Hôm nay,  

Nước Mỹ của Ai

29/05/202600:00:00(Xem: 472)
ship-151182564-1024x576
Thủy thủ trên chiến hạm USS Durham đưa người tị nạn Việt Nam từ một thuyền nhỏ trên Biển Đông lên tàu, ngày 3 tháng 4, 1975. Ảnh: National Archives, General Records of the Department of the Navy.
  
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.

Song song với huyền thoại đó là một dòng lịch sử khác ít được kể hơn, lịch sử của những cánh cửa đóng lại. Đầu thế kỷ 19, Quốc hội Mỹ mở rộng đất đai bằng Louisiana Purchase, chiếm Florida, rồi Texas, Oregon… Trong khi người châu Âu được mời gọi bằng Homestead Act 1862 cấp đất đai, người Á châu bị đẩy ra khỏi cánh cửa nước Mỹ. Đạo Luật Bài Người Hoa 1882(Chinese Exclusion Act) thẳng tay cấm người Trung Hoa, đánh dấu lần đầu tiên luật liên bang nhắm thẳng vào một sắc dân để loại trừ.

Bước vào thời đại công nghiệp, các đạo luật 1921, 1924 đặt ‘quota’ ưu đãi Bắc Âu da trắng Tin Lành, siết di dân Nam – Đông Âu, gần như đóng sập cửa Á châu. Sau Thế chiến, châu Âu đầy người tản cư, luật Mỹ vẫn chắt lọc di dân theo chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ. Đến Chiến tranh Lạnh, yếu tố chống cộng được đưa thẳng vào chính sách di trú.

Mãi đến 1965, Đạo luật Di trú và Quốc tịch mới bãi bỏ hẳn hệ thống ‘quota’ dựa trên chủng tộc và nguồn gốc quốc gia, thay bằng “hệ thống ưu tiên” dựa vào đoàn tụ gia đình, tay nghề, và yếu tố nhân đạo. Từ đó, người Á châu, Mỹ La-tinh, Phi châu mới thực sự bước vào dòng di trú hợp pháp với số lượng lớn. Nhờ vậy, cộng đồng Việt Nam, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mễ Tây Cơ… mới trở thành những khối rõ rệt trong bức tranh Mỹ về sau. Nhưng cái bóng của nỗi sợ di dân không vì thế mà tan. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, cách mạng Cuba, nội chiến Trung Mỹ, khủng hoảng kinh tế… mỗi làn sóng người mới lại làm dậy lên một câu hỏi cũ: “Họ là ai? Có đáng tin không? Có chiếm đất đai, chiếm công ăn việc làm của người Mỹ không?”

Sang thế kỷ 21, biến cố 9-11 biến di trú từ đề tài kinh tế – xã hội thành vấn đề “an ninh quốc gia”. Toàn bộ hệ thống được cải tổ với Bộ Nội An (DHS) ra đời vào. Sở Di Trú cũ bị chia nhỏ, nhập với biên phòng, hải quan. Đạo luật Patriot 2001, đặc biệt là Chương IV “Bảo vệ biên giới” trao liên bang quyền theo dõi sinh viên ngoại quốc, nối mạng dữ liệu giữa các cơ quan, và tăng lực lượng biên phòng. Từ đó, mọi cuộc tranh luận về di trú đều bị ám theo hai chữ “an ninh”. Liệu biên giới có an toàn không? Ai là “nguy cơ”? Bao nhiêu người không giấy tờ đang trong lòng nước Mỹ? Thống kê ước tính có khoảng 11 triệu người ở không giấy tờ, chiếm chừng 5% lực lượng lao động. Con số này trở thành cái mỏ vô tận cho những khẩu hiệu tranh cử.

Đó là phông nền mà Donald Trump bước vào. Ông tận dụng nó để biến di trú từ một chương luật rối rắm thành một cây đả cầu bổng trên diễn đàn chính trị.

