Hôm nay,  

Bạn và thù

27/02/202600:00:00(Xem: 3086)

tranh minh họa
Một cảnh minh họa trong truyện ngụ ngôn ‘Con gấu và người làm vườn’ của La Fontaine.
 
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi.
 
Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
 
Ác ôn thật. Vì những ‘cuộc trao đổi’ này có thể đưa đến sứt mẻ tình cảm. Có thể mất bạn dễ dàng. Bạn nghĩ ta dại, ta nghĩ bạn cuồng. Thế là đường ai nấy đi. Nếu phải đi cùng đường thì người nhìn bên trái, người nhìn bên phải. Ngượng nghịu, khó chịu quá, phải không? Nếu bạn trở thành thù, thì lại càng đáng tiếc hơn nữa.
 
Nói chuyện bạn và thù, tôi nhớ đến truyện ngụ ngôn ‘Con gấu và người làm vườn’ của La Fontaine. Trong truyện, con gấu cầm hòn đá to đập vào mặt bạn của nó— người làm vườn— để giết con ruồi đang đậu trên mặt người này. Thành công mỹ mãn. Ruồi nào sống nổi dưới cục đá và bàn tay khổng lồ của gấu?! Chính người làm vườn còn vỡ mặt chết trong giấc ngủ kìa! Bài học rút ra: Không có gì nguy hiểm bằng một người bạn dại dột. Bạn loại này còn nguy hiểm hơn kẻ thù khôn ngoan nữa.
 
Ông La Fontaine đúng là bậc khôn ngoan. Dường như từ mấy trăm năm trước ông đã nhìn thấy các nan đề nước Mỹ sẽ trải qua vào thời điểm này: di dân bất hợp pháp, tội phạm, nghiện ngập... Dường như nhiều con ruồi đang tìm cách đáp vào mặt đất nước siêu việt này. Dường như nước Mỹ cần một vị cứu tinh. Một người mạnh tay, mạnh miệng!
 
Nhưng bao giờ vị cứu tinh mới được sai đến? Hiện giờ cây vẫn xanh, rừng vẫn yên tĩnh. Lá cờ Mỹ vẫn bay ngạo nghễ. Trái tim mệt mỏi, có phải nước Mỹ đang ngủ giấc ngủ trưa? Và để giải quyết các chuyện ruồi bu, một người bạn cũng là tạm đủ?
 
Người bạn như thế nào mới phục vụ nước Mỹ hữu hiệu, xin ông La Fontaine vui lòng giúp ý cho. Nhưng trước hết, xin đừng khuyên nước Mỹ nhìn lại bài học “Con gấu và người làm vườn.” Gấu có ý tốt, người làm vườn chết trong giấc ngủ. Gấu mà không có ý tốt thì ông ta chết chẳng được toàn thây. Khi đó bạn chính là thù, kinh khủng quá!
 
Ông La Fontaine, thế giới này có lẽ khác hẳn thế giới ông đã sống. Tiến bộ mọi mặt đã xảy ra. Có lẽ ông đang sững sờ trước vẻ đẹp muôn màu và sự thăng hoa của nó. Có lẽ ông cần thời gian nghiên cứu trước khi đưa ra lời cố vấn thích hợp hoặc một truyện ngụ ngôn mới. Nhưng trong khi chờ đợi, có thể nào ông có lời khuyên nhỏ cho cá nhân tôi? Như nhiều người, tôi cũng bị những sợi tơ trắng bám vào nhưng vẫn lờ mờ chưa biết làm thế nào đối phó. Cứ bình thản, tin chúng sẽ được cuốn theo chiều gió? Hay cố giật chúng ra và làm rách áo mình? Và nếu đã chọn cách đối phó organic/tự nhiên thì phải làm gì để giảm huyết áp?
 
Những gì đang xảy ra ở nước Mỹ dĩ nhiên làm dân láng giềng lưu tâm. Nhiều người Việt ở Canada chia sẻ tâm tình người dân Mỹ. Họ bực dọc với những gì xảy ra… bên kia biên giới. Họ là di dân nhưng lại bất mãn di dân, có lẽ vì tin di dân có nhiều đẳng cấp khác nhau. Không đội nón MAGA, nhưng họ đã ước mong nước Mỹ có được vị cứu tinh. Một người mạnh tay, mạnh miệng.
 
Nhưng lạ lùng thay, khi cái tay dài ngoằng vươn ra, cái miệng mạnh mẽ phát ra những lời ‘chân thật’, họ mở mắt tức thì. Chạy một mạch ra khỏi rừng, họ đóng chặt cửa nhà mình. Tình bạn là một cái gì rất mong manh trong ‘kỷ nguyên mới’ này. Lo việc nhà thay vì ‘việc ruồi bu’ xứ khác. Đó là bài học cho họ, tôi đoán vậy.
 
Bài học tự khám phá có lẽ sẽ được nhớ lâu. Thế nhưng tôi chưa tìm ra bài học cho mình. Cứ chờ những sợi tơ trắng ra đi một cách tự nhiên hay đưa tay gỡ chúng? Hỏi tức là trả lời, người ta hay nói. Trong khi chờ đợi lời khuyên của ông, có lẽ tôi nên gỡ những mũi tên bồ công anh sờ sờ trước mặt. Chỉ một vài cử chỉ nhẹ nhàng, biết đâu cũng đỡ xốn xang.
 
KC Nguyễn

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.