Hôm nay,  

Con Ngựa “AI”

20/02/202600:00:00(Xem: 2638)
                                         
ngua AI
Hình ảnh ngựa trí tuệ nhân tạo trích từ hãng Kawasaki Heavy Industries
                                https://www.khi.co.jp/expo2025/concept01/index_en.html.
 
Tết năm nay, năm 2026 là Tết Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong tâm thức người Việt, mùa Xuân luôn là khởi đầu của những hy vọng.  Ngày xưa dân gian tin rằng năm Bính Ngọ là năm của ngựa lửa — chạy nhanh, tính nóng, khó ghìm cương. Vì thế ai sinh năm này thì lanh lợi, thẳng như ruột ngựa, làm gì cũng nhanh như gió, nói trước nghĩ sau.

Truyền thuyết kể rằng, vào năm Bính Ngọ, ngựa được Trời giao nhiệm vụ mang lộc Xuân xuống trần gian. Nhưng vì vừa khỏe vừa “máu”, ngựa phi quá nhanh, làm rơi lộc khắp nơi. Vì vậy năm Bính Ngọ được cho là năm nhiều biến động, ai nhanh trí thì biết nắm cơ hội đúng lúc, ai chậm chân thì mất.

Người Việt mình cũng tin rằng Bính Ngọ là năm mạnh mẽ, nhanh nhẹn, hợp với người khởi nghiệp, đi xa, làm việc lớn — nhưng phải biết thắng lại đúng lúc, nếu không thì ngựa sẽ bất kham, tiền bạc và may mắn đều sẽ tan theo mây gió.

Từ thời lập quốc, ngựa là một hình ảnh trung thành và khí phách, từng theo Trần Hưng Đạo và tướng sĩ ra trận, mang theo khí thế dân tộc, xông pha khắp núi sông, dẹp tan quân Mông Cổ. Ngựa đã chứng tỏ là chiến mã thân thiết nhất, từng chung lưng đấu cật với kỵ sĩ từ ngàn xưa đến nay.

Ngày còn thơ, ai mà không từng say mê đọc truyền thuyết ngựa sắt phun lửa bạc, cùng với Thánh Gióng làng Phù Đổng, gậy tre, vươn mình thành cao lớn, đánh đuổi giặc Ân ra khỏi biên giới, để rồi sau chiến thắng, cả ngựa và người cỡi mây bay về trời.

Mùa Xuân năm 1789, cuối thế kỷ thứ 18, những đội kỵ binh thần tốc của vua Quang Trung, 5 ngày đêm đại phá quân Thanh, những vó ngựa phi không mệt mỏi đã viết nên trang sử Ngọc Hồi – Đống Đa lừng lẫy. Ngựa còn được lãng mạn hóa, cùng người kỵ mã chạy mấy ngày đêm không nghỉ, đem cành đào Nguyễn Huệ về trao tận tay Ngọc Hân công chúa. Ngựa luôn là người bạn đồng cam cộng khổ, là nhân chứng cho khí phách quật cường của dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước kẻ xâm lăng phương Bắc.

Ngày nay, khoa học và công kỹ nghệ phát triển thần tốc, vậy tôi xin nói về loài ngựa AI. Đây là một loài ngựa nhân tạo với trí tuệ cực kỳ thông minh, biết suy nghĩ nhanh và hành động nhạy bén hơn con người. Hiện nay AI (Artificial Intelligence), Trí Tuệ Nhân Tạo, đang được cả thế giới chú ý và trở thành đề tài cực kỳ nóng: biết bao công ty đã cho ra đời đủ loại AI phục vụ cho con người, nhất là trong lĩnh vực cứu nạn và khám phá, đến được những vùng núi non hiểm trở mà các phương tiện cơ giới không đến được.

Hãng Kawasaki Heavy Industries của Nhật Bản chế tạo con ngựa AI, được đặt tên Corleo. Đây là con ngựa sắt hoàn hảo hơn tất cả các con ngựa khác được chế tạo hiện nay. Có nhiều phiên bản ngựa AI được làm ra, nhưng Corleo là con ngựa đáng được nói đến vì những đặc tính tuyệt vời của nó.

Ngua-AI-2

              Hình ảnh ngựa trí tuệ nhân tạo trích từ hãng Kawasaki Heavy Industries

                                https://www.khi.co.jp/expo2025/concept01/index_en.html.

 
Trong ngày hội chợ tại Expo Osaka-Kansai năm 2025, hãng Kawasaki Heavy Industries trưng bày ngựa Corleo như một mô hình mẫu (Concept), chưa được sản xuất hàng loạt, chỉ như một viễn kiến để con người có thể thấy được thú cỡi ngựa robot với một cảm giác như cỡi ngựa thật.

Ngựa Corleo là con ngựa tương lai được làm bằng hợp kim Titan và hệ thống cảm biến LIDAR-360, dài 1.7 m, cao 1.6 m, con người có thể cỡi lên lưng, đi và chạy bằng 4 chân như ngựa thật. Nó có trí thông minh nhân tạo để giữ thăng bằng, đi chậm rãi bình thường hay sải bước nhanh trên những địa hình khó khăn như đồi núi, thung lũng, hoặc bất cứ nơi đâu.

Corleo chạy bằng nhiên liệu Hydrogen sạch, chứa trong bình, gắn phía sau. Động cơ 150cc tạo ra điện, truyền đến 4 chân độc lập với nhau và 4 móng chân bằng cao su chống trơn trợt (Slip-resistant Traction), có gắn thêm hệ thống nhún (Shock Absorb) tạo cảm giác êm ái như ngồi xe hơi. Nhờ những cảm biến (Sensors) tinh vi, Corleo có thể đi lại trên sườn dốc, đường sỏi đá, hay cánh đồng cỏ mượt mà xanh tươi, nó giúp cho người cỡi hưởng cái thú cỡi ngựa như thật, nhưng an toàn hơn.

Người cỡi sẽ không có chân đạp gas hay chân thắng như xe hơi vì Corleo có thể cảm nhận được sức nặng người cỡi để tự điều chỉnh thăng bằng. Thay vì tay lái, sẽ là một tay cầm có màn hình hiển thị (HUD) lên mức nhiên liệu, GPS, trọng lực nằm ở đâu, và tất cả thông số cần thiết về tình trạng Corleo như trên xe hơi. Đặc biệt về đêm, nó có thể chiếu ra một tia sáng đủ để soi đường cho kỵ mã. Chỉ có điều hãng Kawasaki chưa tiết lộ giá bán, trọng lượng, tốc độ và thời gian Corleo chạy được bao lâu. Hy vọng trong tương lai, con ngựa AI sẽ đem lại thêm nhiều sáng tạo giúp ích cho con người.

Nhìn lại năm qua, chiến tranh, loạn lạc, những cuộc nổi dậy chống độc tài vẫn còn đè nặng lên nhân loại gây ra quá nhiều lầm than; hy vọng năm Bính Ngọ sẽ là năm vừa hên lại vừa mệt — ai cầm cương hay thì thắng lớn, ai buông tay thì … ngựa đi đằng ngựa, người đi đằng người. Mong rằng nhân loại cũng sẽ mạnh mẽ và bền bỉ như ngựa, đi qua trong chiến tranh và dừng lại trong hòa bình.

Xin chúc dân Việt, trong năm Bính Ngọ, vó ngựa hanh thông, tâm vững như cương, trí sáng như lửa, người Việt an lành, nước Việt bền mạnh, nhà nhà đầy đủ, lòng lòng vững tin.

Tết năm Bính Ngọ. 2026
NGUYỄN VĂN TỚI.
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.