Ngay từ lúc tranh cử, Trump đã chọn cách nói về di dân không phải bằng gương mặt và sức lao động của họ, cũng không bằng những đóng góp hàng trăm tỉ đô-la thuế mỗi năm, mà bằng những khẩu hiệu nặng mùi bài ngoại như “đầu độc máu huyết nước Mỹ”, “đến từ nhà tù, nhà thương điên”. Ông hiếm khi nhắc đến những người lương thiện hái dâu ở California, rửa chén ở New York, y tá trực đêm ở Texas, sinh viên trong giảng đường. Ông biến họ thành một “làn sóng” vô danh đầy đe dọa và ví họ như “thú vật”. Một khi đám đông “ngoài kia” bị vẽ thành mối nguy, mọi biện pháp mạnh tay đều có thể nhân danh “bảo vệ người Mỹ”.

Trong nhiệm kỳ đầu (2017–2021), dấu ấn Trump đậm nét nhất là ở biên giới phía Nam. Từ những sắc lệnh cấm công dân từ một loạt quốc gia – phần lớn là các nước Hồi giáo – đặt chân vào Mỹ, tới việc ép người xin tị nạn phải dạt sang bên kia biên giới Mễ Tây Cơ chờ đợi, rồi chính sách “zero tolerance” bức trẻ em ra khỏi vòng tay cha mẹ. Đây là những chiến lược được thi hành để phát ra một thông điệp: “Đừng bén mảng tới đây, nếu không muốn chính gia đình mình trở thành ví dụ răn đe tiếp theo.”

Nhưng biên giới chỉ là một mặt. Mặt kia nằm sâu trong nội địa. ICE – lực lượng Thi hành Di trú – được đẩy lên tuyến đầu như một lực lượng công an đặc vụ. Trên giấy tờ, ICE được lập ra để bắt người có lệnh trục xuất, dẹp buôn người, xử lý tội phạm nghiêm trọng. Dưới thời Trump, trọng tâm ấy trượt từ việc “ưu tiên tội phạm nặng” sang coi “bất cứ ai không có giấy tờ đều là mục tiêu”.

Trong vài năm trở lại đây, ICE hiện lên qua những cuộc bố ráp trong xưởng thịt, xưởng may, chợ lao động, trên đường phố. Những chiếc xe trắng không bảng số đậu lặng lẽ trước khu nhà di dân. Những lần chặn xe trên xa lộ khiến một cuốc đi chợ của người tài xế gốc Latinh có thể hóa thành chuyến bị sút thẳng về nước. Các thống kê độc lập ghi nhận số vụ trục xuất ngay trong nội địa tăng vọt, với không ít người bị đưa đi mà “tội” của họ chỉ là ở quá hạn hoặc những tội vặt vãnh. Trong mắt giới cố vấn của Trump, ICE là mũi nhọn của “cuộc chiến bảo vệ biên giới từ bên trong”. Trong thực tế, nó giống một lực lượng rình rập, biến những sinh hoạt thường ngày trong gia đình người lao động thành một chuỗi rủi ro thường trực.

Cuối nhiệm kỳ đầu, chính quyền Trump đã bắt đầu dùng Vệ binh Quốc gia, thậm chí quân đội, hỗ trợ truy bắt và trục xuất; mở thêm trại tạm giam lớn để giam người chờ trục xuất; cho phép viên chức di trú ký quyết định đuổi người ra khỏi nước mà không cần qua đầy đủ quy trình tòa án. Không phải tất cả đều thành công, vì có trường hợp bị tòa án, Quốc hội, phản ứng xã hội can thiệp, nhưng chúng cho thấy hướng đi mới “Nước Mỹ Trên Hết” của Trump với ưu tiên trên hết là “đuổi ra”, chứ không “đón vào”.

