Hôm nay,  

Kẻ Khờ

08/05/202600:00:00(Xem: 367)

 

ke kho

 

Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện.

Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng?

Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế.

Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.

Ở giữa căn phòng ấy là Hoàng thân Myshkin.

Myshkin trở về nước Nga sau nhiều năm bệnh tật và cách biệt. Ông trở về không mang theo một tham vọng nào, không một kiêu hãnh nào, không một mưu tính nào được giấu dưới lớp áo lịch sự của xã hội. Ông chỉ có lòng thương. Một thứ lòng thương lặng lẽ, không trang điểm, không tự khoe mình, gần như lạc loài giữa một thế giới quen sống bằng dục vọng, quyền lợi, và những cái tôi bị đánh bóng quá lâu.

Bi kịch bắt đầu từ đó.

Vì lòng tốt của Myshkin không làm người ta yên lòng. Nó làm người ta khó chịu.

Người ta gọi ông là kẻ khờ. Không phải vì ông thiếu trí khôn. Trái lại, có lẽ vì ông nhìn thấy quá rõ những điều người khác cố tình che giấu. Ông không biết nói dối cho lịch sự. Không biết tàn nhẫn cho đúng phép. Không biết lạnh lùng để được xem là khôn ngoan. Ông lắng nghe khi người khác nói dối. Ông tha thứ khi người khác mưu toan. Ông nhận ra đau khổ ở nơi người đời chỉ nhìn thấy một sự yếu đuối đáng khinh.

Trong một xã hội sống bằng mặt nạ, người không mang mặt nạ trở thành một điều xúc phạm.

Cuốn truyện đi quanh hai người đàn bà như đi quanh hai ngọn lửa. Nastasya Filippovna là ngọn lửa đã bị gió đen thổi qua: kiêu hãnh, bị thương tổn, đẹp một vẻ đẹp gần như tự hủy. Nàng không tin tình yêu, vì đời nàng đã bị dạy quá sớm rằng tình yêu cũng có thể là một hình thức mua bán. Nàng đốt mình trước khi để người khác đốt mình.

Aglaya Epanchin lặng hơn, nhưng không kém phần nguy hiểm. Nàng mang trong mình thứ kiêu hãnh của tuổi trẻ, thứ mơ mộng muốn tìm một điều tuyệt đối giữa đời sống tầm thường. Với nàng, Myshkin không chỉ là một người đàn ông. Ông là một dấu hiệu. Một ánh sáng. Một điều nàng muốn tin, nhưng cũng không đủ khiêm nhường để đón nhận.

Đứng giữa hai người đàn bà ấy là Myshkin. Không phải như một anh hùng để chọn lựa và chiến thắng. Ông đứng đó như một người cảm thấy quá nhiều, hiểu quá sâu, và vì thế không thể bước về phía nào mà không làm vỡ một điều gì trong chính mình.

Đó là chỗ tàn nhẫn của Dostoevsky.

Ông không viết một câu chuyện trong đó lòng tốt cứu được thế giới. Ông viết một câu chuyện trong đó lòng tốt bị thế giới nhìn ngắm, thử thách, nghi ngờ, rồi nghiền nát. Không bằng một nhát dao. Bằng từng cái nhìn. Từng lời nói. Từng sự hiểu lầm. Từng bàn tay đưa ra quá muộn.

Kẻ Khờ ám ảnh vì nó không chịu an ủi người đọc. Nó không cho đức hạnh một phần thưởng. Nó cũng không bắt sự tàn nhẫn phải trả giá theo lối công bình dễ dãi của tiểu thuyết thường tình. Nó chỉ đặt trước mắt ta một sự thật lạnh: một người hoàn toàn tử tế có thể không sống nổi trong một thế giới đã mất khả năng nhận ra sự tử tế.

Người ta thường gọi Myshkin là một hình ảnh gần với Chúa Kitô. Nhưng Dostoevsky không dựng ông thành một đấng cứu rỗi. Ông không cho Myshkin quyền năng. Không cho ông vinh quang. Không cho ông cả sự bảo vệ tối thiểu mà một tâm hồn trong sạch cần có để khỏi bị đời sống làm cho tan nát.

Myshkin chỉ là một câu hỏi.

Một câu hỏi mong manh đặt trước nhân loại:

Con người có thể sống hiền lành đến thế được không?

Và nếu có, thế giới này có để cho người ấy sống không?

