Hôm nay,  

Bạn Tôi Thời Bao Cấp

17/04/202600:00:00(Xem: 1816)
 
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên.  Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi.

Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán.
 
Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên.
 
Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".

Vào ngày tang thương 30/4/ 1975 bà "Đề Pô" tử nạn vì bị lạc đạn chẳng biết của phe nào, tiền bạc gửi trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín bị chính quyền mới tịch thu, nước mất nhà tan. Sau đó bố Vân Ù nghe theo lời dụ dỗ (kèm theo đe dọa) của mấy cán bộ phường, đưa hai con trai lớn đi vùng kinh tế mới, Vân Ù còn người chị bán xe nước mía ở cổng chợ ngoài ngã tư và hai đứa em trai. Họ sống đạm bạc từng ngày. Có lần tôi thấy Vân Ù ăn cơm với rau lang chấm chao có vẻ ngon lành, nó mời tôi ăn thử nhưng tôi không dám ăn vì không chịu nổi mùi chao.
 
Nhà Liên thì khá hơn hẳn, mẹ nó có một sạp bán cá ở chợ Hạnh Thông Tây, một mình bà ngồi "quản lý" 3 chậu cá to tướng và luôn tay làm cá theo yêu cầu của khách hàng. Nói theo kiểu bây giờ thì mẹ Liên là "đại gia bán cá", thời buổi bao cấp mà nhà Liên thường xuyên ăn những món có cá ngon như cá thu sốt cà, chả cá thác lác, cá lóc kho tộ, có đôi lần bán cá còn dư, mẹ Liên cho bốn đứa chúng tôi ăn cháo cá, ngon lắm!

Miền Nam bị “giải phóng” khi chúng tôi 9 tuổi, chính quyền mới kiểm soát người dân bằng “hộ khẩu” mà dân mình hay gọi là “hậu khổ” và mạng lưới  “tổ dân phố”. Thời gian đầu, người ta còn chịu khó đi họp tổ dân phố hàng tháng, rồi sau đó ai cũng …ngán, phần vì phải lo cơm áo gạo tiền thời bao cấp, và phần lớn chẳng ai còn tin vào những “đường lối chủ trương” của nhà nước, nên thỉnh thoảng ba kêu tôi thay mặt “chủ hộ” đi họp vì lúc ấy, sau mấy năm đeo “khăn quàng đỏ” đi sinh hoạt Đội, tôi đã học lớp 7, cũng đủ cao lớn. Nhà thằng Thức, con Vân Ù, con Liên cũng được cha mẹ nó “cử” đi họp. Thế là mỗi khi có họp tổ dân phố là chúng tôi thích lắm, vừa được việc cho nhà mình vừa được dịp ngồi nghe chòm xóm tán dóc. Thức là đứa hiền lành, siêng học, đi họp lúc nào mang theo cuốn vở để học bài, còn tôi, Liên và Vân Ù đi họp tay không để còn rảnh…hóng chuyện xung quanh.

Bốn đứa chúng tôi, cũng như mọi người, hễ ai giơ tay “nhất trí” điều gì thì cũng nhanh tay “đồng ý” lẹ lắm, dù chẳng biết người ta đang “nhất trí” chuyện gì! Chàng công an khu vực cười sung sướng viết vào biên bản, báo cáo buổi họp “thành công rực rỡ” trong khi mọi người chỉ mong mau kết thúc buổi họp. Vân Ù thì thầm vào tai tôi:
 
-        Tối nay có kịch Lá Sầu Riêng, họp xong tụi mình chạy nhanh về xem tivi cho kịp.
 
Mà nhà nó làm gì còn tivi (vì đã bán hết tivi, tủ lạnh để tiếp tế cho ba và hai anh nó cầm cự trên vùng kinh tế mới nước độc rừng thiêng), nên nó phải xem ké tivi nhà tôi đấy chớ. Trong xóm, cứ tối thứ năm có phim và tối thứ bảy có kịch hoặc cải lương, là lũ trẻ con (và cả mấy bà mấy cô người lớn) kéo nhau đến các nhà có tivi luôn mở rộng cửa đón chòm xóm vào xem, niềm giải trí đơn sơ hạnh phúc của mọi người sau một ngày vất vả chuyện áo cơm.
 