Trở lại Nhà Trắng năm 2025, ông Trump lặp lại khẩu hiệu “đợt trục xuất lớn nhất lịch sử”. Ngân sách cho ICE và biên phòng tăng cao. Vệ binh Quốc gia được điều xuống biên giới và một số thành phố lớn. Project 2025 được lấy ra khỏi ngăn kéo để biến thành chỉ thị. Số người bị bắt và trục xuất trong nội địa những tháng đầu nhiệm kỳ hai lại nhảy vọt. Các tổ chức nhân quyền ghi nhận nhiều vụ bắt bớ dựa trên “nghi ngờ” hơn là hồ sơ tội phạm cụ thể. Với nhiều gia đình, chuyện ICE trong khu phố không còn là nỗi lo xa xôi. Nó là câu hỏi rất cụ thể: sáng nay bố mẹ đi làm tối có về nhà được không.

Mũi nhọn chính sách không dừng ở người “không giấy tờ”. Lớp bị ảnh hưởng kế tiếp là tầng giữa – những người đã theo đúng luật đi đúng đường. Họ vào Mỹ bằng visa hợp lệ, học hành, đi làm, lập gia đình, đang trên đường xin thẻ xanh.  Suốt hơn nửa thế kỷ, luật Mỹ cho phép họ “điều chỉnh quy chế” ngay tại đây, nộp hồ sơ xin thường trú mà không cần quay về nước, nếu đáp ứng điều kiện. Mỗi năm khoảng một triệu đơn xin thẻ xanh, ước chừng phân nửa là của những người đang sống hợp pháp trên đất Mỹ. Đó là cây cầu nối từ thân phận “khách trọ” sang “thường trú lâu dài”.

Cuối tuần qua, chính cây cầu ấy bị rút những tấm ván quan trọng. Một thông báo từ Sở Di trú và Nhập tịch ngày 22 tháng 5 cho biết người đang ở Mỹ theo diện tạm trú, sinh viên, lao động tạm thời, du khách, nhiều trường hợp tị nạn hay được bảo vệ nhân đạo, nếu muốn xin thẻ xanh, giờ đây buộc phải rời Mỹ, trở về nước của họ nộp đơn tại lãnh sự quán. Chỉ những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt” do chính viên chức Sở cân nhắc mới được điều chỉnh quy chế ngay trong nội địa.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, thông lệ vẫn là ai vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện theo luật đều có thể “điều chỉnh quy chế” ngay trên đất Mỹ – nhất là vợ chồng, con cái công dân Mỹ, người giữ visa làm việc, du học sinh, người tị nạn sau một thời gian cư trú. Mỗi năm, khoảng một triệu hồ sơ xin thẻ xanh được nộp, và theo ước tính của một cựu quan chức USCIS, chừng một nửa trong số đó là nộp từ ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Chính sách mới đảo ngược trật tự lâu năm ấy. Chính quyền giải thích đơn giản là “Người tạm trú vào Mỹ là để ở một thời gian ngắn, với một mục đích rõ rệt. Hệ thống của chúng ta được thiết kế để họ rời đi khi chuyến viếng thăm kết thúc.”. Theo luật mới, từ nay việc nộp đơn tại Mỹ chỉ được chấp thuận trong những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt”, và nhân viên USCIS sẽ quyết định từng hồ sơ. Chính quyền gọi đây là “trở về với ý định nguyên thủy của luật”, là đóng một “khe hở” mà di dân lợi dụng để ở lại.

Nhưng bên dưới lớp chữ nghĩa đơn giản không phải là chuyện “chỉnh sửa thủ tục”, mà là một chủ trương dùng thủ tục để tạo nên trở ngại làm khó số người có thể ở lại Mỹ một cách hợp pháp.

Một gia đình ở Houston: vợ là công dân Mỹ, chồng mang visa H–1B làm kỹ sư, hai con học tiểu học. Nhiều năm qua, họ đi đúng đường, khai thuế, trình diện đúng kỳ, chờ tới lượt nộp hồ sơ xin thẻ xanh. Trước đây, họ nộp và chờ ngay tại Mỹ; chồng vẫn đi làm, con vẫn có bố đưa đón. Nay, anh buộc phải về nước nộp hồ sơ; lịch hẹn lãnh sự có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Trong thời gian đó, gia đình bị xé làm đôi, chỉ vì một chữ ký đổi quy trình.

