Hôm nay,  

Mùa Phật Đản đến gần tưởng niệm đức A Di Đà

05/06/202600:00:00(Xem: 567)
 
Phat Dan
  
Đuốc thiêng khai tuệ, thông tàng thức.
Xuyên suốt Ngân Hà, vũ trụ xa.
Thấu đáo cổ kim, kinh điển luận.
Phật tánh tự tâm, tức niết bàn!
CT
 
Khi còn trẻ tuổi, tối tối tôi học bài, làm bài ở bàn học, hay nghe thỉnh thoảng có tiếng rì rầm của bà nội tôi ở một góc nhà, là bà đang niệm phật: “… Nam Mô A Di Đà Phật”.
 
Nam Mô A Di Đà Phật… A Di Đà phật, “với một xâu tràng hạt trên tay, bà cứ niệm ba lần là bà tiến tới một hạt trong chuỗi……”
 
Buổi tối sau bữa ăn là nhà hoàn toàn yên lặng, chỉ có chúng tôi ngồi dò bài và bà nội niệm phật…
 
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…
 
Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
 
Rồi thời gian đi qua khá dài, mãi lúc tôi quy y tam bảo, tôi mới nghe được thầy dậy rằng: … đức thế tôn kể là: phật Như Lai không từ đâu tới, không đi về đâu, không sanh không diệt, không vì quá khứ, hiện tại, vị lai. Mà chỉ là thực hiện hạnh nguyện độ sanh, nên có một thế giới, tên là Cực Lạc. Ngài Pháp Tạng thành phật, hiệu là A Di Đà. Phật A Di Đà lúc làm bồ tát, ngài cầu đắc nguyện này và đã thành tựu.
 
Đức Bổn Sư Thích Ca kỳ vọng muốn mọi chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi, một lòng quy hướng về đức phật A Di Đà cùng 48 đại nguyện của ngài, vì những đại nguyện này là phao cứu vớt chúng ta đi qua thời mạt pháp.
 
Nay gần ngày phật đản, chúng ta tập tìm hiểu học về đức phật A Di Đà, tưởng cũng không xa đề. Nhiều người coi như phật A Di Đà có trong dòng lịch sử. Với quan điểm sử học, có người coi phật A Di Đà là hoang đường. Không có giá trị tôn giáo. Vậy thì họ định nghĩa thế nào là sử và thế nào là nhân vật lịch sử? Và tại sao cái thế giới hiện  hữu đây bằng thời gian bằng giác quan lại đáng tin tưởng hơn thế giới của tâm siêu việt?
 
Riêng hàng bổn đạo Tịnh Độ chúng tôi vẫn coi phật A Di Đà là có thật và sống trong tâm linh của mỗi phật tử.
 
Bằng chứng là ở trong gia đình nào đó khi có tang gia hữu sự, đều có bức ảnh phật A Di Đà đặt ở chỗ trang trọng nhất… và mỗi lần gặp nhau, mỗi chúng ta hay chào nhau câu đầu tiên “A Di Đà Phật!” Khi hành xử với nhau như vậy, chúng ta thấy A Di Đà là nguồn sinh lực, là điểm tựa, là tất cả ý nghĩa sống.
 
Một trong số bốn mươi tám lời nguyện của ngài là ngài không thành chánh đẳng chánh giác khi mọi chúng sanh chưa thành! Nhưng mà ngài đã thành chánh đẳng chánh giác từ vô lượng kiếp nào, mà lấy đó suy ra, chúng ta đã thành chánh giác có lẽ vậy!
 
Tuy nhiên phật A Di Đà không phải là một thực tại cá nhân trong không gian, thời gian nên chúng chúng tôi tin ngài còn gần mình hơn bài viết mình đang viết đây… và bởi do đó, sự thành đạo của ngài không thể không can dự đến tôi và đồng loại tôi được.
 
Khi ngài thành đạo, ngộ nhập vào thế giới tâm linh, tức là ngài tâm chứng chính ngài và chúng ta, mọi chúng sanh đều không sai khác, đều là một như nhau.
 
Vậy ngài thành tức chúng ta thành, chúng ta thành tức ngài thành. Đó là cơ mật của Đạo Giác  xin bạn hãy đọc lời nguyện thứ 11 của phật Quán Thế Âm:
Nam Mô Vô Lượng Thọ Quán Thế Âm
Di Đà Thọ Ký Nguyện.
 
Phật Quán Thế Âm muốn ký gởi chúng ta vào cõi tịnh độ A Di Đà.
 
Vậy khi tôi thành đạo, tức tôi có luôn sự thành đạo của những người xung quanh. Cõi tịnh độ là thế giới của tâm linh, còn thế giới đây là thế giới thường tục. Nhưng cả hai nơi đều thông dung nhau, nên khi bạn chứng tâm thanh tịnh, thế giới hoa nghiêm “sự sự vô ngại”, thì nước cam lồ thanh tịnh sẽ rửa sạch nghiệp chướng chồng chất từ bao giờ.
 
