Hôm nay,  

Nước Mỹ của Ai

29/05/202600:00:00(Xem: 928)
ship-151182564-1024x576
Thủy thủ trên chiến hạm USS Durham đưa người tị nạn Việt Nam từ một thuyền nhỏ trên Biển Đông lên tàu, ngày 3 tháng 4, 1975. Ảnh: National Archives, General Records of the Department of the Navy.
  
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.

Song song với huyền thoại đó là một dòng lịch sử khác ít được kể hơn, lịch sử của những cánh cửa đóng lại. Đầu thế kỷ 19, Quốc hội Mỹ mở rộng đất đai bằng Louisiana Purchase, chiếm Florida, rồi Texas, Oregon… Trong khi người châu Âu được mời gọi bằng Homestead Act 1862 cấp đất đai, người Á châu bị đẩy ra khỏi cánh cửa nước Mỹ. Đạo Luật Bài Người Hoa 1882(Chinese Exclusion Act) thẳng tay cấm người Trung Hoa, đánh dấu lần đầu tiên luật liên bang nhắm thẳng vào một sắc dân để loại trừ.

Bước vào thời đại công nghiệp, các đạo luật 1921, 1924 đặt ‘quota’ ưu đãi Bắc Âu da trắng Tin Lành, siết di dân Nam – Đông Âu, gần như đóng sập cửa Á châu. Sau Thế chiến, châu Âu đầy người tản cư, luật Mỹ vẫn chắt lọc di dân theo chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ. Đến Chiến tranh Lạnh, yếu tố chống cộng được đưa thẳng vào chính sách di trú.

Mãi đến 1965, Đạo luật Di trú và Quốc tịch mới bãi bỏ hẳn hệ thống ‘quota’ dựa trên chủng tộc và nguồn gốc quốc gia, thay bằng “hệ thống ưu tiên” dựa vào đoàn tụ gia đình, tay nghề, và yếu tố nhân đạo. Từ đó, người Á châu, Mỹ La-tinh, Phi châu mới thực sự bước vào dòng di trú hợp pháp với số lượng lớn. Nhờ vậy, cộng đồng Việt Nam, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mễ Tây Cơ… mới trở thành những khối rõ rệt trong bức tranh Mỹ về sau. Nhưng cái bóng của nỗi sợ di dân không vì thế mà tan. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, cách mạng Cuba, nội chiến Trung Mỹ, khủng hoảng kinh tế… mỗi làn sóng người mới lại làm dậy lên một câu hỏi cũ: “Họ là ai? Có đáng tin không? Có chiếm đất đai, chiếm công ăn việc làm của người Mỹ không?”

Sang thế kỷ 21, biến cố 9-11 biến di trú từ đề tài kinh tế – xã hội thành vấn đề “an ninh quốc gia”. Toàn bộ hệ thống được cải tổ với Bộ Nội An (DHS) ra đời vào. Sở Di Trú cũ bị chia nhỏ, nhập với biên phòng, hải quan. Đạo luật Patriot 2001, đặc biệt là Chương IV “Bảo vệ biên giới” trao liên bang quyền theo dõi sinh viên ngoại quốc, nối mạng dữ liệu giữa các cơ quan, và tăng lực lượng biên phòng. Từ đó, mọi cuộc tranh luận về di trú đều bị ám theo hai chữ “an ninh”. Liệu biên giới có an toàn không? Ai là “nguy cơ”? Bao nhiêu người không giấy tờ đang trong lòng nước Mỹ? Thống kê ước tính có khoảng 11 triệu người ở không giấy tờ, chiếm chừng 5% lực lượng lao động. Con số này trở thành cái mỏ vô tận cho những khẩu hiệu tranh cử.

Đó là phông nền mà Donald Trump bước vào. Ông tận dụng nó để biến di trú từ một chương luật rối rắm thành một cây đả cầu bổng trên diễn đàn chính trị.