Một bác sĩ ngoại quốc đang làm ở bệnh viện vùng nông thôn Kansas, nơi hiếm bác sĩ Mỹ nào chịu về. Bệnh viện sẵn sàng bảo trợ xin thẻ xanh cho anh. Nay anh phải rời Mỹ, chờ lãnh sự quán ở quê nhà phỏng vấn và xét đơn. Ai trực ca đêm ở phòng cấp cứu trong thời gian đó? Nếu hồ sơ bị treo vì lý do an ninh hay thủ tục, ai trả giá cho khoảng trống mà anh để lại?

Một đồng minh Mỹ ở Syria, Iraq, hay Afghanistan đang được bảo vệ tạm thời ở Mỹ Đang đi làm, cho con đi học, đang khó khăn hội nhập. Tòa đại sứ Mỹ tại Kabul đã đóng cửa từ khi Hoa Kỳ rút quân năm 2021. Nhiều lãnh sự quán các nơi khác hoạt động hạn chế. Đường quay về không chỉ là vé máy bay, mà là sinh mạng. Bảo anh muốn xin thẻ xanh hãy trở về nơi anh vừa liều chết để thoát ra là sự ác độc.

Các tổ chức nhân đạo, như tổ chức World Relief – một cơ quan nhân đạo Kitô giáo lâu năm trong lãnh vực tị nạn – dùng hai chữ “tàn nhẫn” và “chống gia đình” để mô tả chính sách mới. Chính sách này gần như xóa bỏ thông lệ hơn nửa thế kỷ cho phép người đã vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện, được điều chỉnh quy chế tại đây. Họ cảnh báo những “thế kẹt bắt buộc”. Nếu trở về, họ có thể không bao giờ quay lại. Nếu không về, hồ sơ chết yểu, họ bị đẩy từ diện hợp lệ sang bất hợp lệ.

Đặt chính sách mới này cùng với những đợt bố ráp trong nội địa và những lời hứa “trục xuất hàng loạt” cho thấy rõ mục tiêu không gì khác hơn là siết chặt di trú. Ngoài biên giới thì xây tường, đưa quân xuống. Bên trong nước Mỹ thì cho ICE và Vệ binh Quốc gia đi lùng người. Còn ngay trong hệ thống di trú hợp pháp thì siết chặt khâu xét thẻ xanh, biến mỗi bộ hồ sơ thành một ván cờ rủi nhiều hơn may.

Nhìn suốt từ cuối thế kỷ 19 tới nay, người ta luôn thấy hai cách kể khác nhau về nước Mỹ. Một bên là “nước Mỹ của di dân”, nơi hàng hàng lớp lớp người mới đến đặt thêm những viên gạch xây dựng bờ cõi. Bên kia là “nước Mỹ đóng cửa”, với những đạo luật, chiến dịch, lực lượng như ICE và hàng loạt thủ tục tưởng như thuần kỹ thuật nhưng thực ra dùng để bài di dân, sàng lọc, loại trừ, trục xuất.

Và câu chuyện lúc này không chỉ nằm ở những con số mỗi năm ICE bắt bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình bị tống khứ, bao nhiêu hồ sơ thẻ xanh bị hất ra lãnh sự quán không có cơ hội quay lại. Điều đang diễn ra là một bước ngoặt quan trọng. Nước Mỹ đang rời khỏi hình ảnh một quốc gia từng tin rằng có thể giữ vững biên giới mà vẫn tôn trọng phẩm giá con người và giữ đúng tinh thần một hợp chủng quốc. Nước Mỹ hôm nay dùng chính thân phận và số mạng của người di dân làm đòn bẩy, lá bài mặc cả và công cụ răn đe.

Chính quyền Trump đang đóng lại chính cánh cửa mà lịch sử nước Mỹ đã từng mở ra cho di dân. Đau lòng là trong tiếng khóa cửa ấy lại có cả tiếng vỗ tay của không ít di dân mới, cũ - những người đã từng trốn quê nhà đến đây mưu cầu hạnh phúc, thay vì chìa tay đỡ kẻ đến sau, lại sẵn sàng quay lại rút ván.

Nina HB Lê

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.