuyện có chút khôi hài pha lẫn chút mỉa mai. Bắt đầu với những chi tiết và hình ảnh hưng phấn rồi tan vào buồn bã nhớ nhung. Nhân vật nữ là nhân vật phụ. Cô ấy chỉ ở trong cỏ May, làm cho cỏ trở thành nệm gối, làm cho chuyện tình thực tế bùi ngùi thêm.

Câu chuyện bắt đầu với nhân vật chính nhớ lại, thời gian thân ái trước khi dạn dày binh lửa: “Những ngày chưa nhập ngũ, / Anh hay dắt em về vùng ngoại ô có cỏ bông may. / Ở đây êm vắng thưa người, còn ta với trời, / Thời gian vào đêm, rừng sao là nến, khói sương giăng lối cỏ quen.

Tóc mây thơm mùi cỏ, / Đưa anh thoát xa dần vùng trần gian, / với những ưu tư, / Cỏ may đan dấu chân tròn, / Đường đi bước mòn, /Sợ khi người đi để thương, để nhớ /Tiếng yêu đương ai nỡ chối từ.”

Ở Việt Nam thời đó, trong nhà thì đông người, ngoài sân thì hàng xóm theo dõi, khách sạn thì đắt tiền, còn có chỗ nào hẹn hò riêng tư thoải mái hơn một bãi cỏ may ở vùng ngoại ô vắng vẻ, ít người qua lại?

Đêm đến đưa nhau vào khách sạn ngàn sao tình tự. Cỏ thành nệm lót, cỏ thành màn che. Cả hai đều hiểu rằng “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, xưa nay ra trận thương vong bất chợt, mấy ai hẹn trở về? Đam mê, nồng nàng, sợ rằng người đi sẽ tan vào thương nhớ, tiếng năn nỉ yêu đương ai nở chối từ. Tâm trạng hết sức thực tế. Tâm lý hết tận lòng yêu.

Câu: “Cỏ may đan dấu chân tròn, Đường đi bước mòn …” Phải chăng ngụ ý họ đã hẹn hò nơi đây nhiều lần? Bước chân tròn là đi vòng trở lại và nhiều lần khiến cho cỏ rạp xuống?

Rồi chàng lao mình vào chiến trận. Chiến tranh càng khốc liệt, tình yêu càng mạnh mẽ, thôi thúc ngày về phép, ngày trở về không phải quay lại nơi bom đạn. Hay trở về trên đôi nạng gỗ. Hay trở về theo viên đạn đồng đen. Hay trở về trong hòm gỗ cài hoa. (3)

Người lính tâm sự: “Đường hành quân, nắng cháy da người, / Tuổi vui thiếu vui, vẫn thương mình thương đời. Nhiều khi trong giấc mộng một hồi kêu tên em, / kêu chỉ một tên…” Cụm từ “Tuổi vui thiếu vui” nghe ra ngậm ngùi, cay xót cho thân phận tuổi trẻ. Cụm từ “kêu chỉ một tên…”, theo như tôi biết xã hội loạn ly và những trái tim không biết khi nào ngừng đập, thì cụm từ này khó ai bảo đảm.

Người lính đó lo âu, kêu tên người yêu chưa hẳn là đê mê trong giấc mơ tình, mà có lẽ, buồn sợ nhiều hơn trong cơn ác mộng. Bất kỳ người lính chiến nào cũng không dám hứa hẹn một ngày về, cùng người yêu chung sống bạc đầu, thì rất ít thiếu nữ dám hứa hẹn chờ anh suốt kiếp.

Điểm thú vị nhất của ca khúc này là những ca từ trong đoạn kết. Nói lên nỗi lòng bộc bạch, thành thật, lo lắng, ghen tương và nhẹ nhàng một chút mỉa mai cho chuyện bội bạc thường tình của nhân gian. “Những ngày anh đi khỏi / Xin em chớ đi lại vùng tình yêu lắm bẫy nhân gian, / Để đêm khói thuốc tay vàng, tìm nhau thấy gần. / Ngủ trên cỏ may, thường khi vào tối, / nhớ hương may, nhớ cả người...”

Cỏ may tuy mượt mà nhưng có hoa nhỏ li ti và nhọn như mũi kim. “Ngủ trên cỏ may” có thể, dường như, là một thú đau thương?

Đánh giá Bông cỏ may.