Ngay từ lúc tranh cử, Trump đã chọn cách nói về di dân không phải bằng gương mặt và sức lao động của họ, cũng không bằng những đóng góp hàng trăm tỉ đô-la thuế mỗi năm, mà bằng những khẩu hiệu nặng mùi bài ngoại như “đầu độc máu huyết nước Mỹ”, “đến từ nhà tù, nhà thương điên”. Ông hiếm khi nhắc đến những người lương thiện hái dâu ở California, rửa chén ở New York, y tá trực đêm ở Texas, sinh viên trong giảng đường. Ông biến họ thành một “làn sóng” vô danh đầy đe dọa và ví họ như “thú vật”. Một khi đám đông “ngoài kia” bị vẽ thành mối nguy, mọi biện pháp mạnh tay đều có thể nhân danh “bảo vệ người Mỹ”.

Trong nhiệm kỳ đầu (2017–2021), dấu ấn Trump đậm nét nhất là ở biên giới phía Nam. Từ những sắc lệnh cấm công dân từ một loạt quốc gia – phần lớn là các nước Hồi giáo – đặt chân vào Mỹ, tới việc ép người xin tị nạn phải dạt sang bên kia biên giới Mễ Tây Cơ chờ đợi, rồi chính sách “zero tolerance” bức trẻ em ra khỏi vòng tay cha mẹ. Đây là những chiến lược được thi hành để phát ra một thông điệp: “Đừng bén mảng tới đây, nếu không muốn chính gia đình mình trở thành ví dụ răn đe tiếp theo.”

Nhưng biên giới chỉ là một mặt. Mặt kia nằm sâu trong nội địa. ICE – lực lượng Thi hành Di trú – được đẩy lên tuyến đầu như một lực lượng công an đặc vụ. Trên giấy tờ, ICE được lập ra để bắt người có lệnh trục xuất, dẹp buôn người, xử lý tội phạm nghiêm trọng. Dưới thời Trump, trọng tâm ấy trượt từ việc “ưu tiên tội phạm nặng” sang coi “bất cứ ai không có giấy tờ đều là mục tiêu”.

Trong vài năm trở lại đây, ICE hiện lên qua những cuộc bố ráp trong xưởng thịt, xưởng may, chợ lao động, trên đường phố. Những chiếc xe trắng không bảng số đậu lặng lẽ trước khu nhà di dân. Những lần chặn xe trên xa lộ khiến một cuốc đi chợ của người tài xế gốc Latinh có thể hóa thành chuyến bị sút thẳng về nước. Các thống kê độc lập ghi nhận số vụ trục xuất ngay trong nội địa tăng vọt, với không ít người bị đưa đi mà “tội” của họ chỉ là ở quá hạn hoặc những tội vặt vãnh. Trong mắt giới cố vấn của Trump, ICE là mũi nhọn của “cuộc chiến bảo vệ biên giới từ bên trong”. Trong thực tế, nó giống một lực lượng rình rập, biến những sinh hoạt thường ngày trong gia đình người lao động thành một chuỗi rủi ro thường trực.

Cuối nhiệm kỳ đầu, chính quyền Trump đã bắt đầu dùng Vệ binh Quốc gia, thậm chí quân đội, hỗ trợ truy bắt và trục xuất; mở thêm trại tạm giam lớn để giam người chờ trục xuất; cho phép viên chức di trú ký quyết định đuổi người ra khỏi nước mà không cần qua đầy đủ quy trình tòa án. Không phải tất cả đều thành công, vì có trường hợp bị tòa án, Quốc hội, phản ứng xã hội can thiệp, nhưng chúng cho thấy hướng đi mới “Nước Mỹ Trên Hết” của Trump với ưu tiên trên hết là “đuổi ra”, chứ không “đón vào”.

Trở lại Nhà Trắng năm 2025, ông Trump lặp lại khẩu hiệu “đợt trục xuất lớn nhất lịch sử”. Ngân sách cho ICE và biên phòng tăng cao. Vệ binh Quốc gia được điều xuống biên giới và một số thành phố lớn. Project 2025 được lấy ra khỏi ngăn kéo để biến thành chỉ thị. Số người bị bắt và trục xuất trong nội địa những tháng đầu nhiệm kỳ hai lại nhảy vọt. Các tổ chức nhân quyền ghi nhận nhiều vụ bắt bớ dựa trên “nghi ngờ” hơn là hồ sơ tội phạm cụ thể. Với nhiều gia đình, chuyện ICE trong khu phố không còn là nỗi lo xa xôi. Nó là câu hỏi rất cụ thể: sáng nay bố mẹ đi làm tối có về nhà được không.