Đến cuối truyện, không có câu trả lời. Chỉ còn một khoảng lặng. Một khoảng lặng nặng như tuyết trên mái nhà Nga. Trong khoảng lặng ấy có tiếc nuối, có điên loạn, có những căn phòng đã tắt đèn, có một vẻ đẹp bị làm nhục, và có cảm giác rằng một điều trong sạch vừa mất đi trước mắt ta mà không ai kịp giữ lại.

Khép sách rồi, Myshkin vẫn còn đó.

Không phải như một nhân vật.

Như một vết thương.

Và điều đáng sợ nhất không phải là thế giới đã phụ bạc ông.

Điều đáng sợ nhất là thế giới không cần đổi khác để phụ bạc ông.

Nó chỉ cần là chính nó.

Cung Mi biên tập

 

Mua sách tại đây

Viết cho thế hệ trẻ là quan tâm lớn của nhiều nhà văn gốc Việt. Và mới trong tháng qua, nhà văn Trần Ngọc Ánh vừa ấn hành 2 bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp của tập hồi ký “Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản.” Bản dịch sang tiếng Anh do dịch giả Kim Vũ từ California thực hiện, nhan đề “Daddy, I don't Want to be a Communist.” Bản dịch sang tiếng Pháp do dịch giả Bảo Hưng từ Paris thực hiện, nhan đề “Papa, Je ne voudrais pas être communiste.” Cả hai bản dịch này ấn hành chung trong cuốn sách dày 184 trang. Bìa sách thực hiện bởi hai họa sĩ: Trần Nho Bụi và Phan Trường Ân. Một số tranh trong sách là từ họa sĩ Nguyễn Tư.
Có những cách để tưởng niệm 50 năm ngày Miền Nam tự do sụp đổ. Trong khi những cuộc hội thảo, chiếu phim, nhạc hội... do cộng đồng tổ chức sôi nổi khắp những tuần lễ trong tháng 4/2025, nhà văn Phan Nhật Nam và dịch giả Kim Vu có một cách lặng lẽ hơn: Dịch giả Kim Vu trong tháng Tư 2025 đã ấn hành tác phẩm tiếng Anh “The Sound Of A Suffering Land” – tuyển tập bản dịch 8 truyện của nhà văn Phan Nhật Nam.
Thơ mộng, uyên bác, thấu suốt Phật lý... Những dòng thơ của Thầy Tuệ Sỹ hiện lên trang giấy như các dãy núi nơi những đỉnh cao ẩn hiện mơ hồ giữa các vầng mây. Do vậy, dịch thơ Thầy Tuệ Sỹ qua tiếng Anh cũng là một công trình lớn, khi phải cân nhắc từng chữ một để giữ được cái thơ mộng, cái uyên bác, và cái nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường của một nhà sư thiên tài, độc đáo của dân tộc. Hai dịch giả Terry Lee và Phe X. Bạch đã làm được phần rất lớn trong việc giới thiệu thơ của Thầy Tuệ Sỹ cho các độc giả trong thế giới Anh ngữ.
Mặc dù chỉ mới ba năm trôi qua kể từ khi bà Merkel rời nhiệm sở, nhưng thế giới đã thay đổi quá nhiều đến mức mà chức thủ tướng của bà đã được cảm thấy như nó thuộc về một thời đại khác. Cuốn hồi ký mới của bà cho thấy bà bình tâm với những quyết định đã đưa ra, bao gồm cả những quyết định bị phê phán nghiêm khắc nhất.
Nhà thơ, nhà báo Phạm Chu Sa đã tổ chức một buổi ra mắt hai tác phẩm trong vòng thân hữu tại tư gia của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần chiều Thứ Sáu 2/5/2025. Tập thơ nhan đề “Tình Không” -- ấn hành cuối đời, gom lại tất cả các bài thơ tình của nhà thơ trong đó có 36 bài thơ đã đăng trước 1975 trên các tuần báo Khởi Hành, Tuổi Ngọc và các tạp chí Văn, Vấn Đề... và nhiều bài thơ tình gần đây. Cuốn thứ nhì là hồi ức “Chuyện Làng Văn” về các mảng đời trước và sau 1975 của 50 văn nghệ sĩ mà tác giả có cơ duyên thân tình.
