Hôm nay,  

Kẻ Khờ

08/05/202600:00:00(Xem: 359)

 

ke kho

 

Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện.

Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng?

Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế.

Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.

Ở giữa căn phòng ấy là Hoàng thân Myshkin.

Myshkin trở về nước Nga sau nhiều năm bệnh tật và cách biệt. Ông trở về không mang theo một tham vọng nào, không một kiêu hãnh nào, không một mưu tính nào được giấu dưới lớp áo lịch sự của xã hội. Ông chỉ có lòng thương. Một thứ lòng thương lặng lẽ, không trang điểm, không tự khoe mình, gần như lạc loài giữa một thế giới quen sống bằng dục vọng, quyền lợi, và những cái tôi bị đánh bóng quá lâu.

Bi kịch bắt đầu từ đó.

Vì lòng tốt của Myshkin không làm người ta yên lòng. Nó làm người ta khó chịu.

Người ta gọi ông là kẻ khờ. Không phải vì ông thiếu trí khôn. Trái lại, có lẽ vì ông nhìn thấy quá rõ những điều người khác cố tình che giấu. Ông không biết nói dối cho lịch sự. Không biết tàn nhẫn cho đúng phép. Không biết lạnh lùng để được xem là khôn ngoan. Ông lắng nghe khi người khác nói dối. Ông tha thứ khi người khác mưu toan. Ông nhận ra đau khổ ở nơi người đời chỉ nhìn thấy một sự yếu đuối đáng khinh.

Trong một xã hội sống bằng mặt nạ, người không mang mặt nạ trở thành một điều xúc phạm.

Cuốn truyện đi quanh hai người đàn bà như đi quanh hai ngọn lửa. Nastasya Filippovna là ngọn lửa đã bị gió đen thổi qua: kiêu hãnh, bị thương tổn, đẹp một vẻ đẹp gần như tự hủy. Nàng không tin tình yêu, vì đời nàng đã bị dạy quá sớm rằng tình yêu cũng có thể là một hình thức mua bán. Nàng đốt mình trước khi để người khác đốt mình.

Aglaya Epanchin lặng hơn, nhưng không kém phần nguy hiểm. Nàng mang trong mình thứ kiêu hãnh của tuổi trẻ, thứ mơ mộng muốn tìm một điều tuyệt đối giữa đời sống tầm thường. Với nàng, Myshkin không chỉ là một người đàn ông. Ông là một dấu hiệu. Một ánh sáng. Một điều nàng muốn tin, nhưng cũng không đủ khiêm nhường để đón nhận.

Đứng giữa hai người đàn bà ấy là Myshkin. Không phải như một anh hùng để chọn lựa và chiến thắng. Ông đứng đó như một người cảm thấy quá nhiều, hiểu quá sâu, và vì thế không thể bước về phía nào mà không làm vỡ một điều gì trong chính mình.

Đó là chỗ tàn nhẫn của Dostoevsky.

Ông không viết một câu chuyện trong đó lòng tốt cứu được thế giới. Ông viết một câu chuyện trong đó lòng tốt bị thế giới nhìn ngắm, thử thách, nghi ngờ, rồi nghiền nát. Không bằng một nhát dao. Bằng từng cái nhìn. Từng lời nói. Từng sự hiểu lầm. Từng bàn tay đưa ra quá muộn.

Kẻ Khờ ám ảnh vì nó không chịu an ủi người đọc. Nó không cho đức hạnh một phần thưởng. Nó cũng không bắt sự tàn nhẫn phải trả giá theo lối công bình dễ dãi của tiểu thuyết thường tình. Nó chỉ đặt trước mắt ta một sự thật lạnh: một người hoàn toàn tử tế có thể không sống nổi trong một thế giới đã mất khả năng nhận ra sự tử tế.

Người ta thường gọi Myshkin là một hình ảnh gần với Chúa Kitô. Nhưng Dostoevsky không dựng ông thành một đấng cứu rỗi. Ông không cho Myshkin quyền năng. Không cho ông vinh quang. Không cho ông cả sự bảo vệ tối thiểu mà một tâm hồn trong sạch cần có để khỏi bị đời sống làm cho tan nát.

Myshkin chỉ là một câu hỏi.

Một câu hỏi mong manh đặt trước nhân loại:

Con người có thể sống hiền lành đến thế được không?

Và nếu có, thế giới này có để cho người ấy sống không?

