Hôm nay,  

Bạn Tôi Thời Bao Cấp

17/04/202600:00:00(Xem: 1491)
 
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên.  Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi.

Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán.
 
Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên.
 
Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".

Vào ngày tang thương 30/4/ 1975 bà "Đề Pô" tử nạn vì bị lạc đạn chẳng biết của phe nào, tiền bạc gửi trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín bị chính quyền mới tịch thu, nước mất nhà tan. Sau đó bố Vân Ù nghe theo lời dụ dỗ (kèm theo đe dọa) của mấy cán bộ phường, đưa hai con trai lớn đi vùng kinh tế mới, Vân Ù còn người chị bán xe nước mía ở cổng chợ ngoài ngã tư và hai đứa em trai. Họ sống đạm bạc từng ngày. Có lần tôi thấy Vân Ù ăn cơm với rau lang chấm chao có vẻ ngon lành, nó mời tôi ăn thử nhưng tôi không dám ăn vì không chịu nổi mùi chao.
 
Nhà Liên thì khá hơn hẳn, mẹ nó có một sạp bán cá ở chợ Hạnh Thông Tây, một mình bà ngồi "quản lý" 3 chậu cá to tướng và luôn tay làm cá theo yêu cầu của khách hàng. Nói theo kiểu bây giờ thì mẹ Liên là "đại gia bán cá", thời buổi bao cấp mà nhà Liên thường xuyên ăn những món có cá ngon như cá thu sốt cà, chả cá thác lác, cá lóc kho tộ, có đôi lần bán cá còn dư, mẹ Liên cho bốn đứa chúng tôi ăn cháo cá, ngon lắm!

Miền Nam bị “giải phóng” khi chúng tôi 9 tuổi, chính quyền mới kiểm soát người dân bằng “hộ khẩu” mà dân mình hay gọi là “hậu khổ” và mạng lưới  “tổ dân phố”. Thời gian đầu, người ta còn chịu khó đi họp tổ dân phố hàng tháng, rồi sau đó ai cũng …ngán, phần vì phải lo cơm áo gạo tiền thời bao cấp, và phần lớn chẳng ai còn tin vào những “đường lối chủ trương” của nhà nước, nên thỉnh thoảng ba kêu tôi thay mặt “chủ hộ” đi họp vì lúc ấy, sau mấy năm đeo “khăn quàng đỏ” đi sinh hoạt Đội, tôi đã học lớp 7, cũng đủ cao lớn. Nhà thằng Thức, con Vân Ù, con Liên cũng được cha mẹ nó “cử” đi họp. Thế là mỗi khi có họp tổ dân phố là chúng tôi thích lắm, vừa được việc cho nhà mình vừa được dịp ngồi nghe chòm xóm tán dóc. Thức là đứa hiền lành, siêng học, đi họp lúc nào mang theo cuốn vở để học bài, còn tôi, Liên và Vân Ù đi họp tay không để còn rảnh…hóng chuyện xung quanh.

Bốn đứa chúng tôi, cũng như mọi người, hễ ai giơ tay “nhất trí” điều gì thì cũng nhanh tay “đồng ý” lẹ lắm, dù chẳng biết người ta đang “nhất trí” chuyện gì! Chàng công an khu vực cười sung sướng viết vào biên bản, báo cáo buổi họp “thành công rực rỡ” trong khi mọi người chỉ mong mau kết thúc buổi họp. Vân Ù thì thầm vào tai tôi:
 
-        Tối nay có kịch Lá Sầu Riêng, họp xong tụi mình chạy nhanh về xem tivi cho kịp.
 
Mà nhà nó làm gì còn tivi (vì đã bán hết tivi, tủ lạnh để tiếp tế cho ba và hai anh nó cầm cự trên vùng kinh tế mới nước độc rừng thiêng), nên nó phải xem ké tivi nhà tôi đấy chớ. Trong xóm, cứ tối thứ năm có phim và tối thứ bảy có kịch hoặc cải lương, là lũ trẻ con (và cả mấy bà mấy cô người lớn) kéo nhau đến các nhà có tivi luôn mở rộng cửa đón chòm xóm vào xem, niềm giải trí đơn sơ hạnh phúc của mọi người sau một ngày vất vả chuyện áo cơm.
 