Mũi nhọn chính sách không dừng ở người “không giấy tờ”. Lớp bị ảnh hưởng kế tiếp là tầng giữa – những người đã theo đúng luật đi đúng đường. Họ vào Mỹ bằng visa hợp lệ, học hành, đi làm, lập gia đình, đang trên đường xin thẻ xanh.  Suốt hơn nửa thế kỷ, luật Mỹ cho phép họ “điều chỉnh quy chế” ngay tại đây, nộp hồ sơ xin thường trú mà không cần quay về nước, nếu đáp ứng điều kiện. Mỗi năm khoảng một triệu đơn xin thẻ xanh, ước chừng phân nửa là của những người đang sống hợp pháp trên đất Mỹ. Đó là cây cầu nối từ thân phận “khách trọ” sang “thường trú lâu dài”.

Cuối tuần qua, chính cây cầu ấy bị rút những tấm ván quan trọng. Một thông báo từ Sở Di trú và Nhập tịch ngày 22 tháng 5 cho biết người đang ở Mỹ theo diện tạm trú, sinh viên, lao động tạm thời, du khách, nhiều trường hợp tị nạn hay được bảo vệ nhân đạo, nếu muốn xin thẻ xanh, giờ đây buộc phải rời Mỹ, trở về nước của họ nộp đơn tại lãnh sự quán. Chỉ những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt” do chính viên chức Sở cân nhắc mới được điều chỉnh quy chế ngay trong nội địa.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, thông lệ vẫn là ai vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện theo luật đều có thể “điều chỉnh quy chế” ngay trên đất Mỹ – nhất là vợ chồng, con cái công dân Mỹ, người giữ visa làm việc, du học sinh, người tị nạn sau một thời gian cư trú. Mỗi năm, khoảng một triệu hồ sơ xin thẻ xanh được nộp, và theo ước tính của một cựu quan chức USCIS, chừng một nửa trong số đó là nộp từ ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Chính sách mới đảo ngược trật tự lâu năm ấy. Chính quyền giải thích đơn giản là “Người tạm trú vào Mỹ là để ở một thời gian ngắn, với một mục đích rõ rệt. Hệ thống của chúng ta được thiết kế để họ rời đi khi chuyến viếng thăm kết thúc.”. Theo luật mới, từ nay việc nộp đơn tại Mỹ chỉ được chấp thuận trong những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt”, và nhân viên USCIS sẽ quyết định từng hồ sơ. Chính quyền gọi đây là “trở về với ý định nguyên thủy của luật”, là đóng một “khe hở” mà di dân lợi dụng để ở lại.

Nhưng bên dưới lớp chữ nghĩa đơn giản không phải là chuyện “chỉnh sửa thủ tục”, mà là một chủ trương dùng thủ tục để tạo nên trở ngại làm khó số người có thể ở lại Mỹ một cách hợp pháp.

Một gia đình ở Houston: vợ là công dân Mỹ, chồng mang visa H–1B làm kỹ sư, hai con học tiểu học. Nhiều năm qua, họ đi đúng đường, khai thuế, trình diện đúng kỳ, chờ tới lượt nộp hồ sơ xin thẻ xanh. Trước đây, họ nộp và chờ ngay tại Mỹ; chồng vẫn đi làm, con vẫn có bố đưa đón. Nay, anh buộc phải về nước nộp hồ sơ; lịch hẹn lãnh sự có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Trong thời gian đó, gia đình bị xé làm đôi, chỉ vì một chữ ký đổi quy trình.

Một bác sĩ ngoại quốc đang làm ở bệnh viện vùng nông thôn Kansas, nơi hiếm bác sĩ Mỹ nào chịu về. Bệnh viện sẵn sàng bảo trợ xin thẻ xanh cho anh. Nay anh phải rời Mỹ, chờ lãnh sự quán ở quê nhà phỏng vấn và xét đơn. Ai trực ca đêm ở phòng cấp cứu trong thời gian đó? Nếu hồ sơ bị treo vì lý do an ninh hay thủ tục, ai trả giá cho khoảng trống mà anh để lại?