"Mỗi người đến thế giới này như một kẻ xa lạ, không phải vì họ xa lạ mà bởi vì họ được nhìn bởi người khác, trong đó có các nhà văn, như kẻ xa lạ. Bi kịch của con người là ở chỗ họ quá khác nhau, ở các học thuyết và các niềm tin, ở các quyết định và hành động, nhưng sâu thẳm họ giống nhau khi rắp tâm đi tìm sự thật cuối cùng. Không có công lý và sự thật phổ biến cho mọi trường hợp, và con người luôn luôn chọn đứng về một phía, và đó là bi kịch và hài kịch của họ. Những xung đột giữa người và người, giữa các quốc gia, các chủ nghĩa, đỉnh cao là chiến tranh, ở mức cá nhân là hận thù, những xung đột ấy chỉ có hy vọng hóa giải khi con người nhìn thấy sự thật phía sau câu chuyện lịch sử, những động cơ tâm hồn bên dưới sự thật. Sự hiểu biết ấy, và sự vui thú sinh ra từ hiểu biết ấy, làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết.
WESTMINSTER (PTH/VB) – Buổi ra mắt sách “Những Người Ở Lại” của tác giả LU Thuy hôm Chủ Nhật 27/4/2025 tại Westminster cũng là dịp để tác giả tâm sự về lý do vì sao viết sách này, cũng là dịp để nghe anh Võ Văn Thiệu, một sinh viên du học tại Ý từ trước năm 1975, kể về không khí thân cộng của các sinh viên từ Miền Nam VN du học tại Pháp
Cuộc chiến Việt Nam đã khép lại từ nửa thế kỷ trước nhưng những hệ lụy vẫn còn ghi khắc trong đời sống, tâm trí và ký ức của nhiều thế hệ người Việt ở quê hương lẫn hải ngoại. Ký ức đau thương lẫn khát vọng xây dựng tương lai đã trở thành chủ đề trung tâm trong nhiều tác phẩm văn học, tuyển tập truyện ngắn "The Colors of April" do Quan Manh Ha và Cab Tran biên tập là một ví dụ điển hình.
Khi về già, bạn mắc bệnh mất trí nhớ, rồi mất phương hướng, sau đó mất ngôn ngữ. Nếu bạn sống thật lâu, như một ngọn núi, các chuẩn tắc đạo lý do con người đặt ra sẽ mất sau cùng. Và theo thứ tự như vậy. Trước cửa một tiệm cà phê gần khu vực tưởng niệm sự kiện 911, gần nền của tòa tháp đôi đổ sập, xuôi về phía hiệu sách cũ Strand ở Broadway, nơi tôi mua được một tập thơ của Gerald Stern, tôi gặp anh Siu Kpa, người Gia rai sáu mươi tuổi, và vợ anh. Anak Gia rai, con của Gia rai. Hay Giơ rai, Jarai, Jrarai, Chơ rai đều được, cả hai nói tiếng Việt, nhưng anh nói giỏi hơn. Thật ra chị là người Ba na, nghe phát âm như Bơ na, hay Bờ na, hay Bà nà, cũng là Ba na dưới núi, Ba na trên núi, Bơ Nâm, Bơ Môn. Cả hai đều mất trí nhớ nhưng theo hướng ngược chiều nhau.
Nhà văn Phạm Quốc Bảo trong tuần qua vừa ấn hành tuyển tập Cuốn Lên Bức Mành. Một tác phẩm ghi lại những suy nghĩ của một người đang giữa lứa tuổi 80s từ hải ngoại về những gì còn lưu giữ sau một đời làm báo và viết truyện. Từng trang chữ của ông là cô đọng những cảm xúc của một người không tự cho mình sống một ngày nào mà không nghĩ tới quê nhà. Tuyển tập nhiều bài viết Cuốn Lên Bức Mành gồm ba phần: Hồi ức, Tản mạn, Thơ. Nơi đây, chúng ta gọi ấn phẩm này là cuốn sách sau 50 năm, vì Phần 2 còn được tác giả ghi là: Nửa Thế Kỷ Ngoái Lại. Thực tế, chiều dài của sách là hơn một thế kỷ rưỡi, vì có kể về ông ngoại tác giả là cụ Bùi Văn Giảng (1871-1934). Với chiều dài thời gian như thế, và với cảm xúc của thời điểm 50 năm, tác phẩm của Phạm Quốc Bảo có những trầm lắng rất là tịch mịch của lịch sử. Nơi đây chúng ta sẽ giới thiệu một số điểm trong tuyển tập.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.