Ngoài chuyện đi họp tổ dân phố, chúng tôi còn "đảm đang" đi xếp hàng mua gạo, mua nhu yếu phẩm, mua chất đốt dầu hôi, những cửa hàng này chẳng cách nhà bao xa. Gọi là "mua gạo" nhưng gạo thì ít, mà còn có chất độn thêm, là bột mì, mì sợi, khoai lang, khoai mì, các hộ dân mua về chế biến theo cách của mình. Thế là nhà nhà nấu bánh canh, mì sợi hấp cơm ăn với nước mắm chua ngọt hoặc đem mì xào với giá hẹ cũng ngon, còn khoai lang khoai mì luộc, nếu ngán thì đem làm bánh đổi khẩu vị. Gạo hoặc nhu yếu phẩm mua xong thì để lên yên sau xe đạp, dắt bộ về nhà. Ở cửa hàng nào cũng phải “Xếp Hàng Cả Ngày” chờ đợi, ai sốt ruột nhưng bốn đứa chúng tôi thì không, cứ thong thả nói chuyện cho tới khi tới lượt mua hàng.
 
Một hôm Vân Ù phát giác ra một tin vui chạy qua nhà tôi, đưa tôi miếng bánh mì còn nóng:
- Ăn đi, ngon lắm!
- Mày mua ở đâu hả?
- Đâu có, tổ lương thực kỳ này bán bột mì nhiều quá, chị tao đem đổi bên lò bánh mì, tụi bay muốn đi đổi bánh mì không?
- Ừ, để tao chạy qua rủ Liên và Thức.
- Tao đã đến nhà Liên, mẹ nó nói nó bị nhức răng không đi được.
Tôi và Thức về nhà xin phép người lớn, rồi mỗi đứa xách một bọc bột mì theo Vân Ù, ba đứa hai chiếc xe đạp rộn ràng tiến thẳng đến lò bánh xứ Hợp An, Xóm Mới, đổi được những ổ bánh mì mới ra lò thơm phức.
Cả đám lại vui vẻ đạp xe về, nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi bàn chuyện… ăn bánh mì. Thức nói:

- Sáng mai chiên quả trứng kẹp vào bánh mì ăn là tuyệt vời.

Vân Ù hớn hở:

- Tao thích ăn bánh mì với chuối.

Tôi khai thiệt:

- Chị tao mới làm thức ăn đi thăm nuôi chồng “cải tạo”, còn chừa lại ít thịt chà bông, ăn với bánh mì rắc chút tiêu là hết sẩy.

Vậy đó, niềm vui tuổi niên thiếu của chúng tôi dễ thương hồn nhiên biết bao.
 
Rồi chúng tôi không thấy Liên chơi trong xóm nữa, hỏi thì mẹ nó nói nó về khu Ông Tạ nhà bác nó để… nghỉ hè, và một tháng sau trong xóm đồn ầm ĩ chuyện Liên và ba nó vượt biên tới đảo, tụi tôi rủ nhau đến xem hình. Những tấm hình Liên đứng bên bờ biển Bidong, Malaysia rạng rỡ, mẹ Liên bảo trong thư gửi về nó có hỏi thăm bạn bè, khiến chúng tôi chạnh lòng, khát khao một chuyến đi xa, đổi đời nơi đất nước mới. Hai tháng sau, anh Năm của tôi cũng vượt thoát đến Songkhla, Thailand. Vân Ù và Thức nói với tôi:

-  Vậy là mày sướng rồi, sắp được lãnh đồ Mỹ!
-  Tao hứa, khi nào có đồ Mỹ, có sô- cô- la, tao sẽ chia cho tụi bay nếm thử.

Vài năm sau đó, tôi và Thức vào lớp 10, nhưng mỗi đứa một trường khác nhau, còn Vân Ù phải nghỉ học phụ chị nó buôn bán ưu tiên cho hai đứa em tiếp tục ăn học. Bố và mấy anh nó tơi tả rách rưới trở về từ kinh tế mới, hai người anh phải cấp tốc đạp xích lô kiếm tiền, bố bị bệnh suy dinh dưỡng, Vân Ù càng đảm đang chuyện gia đình, chúng tôi ít còn dịp gặp nhau như trước nữa.
Bữa đó tôi đi qua chợ, Vân Ù kéo tôi vào, bí mật:

-  Mày có biết chuyện thằng Thức đi vượt biên hai tháng nay vẫn chưa có tin tức gì chưa?
-  Tao cũng mới nghe ba tao kể, buồn và thương Thức quá Vân ơi.

Lúc này, phong trào vượt biên rầm rộ, gia đình tôi may mắn có thêm một anh trai nữa đến đảo, và tôi sống trong tâm trạng “thân nơi này nhưng tâm trí mơ tưởng… bên kia bờ đại dương” vì tôi biết tôi sẽ là người trong gia đình được kế tiếp “lên đường” khi có chuyến vượt biên, nay nghe tin Thức như vậy, lòng tôi xốn xang và buồn vô tả.