Ngoài chuyện đi họp tổ dân phố, chúng tôi còn "đảm đang" đi xếp hàng mua gạo, mua nhu yếu phẩm, mua chất đốt dầu hôi, những cửa hàng này chẳng cách nhà bao xa. Gọi là "mua gạo" nhưng gạo thì ít, mà còn có chất độn thêm, là bột mì, mì sợi, khoai lang, khoai mì, các hộ dân mua về chế biến theo cách của mình. Thế là nhà nhà nấu bánh canh, mì sợi hấp cơm ăn với nước mắm chua ngọt hoặc đem mì xào với giá hẹ cũng ngon, còn khoai lang khoai mì luộc, nếu ngán thì đem làm bánh đổi khẩu vị. Gạo hoặc nhu yếu phẩm mua xong thì để lên yên sau xe đạp, dắt bộ về nhà. Ở cửa hàng nào cũng phải “Xếp Hàng Cả Ngày” chờ đợi, ai sốt ruột nhưng bốn đứa chúng tôi thì không, cứ thong thả nói chuyện cho tới khi tới lượt mua hàng.
 
Một hôm Vân Ù phát giác ra một tin vui chạy qua nhà tôi, đưa tôi miếng bánh mì còn nóng:
- Ăn đi, ngon lắm!
- Mày mua ở đâu hả?
- Đâu có, tổ lương thực kỳ này bán bột mì nhiều quá, chị tao đem đổi bên lò bánh mì, tụi bay muốn đi đổi bánh mì không?
- Ừ, để tao chạy qua rủ Liên và Thức.
- Tao đã đến nhà Liên, mẹ nó nói nó bị nhức răng không đi được.
Tôi và Thức về nhà xin phép người lớn, rồi mỗi đứa xách một bọc bột mì theo Vân Ù, ba đứa hai chiếc xe đạp rộn ràng tiến thẳng đến lò bánh xứ Hợp An, Xóm Mới, đổi được những ổ bánh mì mới ra lò thơm phức.
Cả đám lại vui vẻ đạp xe về, nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi bàn chuyện… ăn bánh mì. Thức nói:

- Sáng mai chiên quả trứng kẹp vào bánh mì ăn là tuyệt vời.

Vân Ù hớn hở:

- Tao thích ăn bánh mì với chuối.

Tôi khai thiệt:

- Chị tao mới làm thức ăn đi thăm nuôi chồng “cải tạo”, còn chừa lại ít thịt chà bông, ăn với bánh mì rắc chút tiêu là hết sẩy.

Vậy đó, niềm vui tuổi niên thiếu của chúng tôi dễ thương hồn nhiên biết bao.
 
Rồi chúng tôi không thấy Liên chơi trong xóm nữa, hỏi thì mẹ nó nói nó về khu Ông Tạ nhà bác nó để… nghỉ hè, và một tháng sau trong xóm đồn ầm ĩ chuyện Liên và ba nó vượt biên tới đảo, tụi tôi rủ nhau đến xem hình. Những tấm hình Liên đứng bên bờ biển Bidong, Malaysia rạng rỡ, mẹ Liên bảo trong thư gửi về nó có hỏi thăm bạn bè, khiến chúng tôi chạnh lòng, khát khao một chuyến đi xa, đổi đời nơi đất nước mới. Hai tháng sau, anh Năm của tôi cũng vượt thoát đến Songkhla, Thailand. Vân Ù và Thức nói với tôi:

-  Vậy là mày sướng rồi, sắp được lãnh đồ Mỹ!
-  Tao hứa, khi nào có đồ Mỹ, có sô- cô- la, tao sẽ chia cho tụi bay nếm thử.

Vài năm sau đó, tôi và Thức vào lớp 10, nhưng mỗi đứa một trường khác nhau, còn Vân Ù phải nghỉ học phụ chị nó buôn bán ưu tiên cho hai đứa em tiếp tục ăn học. Bố và mấy anh nó tơi tả rách rưới trở về từ kinh tế mới, hai người anh phải cấp tốc đạp xích lô kiếm tiền, bố bị bệnh suy dinh dưỡng, Vân Ù càng đảm đang chuyện gia đình, chúng tôi ít còn dịp gặp nhau như trước nữa.
Bữa đó tôi đi qua chợ, Vân Ù kéo tôi vào, bí mật:

-  Mày có biết chuyện thằng Thức đi vượt biên hai tháng nay vẫn chưa có tin tức gì chưa?
-  Tao cũng mới nghe ba tao kể, buồn và thương Thức quá Vân ơi.

Lúc này, phong trào vượt biên rầm rộ, gia đình tôi may mắn có thêm một anh trai nữa đến đảo, và tôi sống trong tâm trạng “thân nơi này nhưng tâm trí mơ tưởng… bên kia bờ đại dương” vì tôi biết tôi sẽ là người trong gia đình được kế tiếp “lên đường” khi có chuyến vượt biên, nay nghe tin Thức như vậy, lòng tôi xốn xang và buồn vô tả.