Nhạc Bolero thường thường có phong cách viết nhạc giống nhau, luyến láy giống nhau, thường xuyên lập lại của nhau, giống như nhạc Country của Mỹ. Xét về phần ca từ, là một câu chuyện hay tạo ra niềm vui, nỗi buồn chỉ trong vòng ba phút.

Tổng thể bài văn tuy ngắn gọn nhưng nhất quán. Câu chuyện vừa đủ, xúc tích và cho phép người nghe, người đọc tưởng tượng dọc theo bối cảnh xảy ra. Có một kết cuộc vừa khôi hài vừa cay đắng, đáng nhớ.

Nếu bạn đọc không phải là người lính hồi hộp vì người yêu, anh e sợ nàng sẽ mắc bẫy nhân gian, có lẽ bạn sẽ cười, thích thú câu chuyện khôi hài, thậm chí cổ võ khen hay.

Nhưng nếu bạn là người lính đó, được trở về chung sống với người yêu, dù đời sống thăng trầm, gian khổ ra sao về sau, bạn đã là người nhận lãnh một hồng ân lớn lao, xứng đáng một đời người.

Nếu bạn là người lính không may mắn, khi trở về thường hiu hắt bên ca khúc “Tôi đưa em sang sông” thì xin bạn đọc bốn câu thơ này:

‘Yêu nhau cởi áo cho nhau.’
Bây giờ áo cũ đã vào tay ai?
Xót xa yêu ngắn tình dài
Bao năm rồi vẫn cỏ may đau lòng.”
 
Ghi:
(1)  Xuân này con không về, ca khúc của Trịnh Lâm Ngân.
(2)  Biệt kinh kỳ của Minh Kỳ
(3)  Ý của ca khúc Kỷ Vật Cho Em, Phạm Duy.
(4)  ‘…’ Mượn ca dao.

Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) trân trọng thông báo lịch chiếu phim của Viet Film Fest, và vé đã bắt đầu bán. Là liên hoan phim quốc tế lớn nhất tại hải ngoại chú trọng đến các phim mang chủ đề về con người và văn hoá Việt Nam, Viet Film Fest 2026 sẽ kéo dài chương trình chiếu phim lên 4 ngày, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 10 tại rạp Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, Ste. 100, thành phố Santa Ana; tiếp nối là chương trình chiếu phim online từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 10. Năm nay, số phim gửi về tham dự đạt kỷ lục với 20 phim dài và 45 phim ngắn. Viet Film Fest 2026 sẽ giới thiệu các câu chuyện đến từ 13 quốc gia: Hoa Kỳ, Việt Nam, Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, và Đài Loan.
Phan Tấn Hải là một nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu Phật học, nhà thơ. Mười năm trước 2016, mười bài Thiền Ca của ông được nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ thành ca khúc in trong tập nhạc Hoa Bay Khắp Trời và CD Hoa Bay Khắp Trời với nhiều giọng ca. Trong buổi ra mắt tập nhạc và CD, tài tử Kiều Chinh đã nhận xét rằng cuộc hôn phối giữa thơ Phan Tấn Hải và nhạc Trần Chí Phúc là mối lương duyên đẹp. Những Phật Tử nghe 10 bài Thiền Ca mang âm hưởng nhẹ nhàng, một không khí sâu lắng trong tâm với những lời ca đậm nét Phật giáo.
Hình như khá lâu rồi, xã hội Mỹ mới có những ngày tháng chậm lại để cùng hoài tưởng về một nhân vật. Cảm giác như trên một chiếc bàn địa cầu, người ta đang quây quần với nhau để ôn lại những kỷ niệm về một tiếng hát trong vắt như sương sớm của đồng quê, một nụ cười sáng bừng lan tỏa đến những người bên cạnh, một nghệ sĩ đa tài, đa năng, một cuộc đời trọn vẹn ý nghĩa của sống và yêu. Cô Bé Trong Căn Nhà Gỗ Một Gian. Bà sinh vào tháng 1/1946, là người con thứ tư trong gia đình 12 chị em, trong một căn nhà gỗ một gian giữa dãy núi Smoky ở miền Đông Tennessee. Gia đình nghèo đến mức có khi phải trả công cho ông bác sĩ bằng bột bắp. Người mẹ xoay sở từng miếng vải để làm sao đủ ấm cho cả gia đình.
Tuy không có con số thống kê cụ thể, đề tài chiến tranh Việt Nam đã được khai thác dưới nhiều góc độ. Riêng trong lĩnh vực phim ảnh, đã có hơn một trăm dự án lớn nhỏ. Mời quý vị theo dõi cuộc trò chuyện với Phạm Văn Nam - nhà sản xuất phim tài liệu Vietnam War, Untold Stories - Chiến Tranh Việt Nam, Những Chuyện Chưa Kể - để hiểu rõ vì sao cuốn phim này nên có một chỗ đứng trang trọng qua những chi tiết được tường thuật sau hơn một nửa thế kỷ kể từ khi cuộc chiến chấm dứt.
Tối Thứ Bảy 22-8-2026 tại rạp hát Louis B. Mayer của Đại học Santa Clara University, kế cận thành phố San Jose California, 500 khán giả ngồi kín, yên lặng thưởng thức chương trình nhạc giao hưởng kỷ niệm 70 năm Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và cũng kỷ niệm 30 Năm Dàn Nhạc Thính Phòng Sài Gòn ở Thung Lũng Hoa Vàng San Jose. Dàn nhạc giao hưởng thính phòng Sài Gòn gồm những cựu học viên môn vĩ cầm, dương cầm, Tây ban cầm, kèn, sáo... của trường nhạc Sài Gòn năm xưa lưu lạc tới tận Mỹ Quốc và một vài nhạc sĩ Hoa Kỳ.
Nghệ sĩ Alison Nguyen sẽ trình chiếu tác phẩm điện ảnh mới Prior Occupants vào ngày 8 tháng 9 trên High Line, New York, trong một công trình do High Line và Quỹ Văn Hóa Chanel (Chanel Culture Fund) đặt thực hiện. Bộ phim tìm lại một lớp lịch sử ít được nhắc tới của Westbeth Artist Housing, khu nhà dành cho giới nghệ sĩ nằm gần công viên High Line ở phía tây Manhattan.
Nắng tháng tám Cali bắt đầu dịu lại mang theo vài con gió nhẹ se lạnh dịu dàng, báo hiệu một mùa thu bắt đầu ghé về. Chiều xuống, nhịp sống chậm dần, nhường chỗ cho cảm xúc lắng đọng, cho văn chương và một buổi ra mắt sách. Thứ Bảy ngày 8 tháng 8, năm 2026, vào lúc 3 giờ chiều tại Coffee Factory, Little Saigon, Nam Cali, US. Nhà Thơ Nguyễn Đức Tùng đã giới thiệu cùng các độc giả và bạn hữu một tác phẩm tiểu thuyết mới mang tên "Thuyền".
Khoa Hà hy vọng rằng hành trình đi tìm di sản văn hóa của bản thân mình không đơn độc. Còn nhiều bạn trẻ khác cũng thuộc các gia đình văn nghệ sĩ vang bóng một thời của Việt Nam. Cuốn phim tài liệu “Y Vân: The Lost Sounds of Saigon” có thể chỉ là dấu hiệu của một hành trình về nguồn chung lớn hơn.
Thuyết cho rằng Van Gogh chết vì bị sát hại (hay ngộ sát) lần đầu được nêu ra một cách nghiêm túc vào năm 2011, trong một cuốn tiểu sử công phu của hai nhà văn Mỹ, Steven Naifeh và Gregory White Smith. Trong cuốn "Van Gogh: The Life" (Van Gogh: Cuộc Đời), hai ông viết rằng Van Gogh bị bắn vào bụng ngày 27 tháng 7 năm 1890, do René Secrétan, một thiếu niên 16 tuổi đang nghỉ hè ở Auvers-sur-Oise, người thường chọc phá họa sĩ. Van Gogh lảo đảo về được tới quán trọ, và hai ngày sau chết vì vết thương. Hai tác giả xây dựng thuyết này dựa trên một cách diễn giải đầy tưởng tượng về một cuộc phỏng vấn Secrétan trả lời năm 1957, chỉ vài tháng trước khi ông qua đời.
Cách đây vừa tròn hai thập niên, nhân viên quan thuế biên phòng Pháp, trong một cuộc xét kiểm soát thường lệ, đã chặn giữ một chiếc xe toan vượt biên giới sang Thụy Sĩ. Trong xe, người ta khám phá ra nhiều họa phẩm chở lậu, không có giấy phép xuất cảnh, trong số đó có một bức tranh khắc của danh họa Nga Marc Chagall. Những kẻ chuyên chở lập tức bị bắt giữ và phạt vạ, còn các họa phẩm thì bị tịch thu. Kể từ đó, chúng bị bỏ quên trong kho quan thuế, chìm vào quên lãng, theo tường thuật của ký giả Adam Sage trên nhật báo Times of London
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.