Trong xóm cũng có vài người vượt thoát, nhưng cũng có những người “đi không đến nơi về không đến chốn” như thằng Thức của chúng tôi và sau này có thêm nhỏ bạn thân cấp ba nữa, tôi sẽ kể vào một dịp khác. Điều đau đớn nhứt, là đến nay vẫn không ai biết những con tàu đó ra sao, nên cứ xem như họ đã bỏ xác ngoài biển đông và người nhà lấy ngày ra khơi để làm giỗ.

Cuộc sống vẫn phải tiếp tục, tôi học xong cấp 3, vào Sư Phạm rồi ra trường đi dạy, bận rộn với công việc mới, bạn bè mới, hầu như không còn thời gian cho bạn bè trong xóm, chỉ thỉnh thoảng có dịp đi qua chợ, tôi và Vân Ù nhìn thấy nhau, mỉm cười rồi thôi, tôi lại tiếp tục đi làm, nó lại miệt mài với xe nước mía, nay có bán thêm món chè đá đậu.

Sau hai lần vượt biên không thành, tôi cũng đến trại tỵ nạn Thailand cuối năm 1989, bỏ lại quê hương và xóm nhỏ với nhiều kỷ niệm từng làm tôi thao thức những đêm khó ngủ nơi trại tạm dung. Tôi đã có những buổi chiều lang thang trong trại Panatnikhom với nhiều nhung nhớ:

CHIỀU PANATNIKHOM
 
Có những buổi chiều Panatnikhom
Tôi lang thang nhìn theo làn mây trắng
Thương những con thuyền trôi trên biển vắng
Phiêu bạt nơi nao chưa thấy bến bờ?
 
Kìa gió, kìa mây sao quá hững hờ
Có ghé qua đảo Kra, đảo hải tặc?
Bao cô gái Việt Nam đang bất hạnh
Trong thú vui thể xác của lũ điên cuồng
 
Và đảo Klong-Yai tang tóc, u buồn
Lương tâm con người vẫn còn lạ lẫm
Khi đồng loại tìm tự do, cùng quẫn
Vượt đại dương bất chấp những hiểm nguy
 
Đất Thái bao la cũng rất từ bi
Banthad, Songkhla, Sikiew, Panat…
Mở rộng vòng tay với tình ấm áp
Sưởi tâm hồn những kẻ sống tha phương
 
Nên những chiều Panat thật thân thương
Để bâng quơ dịu dàng với nỗi nhớ
Nhớ quê nhà nghìn trùng xa cách trở
Nhớ gia đình, nhớ những bạn bè thân
 
Nên những chiều Panat thật bâng khuâng
Niềm vui, nỗi buồn đan xen bối rối
Tương lai phía trước mở đường đưa lối
Còn sau lưng những hờn tủi vô biên
 
Những buổi chiều ấy chẳng thể nào quên
Dưỡng nuôi tôi một đoạn đời tuổi trẻ
Tôi lớn lên trong lịch sử dâu bể
Ngậm ngùi vết thương xa Tổ Quốc, lưu vong
 
Những buổi chiều xưa vẫn ở trong lòng
Tháng Tư về, lại bồi hồi trông ngóng
Biển Đông mênh mông một thời dậy sóng
Của những thuyền nhân khao khát tự do!
(KimLoan)
 
………
 
Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, mỗi mùa Tháng Tư Đen trở về, tôi lại bồi hồi nhớ những ngày tháng ấy, xóm cũ, bạn bè cũ tản mác khắp nơi, chỉ có vài đứa còn ở lại xóm, trong đó có Vân Ù. Nó lấy chồng muộn màng, tuổi lớn khó sinh con, mãi mới được đứa con gái năm nay được hơn hai mươi tuổi, cũng mang “gen” của mẹ nên cũng hơi “Ù”. Tôi cũng đã tìm được Liên trên facebook, nó vẫn ở Florida từ trước đến nay, đã ly dị chồng hơn chục năm, hiện ở một mình vì con cái đã ở riêng. Niềm vui của nó là đi Chùa, đi du lịch và làm việc từ thiện đó đây sau khi quyết định nghỉ hưu sớm.

Và tôi lại ước ao, nếu có kiếp sau, chúng tôi vẫn sinh ra là người Việt Nam, nhưng không có Cộng Sản, đất nước tự do thanh bình, để Vân Ù không phải vất vả, dở dang đường học vấn, để Thức không phải bỏ xác nơi biển sâu nước lạnh, để tôi và Liên không phải sống tha hương. Chúng tôi, cùng đám bạn bè trong xóm sẽ cùng nhau trưởng thành, cuộc sống an lạc bình thường, vui buồn trên quê hương thân yêu.

Giấc mơ đẹp quá. Tôi bừng tỉnh dậy, tiếc nuối bâng khuâng!

Edmonton, Tháng4/2026
KIM LOAN

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.