Còn nếu bạn chấp vào thế giới của luân lý nhị nguyên, điều động bởi tâm đại bi thì có thể sẽ đụng chạm, vô số khổ đau trong cuộc sống, kể cả những phát triển của khoa học, kỹ thuật cũng có thể là những khốn khổ cho loài người, ngoại trừ khi loài người thấu hiểu được lý đại bi.
 
Trong vòng lẩn quẩn quốc tế, các trào lưu dân chủ, dân quyền, bình đẳng, dằng co, những điều ấy cần xây dựng trên tinh thần bác ái vững chắc của lý đại bi bằng ngược lại các chính phủ có muốn làm gì để điều động guồng máy dân chủ, bằng luật lệ, bằng những kế hoạch kinh tế, kỹ nghệ, thương mại… siêu việt máy móc tới đâu… thì trong quần chúng dân chúng vẫn có bất mãn dù mạnh dù yếu như có điều gì thiếu, sai và chưa thỏa mãn…
 
A Di Đà qua 48 bổn nguyện công đức, nội dung là độ tất cả chúng sanh qua cảnh khổ do trí phân biệt, lòng đắm mê, dục vọng, ích kỷ, nghiệp chướng tạo ra. Bởi vì khi ta xác nhận cái tôi mà bỏ quên những gì ngoài cái tôi, nghĩa là lúc đó cái tôi (moi) được nâng cao lên trên cái tự ngã của nó thì thế giới quanh ta sa đọa ngay vào ít nhiều nỗi khốn đốn.
 
A Di Đà nhằm độ chúng ta qua khỏi cảnh khốn đốn đó. Ngài tiếp dẫn chúng ta đến chỗ chứng tâm thành tựu cuộc sống đạo.
 
Có những người quen với nếp sống luân lý phân biệt, họ sống tự nhiên dửng dưng mọi sự, cái gì đúng là đúng, cái gì sai là sai… nhưng họ không hề quan tâm đến một cảnh giới cao hơn vì họ không một lần để ý hay chứng nghiệm.
 
Còn tôn giáo thì không hề liên quan nhiều đến luân lý và luận lý. Mặc dù luân lý phát sinh ra từ tôn giáo là một ngẫu nhiên.
 
Tuy vậy có nhiều điểm chung và điểm riêng mà chúng ta ít để ý đến, giờ, thì nên để ý đến, thí dụ một chúng sanh phật tử đạo hạnh, đại diện của tôn giáo và một cá nhân vô tư đức hạnh, đại diện của luân lý… cả hai đều tránh làm việc ác, chuyên làm việc thiện siêng năng như nhau…
 
Nhưng người đức hạnh luân lý có cảm giác tự chế, cân nhắc hoặc từ khước, suy đoán một đôi khi.
Còn người đạo hạnh thì tự nhiên hồn nhiên như hoa nở bốn mùa. Tâm tưởng họ tự do, không chọn lựa vì đang lúc đó, như là A Di Đà tác động chớ không so đo cân nhắc, đó là một trực giác tâm linh, là tự trị tự ngộ, là “sự sự vô ngại.” Có khác với luân lý nhằm chỉnh đốn con người!
 
Sống đạo hạnh là thuận theo thiên nhiên, thuận theo cơ huyền diệu của đất trời, cuộc sống ấy vẫn tốt với mọi chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn không thể ngồi im sống tốt, dòm khá nhiều đồng loại đang đau khổ.
 
Với tinh thần A Di Đà, chúng ta không thể đắm mình trong dòng thiền lạc an nhiên, chúng ta cố gắng nói lên, kêu to lên những đau khổ của đồng loại. Cần tìm cách truyền qua, chuyển tải những gì mình thấy an ổn hơn, hòa bình hơn.
 
Mỗi chúng sanh đến từ thế giới Hoa Nghiêm. Chúng ta luôn cố gắng vươn lên chỗ chí thiện dù nhiều khi, biết, đó là điều không tưởng.
 
Vì sao? Vì chúng ta là con cháu của A Di Đà. Nên lời nguyện của A Di Đà tồn tại mãi mãi. Ngài biết rằng luôn luôn có hằng hà sa số chúng sanh chưa giác ngộ cho nên ngài chờ, chờ mãi mãi… triền miên.
 
Cố gắng của A Di Đà tưởng là dã tràng xe cát biển đông? Ngài cứ miệt mài làm công việc ấy, kiên nhẫn, chuyên cần, không chán nản, không than van… ngài làm một cách vui vẻ, hài lòng vì đức phật A Di Đà với việc làm của ngài chỉ là một !
 
Nam Mô A Di Đà Phật
Paris mùa Phật Đản 2026
Chúc Thanh
 
-      Xin cám ơn Ban Bui
-      Xin tri ơn T/g Trúc Thiên
qua tác phẩm the essence of bouddhisme

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.