Trong xóm cũng có vài người vượt thoát, nhưng cũng có những người “đi không đến nơi về không đến chốn” như thằng Thức của chúng tôi và sau này có thêm nhỏ bạn thân cấp ba nữa, tôi sẽ kể vào một dịp khác. Điều đau đớn nhứt, là đến nay vẫn không ai biết những con tàu đó ra sao, nên cứ xem như họ đã bỏ xác ngoài biển đông và người nhà lấy ngày ra khơi để làm giỗ.

Cuộc sống vẫn phải tiếp tục, tôi học xong cấp 3, vào Sư Phạm rồi ra trường đi dạy, bận rộn với công việc mới, bạn bè mới, hầu như không còn thời gian cho bạn bè trong xóm, chỉ thỉnh thoảng có dịp đi qua chợ, tôi và Vân Ù nhìn thấy nhau, mỉm cười rồi thôi, tôi lại tiếp tục đi làm, nó lại miệt mài với xe nước mía, nay có bán thêm món chè đá đậu.

Sau hai lần vượt biên không thành, tôi cũng đến trại tỵ nạn Thailand cuối năm 1989, bỏ lại quê hương và xóm nhỏ với nhiều kỷ niệm từng làm tôi thao thức những đêm khó ngủ nơi trại tạm dung. Tôi đã có những buổi chiều lang thang trong trại Panatnikhom với nhiều nhung nhớ:

CHIỀU PANATNIKHOM
 
Có những buổi chiều Panatnikhom
Tôi lang thang nhìn theo làn mây trắng
Thương những con thuyền trôi trên biển vắng
Phiêu bạt nơi nao chưa thấy bến bờ?
 
Kìa gió, kìa mây sao quá hững hờ
Có ghé qua đảo Kra, đảo hải tặc?
Bao cô gái Việt Nam đang bất hạnh
Trong thú vui thể xác của lũ điên cuồng
 
Và đảo Klong-Yai tang tóc, u buồn
Lương tâm con người vẫn còn lạ lẫm
Khi đồng loại tìm tự do, cùng quẫn
Vượt đại dương bất chấp những hiểm nguy
 
Đất Thái bao la cũng rất từ bi
Banthad, Songkhla, Sikiew, Panat…
Mở rộng vòng tay với tình ấm áp
Sưởi tâm hồn những kẻ sống tha phương
 
Nên những chiều Panat thật thân thương
Để bâng quơ dịu dàng với nỗi nhớ
Nhớ quê nhà nghìn trùng xa cách trở
Nhớ gia đình, nhớ những bạn bè thân
 
Nên những chiều Panat thật bâng khuâng
Niềm vui, nỗi buồn đan xen bối rối
Tương lai phía trước mở đường đưa lối
Còn sau lưng những hờn tủi vô biên
 
Những buổi chiều ấy chẳng thể nào quên
Dưỡng nuôi tôi một đoạn đời tuổi trẻ
Tôi lớn lên trong lịch sử dâu bể
Ngậm ngùi vết thương xa Tổ Quốc, lưu vong
 
Những buổi chiều xưa vẫn ở trong lòng
Tháng Tư về, lại bồi hồi trông ngóng
Biển Đông mênh mông một thời dậy sóng
Của những thuyền nhân khao khát tự do!
(KimLoan)
 
………
 
Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, mỗi mùa Tháng Tư Đen trở về, tôi lại bồi hồi nhớ những ngày tháng ấy, xóm cũ, bạn bè cũ tản mác khắp nơi, chỉ có vài đứa còn ở lại xóm, trong đó có Vân Ù. Nó lấy chồng muộn màng, tuổi lớn khó sinh con, mãi mới được đứa con gái năm nay được hơn hai mươi tuổi, cũng mang “gen” của mẹ nên cũng hơi “Ù”. Tôi cũng đã tìm được Liên trên facebook, nó vẫn ở Florida từ trước đến nay, đã ly dị chồng hơn chục năm, hiện ở một mình vì con cái đã ở riêng. Niềm vui của nó là đi Chùa, đi du lịch và làm việc từ thiện đó đây sau khi quyết định nghỉ hưu sớm.

Và tôi lại ước ao, nếu có kiếp sau, chúng tôi vẫn sinh ra là người Việt Nam, nhưng không có Cộng Sản, đất nước tự do thanh bình, để Vân Ù không phải vất vả, dở dang đường học vấn, để Thức không phải bỏ xác nơi biển sâu nước lạnh, để tôi và Liên không phải sống tha hương. Chúng tôi, cùng đám bạn bè trong xóm sẽ cùng nhau trưởng thành, cuộc sống an lạc bình thường, vui buồn trên quê hương thân yêu.

Giấc mơ đẹp quá. Tôi bừng tỉnh dậy, tiếc nuối bâng khuâng!

Edmonton, Tháng4/2026
KIM LOAN

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.