Đến cuối truyện, không có câu trả lời. Chỉ còn một khoảng lặng. Một khoảng lặng nặng như tuyết trên mái nhà Nga. Trong khoảng lặng ấy có tiếc nuối, có điên loạn, có những căn phòng đã tắt đèn, có một vẻ đẹp bị làm nhục, và có cảm giác rằng một điều trong sạch vừa mất đi trước mắt ta mà không ai kịp giữ lại.

Khép sách rồi, Myshkin vẫn còn đó.

Không phải như một nhân vật.

Như một vết thương.

Và điều đáng sợ nhất không phải là thế giới đã phụ bạc ông.

Điều đáng sợ nhất là thế giới không cần đổi khác để phụ bạc ông.

Nó chỉ cần là chính nó.

Cung Mi biên tập

 

Mua sách tại đây

Làm thơ là một hành trình, với nhiều người, có khi rất là tình cờ bất chợt như làn gió mát buổi sớm chúng ta gặp mà không hề mong đợi. Thơ của chị Lê Phương Châu có phong cách như thế, khi thơ đọc như là những dòng chữ tình cờ, nơi đây chị có vẻ như không cố ý tìm chữ, tất cả chỉ là tự nhiên như ca dao. Trên từng dòng chữ, chị hiện ra như các hơi thở của tỉnh thức, để tự quán sát đời mình tan rã từng ngày, từng giờ, từng khoảnh khắc trong dòng sông vô thường. Và từ đó, thơ của chị khởi dậy trên các trang giấy.
Trong những năm gần đây, các thư viện công tại Hoa Kỳ – vốn từng là không gian yên tĩnh dành cho học tập và tra cứu – đã trở thành điểm nóng trong các cuộc tranh chấp văn hóa. Hàng ngàn cuốn sách bị yêu cầu cấm lưu hành, không phải bởi độc giả trực tiếp, mà từ các nhóm chính trị cánh hữu sử dụng mạng xã hội để vận động phản đối hàng loạt. Riêng năm học 2023–2024, PEN America ghi nhận tới 10.046 lượt cấm sách ở các trường công, ảnh hưởng tới 4.231 tựa sách và 2.662 tác giả; trong đó Florida và Iowa chiếm lần lượt 4.561 và 3.671 lượt cấm trong năm học. Gần một nửa trong số đó là sách viết bởi các tác giả LGBTQIA+ hoặc thuộc các cộng đồng chủng tộc thiểu số – những tiếng nói vốn đã bị thiệt thòi trong ngành xuất bản, nay tiếp tục bị đẩy ra ngoài bằng nhãn “không phù hợp.”
Cũng tâm thái ấy, tôi có được khi đọc Phòng Triển Lãm Mùa Đông của nhà văn Đặng Thơ Thơ, và sau đó là xoay sở cho lọt vào những con chữ mang đầy ý nghĩa bức phá hiện thực...
Nguyễn Hữu Liêm là một người đa dạng, không chỉ trong nghề nghiệp mưu sinh, mà cả trong những lĩnh vực cầm bút, lý luận. Ông là một người gây tranh cãi trong những nhận định về cộng đồng, và cả trong những bài viết về rất nhiều đề tài, như văn hoa, triết học, tôn giáo, chính trị. Dĩ nhiên, sôi nổi nhất là lĩnh vực chính trị. Nguyễn Hữu Liêm mưu sinh với nghề Luật sư, giảng dạy Triết. Những bài viết của ông bất kể gây tranh luận thế nào trong cộng đồng, vẫn là những đề tài cần được cộng đồng suy nghĩ nghiêm túc. Do vậy, từ một bàn viết lặng lẽ ở San Jose, Nguyễn Hữu Liêm trở thành người khơi dậy những cuộc tranh luận không chỉ ở hải ngoại, mà còn cả trong Việt Nam.
Đặng Thơ Thơ cùng thế hệ với ông bác, em ruột mẹ tôi, sống trong thời Việt Nam Cộng hòa và cũng như ông bác tôi, Thơ Thơ xa xứ cùng gia đình, người bác theo ngành y còn chị ngành giáo dục, viết văn, sáng lập trang Da Màu như cách để giữ gìn bản sắc và ngôn ngữ Việt. Xa quê mới nhớ nhà, rời nhau mới ngẩn ngơ căn nhà cắt rốn, sợ mất tiếng mất giọng, ngôn ngữ bay tro nên việc người Việt tha hương lập ra các trang Văn Hải Ngoại là cách đại đoàn kết khỏi cảnh nhớ nhà, đồng thời đấy cũng là sân chơi, thư viện lưu trữ bản thảo, để người trẻ muốn tìm tòi giai đoạn 20 năm miền Nam, muốn thử sức mà không cần phải trình bày thành tích đăng báo, in sách chung sách riêng đều có thể liên lạc.