Một đồng minh Mỹ ở Syria, Iraq, hay Afghanistan đang được bảo vệ tạm thời ở Mỹ Đang đi làm, cho con đi học, đang khó khăn hội nhập. Tòa đại sứ Mỹ tại Kabul đã đóng cửa từ khi Hoa Kỳ rút quân năm 2021. Nhiều lãnh sự quán các nơi khác hoạt động hạn chế. Đường quay về không chỉ là vé máy bay, mà là sinh mạng. Bảo anh muốn xin thẻ xanh hãy trở về nơi anh vừa liều chết để thoát ra là sự ác độc.

Các tổ chức nhân đạo, như tổ chức World Relief – một cơ quan nhân đạo Kitô giáo lâu năm trong lãnh vực tị nạn – dùng hai chữ “tàn nhẫn” và “chống gia đình” để mô tả chính sách mới. Chính sách này gần như xóa bỏ thông lệ hơn nửa thế kỷ cho phép người đã vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện, được điều chỉnh quy chế tại đây. Họ cảnh báo những “thế kẹt bắt buộc”. Nếu trở về, họ có thể không bao giờ quay lại. Nếu không về, hồ sơ chết yểu, họ bị đẩy từ diện hợp lệ sang bất hợp lệ.

Đặt chính sách mới này cùng với những đợt bố ráp trong nội địa và những lời hứa “trục xuất hàng loạt” cho thấy rõ mục tiêu không gì khác hơn là siết chặt di trú. Ngoài biên giới thì xây tường, đưa quân xuống. Bên trong nước Mỹ thì cho ICE và Vệ binh Quốc gia đi lùng người. Còn ngay trong hệ thống di trú hợp pháp thì siết chặt khâu xét thẻ xanh, biến mỗi bộ hồ sơ thành một ván cờ rủi nhiều hơn may.

Nhìn suốt từ cuối thế kỷ 19 tới nay, người ta luôn thấy hai cách kể khác nhau về nước Mỹ. Một bên là “nước Mỹ của di dân”, nơi hàng hàng lớp lớp người mới đến đặt thêm những viên gạch xây dựng bờ cõi. Bên kia là “nước Mỹ đóng cửa”, với những đạo luật, chiến dịch, lực lượng như ICE và hàng loạt thủ tục tưởng như thuần kỹ thuật nhưng thực ra dùng để bài di dân, sàng lọc, loại trừ, trục xuất.

Và câu chuyện lúc này không chỉ nằm ở những con số mỗi năm ICE bắt bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình bị tống khứ, bao nhiêu hồ sơ thẻ xanh bị hất ra lãnh sự quán không có cơ hội quay lại. Điều đang diễn ra là một bước ngoặt quan trọng. Nước Mỹ đang rời khỏi hình ảnh một quốc gia từng tin rằng có thể giữ vững biên giới mà vẫn tôn trọng phẩm giá con người và giữ đúng tinh thần một hợp chủng quốc. Nước Mỹ hôm nay dùng chính thân phận và số mạng của người di dân làm đòn bẩy, lá bài mặc cả và công cụ răn đe.

Chính quyền Trump đang đóng lại chính cánh cửa mà lịch sử nước Mỹ đã từng mở ra cho di dân. Đau lòng là trong tiếng khóa cửa ấy lại có cả tiếng vỗ tay của không ít di dân mới, cũ - những người đã từng trốn quê nhà đến đây mưu cầu hạnh phúc, thay vì chìa tay đỡ kẻ đến sau, lại sẵn sàng quay lại rút ván.

Nina HB Lê

Ngày 4/10, tờ The Conversation đăng một bài viết có thể xem như “Cáo Phó Chính Trị” của ông Luiz Inácio Lula da Silva, tổng thống đương nhiệm của Brazil. Ở tuổi 80, tưởng chừng như ông sẽ có cuộc rút lui êm đềm sau bốn thập niên là nhân vật trung tâm trên chính trường. Tối Chủ nhật, 25/10, khi những lá phiếu cuối cùng của cuộc bầu cử được đếm, ông Lula đã làm được điều mà chưa ứng cử viên tổng thống Brazil nào làm được kể từ khi nước này trở lại bầu cử trực tiếp năm 1989. Ông thua ở vòng một nhưng lội ngược dòng ngoạn mục ở vòng hai. Với khoảng 51.8% số phiếu so với 48.2% của Thượng Nghị Sĩ cánh hữu Flávio Bolsonaro, ông Lula chiến thắng nhiệm kỳ thứ tư, chưa có tiền lệ.
Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.