Không ai ngờ nhà thơ này làm được các bài thơ kể chuyện về các Thiền sư Việt Nam trong thể thơ Đường luật, y hệt như khai mở lại một mạch nguồn thi ca sinh động. Những bài thơ của thầy, tinh luyện từng chữ, dịu dàng mang hơi thở Thiền Tông Việt Nam. Tôi đọc và kinh ngạc, như gặp lại một tri kỷ những năm rất xưa cũ, nhưng với một chân trời thi ca hoàn toàn mới. Nơi đó, riêng một mình Thầy Thích Chúc Hiền bước đi đơn độc, trong văn phong thanh thản, giữa những như dường gian nan trong từng chữ, từng ý đối, từng vần trau chuốt khó gieo, và trong từng âm vang Thiền ngữ. Tôi đọc và cảm nhận từng trang thơ đầy những tràn ngập hạnh phúc, hẳn nhiên là cho cả thi sĩ Thích Chúc Hiền và cho cả những độc giả khó tính như tôi. Từ thầy, tôi nhận ra rằng thơ Đường luật không hề cũ, chỉ là vì mình đã tránh né một lối đi rất khó khăn của thi ca.
THUYỀN là cuốn tiểu thuyết của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Tác phẩm thuật lại chuyến vượt biên bằng đường biển của một nhóm người khi phong trào vượt biên trong nước lên cao, vào khoảng giữa hai thập niên 70s và 80s. Vì là tiểu thuyết nên cuốn sách thoát xác ra khỏi dạng hồi ký (mặc dù tự sự của nó bám sát sự thật và những điều có thể xem như sự thật) và nhất là nhờ được viết với bút pháp “dòng ý thức” nên nó đồng thời bật mở những suy nghiệm về lịch sử, chiến tranh, quê hương, tình yêu, sự sống, sự chết, sự tàn bạo, lòng nhân đạo, ký ức, lòng khao khát được sống, dòng chảy thời gian, cái nhẹ của nhân sinh, và nhiều thứ khác...
Tôi kinh ngạc khi thấy mình có thể sống trong rất nhiều thế giới trong một ngày. Bật máy vi tính lên, tìm các bản tin thế giới và quê nhà qua Google, chọn tin và dịch. Từ những xúc động có khi rơi nước mắt khi đọc tin về nỗi đau đớn của những người đang sống dưới mưa bom như Palestine, Ukraine, cho tới nỗi lo lắng khi thấy các bản tin về Biển Đông và đói kém ở quê nhà, cho tới những sân si trong thế giới quyền lực ở Hoa Kỳ... Thời gian nghỉ tay, đọc những dòng thơ nơi này hay nơi kia, từ khắp thế giới, là hạnh phúc đời thường của tôi. Trong đó, tôi thường theo dõi những dòng chữ của nhà thơ Thiện Trí, người cũng là một thiền sư đang dạy Thiền thực nghiệm ở Nam California. Có khi tôi mở bản sách giấy ra xem, và có khi vào Facebook tìm đọc "Monk Thiện Trí."
Cuốn tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư là một tác phẩm ám ảnh và đầy trăn trở, khiến tôi phải đọc đi đọc lại và phải suy ngẫm nhiều lần. Vì sao? Vì mỗi khi khép sách lại, tôi luôn có cảm tưởng dường như mình đã bỏ sót một điều gì đó…
Tôi sẽ nói gì về Phiến Hạ khi mùa hè chưa tới? Khi biển đã rộn ràng khơi nồng trong gió? Tôi có thể gợi khêu gọi nắng lên nhân quần khi lạnh gây vẫn u ẩn không gian? Có lẽ tôi sẽ mơ một khắc giây hội tụ, khát vọng liền tâm. Những mối dây xoắn gút cột thắt linh hồn. Ôi tôi mong bức đứt, chặt phăng mắt xích trói ghì...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.