Hôm nay,  

Mùa Phật Đản đến gần tưởng niệm đức A Di Đà

05/06/202600:00:00(Xem: 569)
 
Phat Dan
  
Đuốc thiêng khai tuệ, thông tàng thức.
Xuyên suốt Ngân Hà, vũ trụ xa.
Thấu đáo cổ kim, kinh điển luận.
Phật tánh tự tâm, tức niết bàn!
CT
 
Khi còn trẻ tuổi, tối tối tôi học bài, làm bài ở bàn học, hay nghe thỉnh thoảng có tiếng rì rầm của bà nội tôi ở một góc nhà, là bà đang niệm phật: “… Nam Mô A Di Đà Phật”.
 
Nam Mô A Di Đà Phật… A Di Đà phật, “với một xâu tràng hạt trên tay, bà cứ niệm ba lần là bà tiến tới một hạt trong chuỗi……”
 
Buổi tối sau bữa ăn là nhà hoàn toàn yên lặng, chỉ có chúng tôi ngồi dò bài và bà nội niệm phật…
 
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…
 
Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
 
Rồi thời gian đi qua khá dài, mãi lúc tôi quy y tam bảo, tôi mới nghe được thầy dậy rằng: … đức thế tôn kể là: phật Như Lai không từ đâu tới, không đi về đâu, không sanh không diệt, không vì quá khứ, hiện tại, vị lai. Mà chỉ là thực hiện hạnh nguyện độ sanh, nên có một thế giới, tên là Cực Lạc. Ngài Pháp Tạng thành phật, hiệu là A Di Đà. Phật A Di Đà lúc làm bồ tát, ngài cầu đắc nguyện này và đã thành tựu.
 
Đức Bổn Sư Thích Ca kỳ vọng muốn mọi chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi, một lòng quy hướng về đức phật A Di Đà cùng 48 đại nguyện của ngài, vì những đại nguyện này là phao cứu vớt chúng ta đi qua thời mạt pháp.
 
Nay gần ngày phật đản, chúng ta tập tìm hiểu học về đức phật A Di Đà, tưởng cũng không xa đề. Nhiều người coi như phật A Di Đà có trong dòng lịch sử. Với quan điểm sử học, có người coi phật A Di Đà là hoang đường. Không có giá trị tôn giáo. Vậy thì họ định nghĩa thế nào là sử và thế nào là nhân vật lịch sử? Và tại sao cái thế giới hiện  hữu đây bằng thời gian bằng giác quan lại đáng tin tưởng hơn thế giới của tâm siêu việt?
 
Riêng hàng bổn đạo Tịnh Độ chúng tôi vẫn coi phật A Di Đà là có thật và sống trong tâm linh của mỗi phật tử.
 
Bằng chứng là ở trong gia đình nào đó khi có tang gia hữu sự, đều có bức ảnh phật A Di Đà đặt ở chỗ trang trọng nhất… và mỗi lần gặp nhau, mỗi chúng ta hay chào nhau câu đầu tiên “A Di Đà Phật!” Khi hành xử với nhau như vậy, chúng ta thấy A Di Đà là nguồn sinh lực, là điểm tựa, là tất cả ý nghĩa sống.
 
Một trong số bốn mươi tám lời nguyện của ngài là ngài không thành chánh đẳng chánh giác khi mọi chúng sanh chưa thành! Nhưng mà ngài đã thành chánh đẳng chánh giác từ vô lượng kiếp nào, mà lấy đó suy ra, chúng ta đã thành chánh giác có lẽ vậy!
 
Tuy nhiên phật A Di Đà không phải là một thực tại cá nhân trong không gian, thời gian nên chúng chúng tôi tin ngài còn gần mình hơn bài viết mình đang viết đây… và bởi do đó, sự thành đạo của ngài không thể không can dự đến tôi và đồng loại tôi được.
 
Khi ngài thành đạo, ngộ nhập vào thế giới tâm linh, tức là ngài tâm chứng chính ngài và chúng ta, mọi chúng sanh đều không sai khác, đều là một như nhau.
 
Vậy ngài thành tức chúng ta thành, chúng ta thành tức ngài thành. Đó là cơ mật của Đạo Giác  xin bạn hãy đọc lời nguyện thứ 11 của phật Quán Thế Âm:
Nam Mô Vô Lượng Thọ Quán Thế Âm
Di Đà Thọ Ký Nguyện.
 
Phật Quán Thế Âm muốn ký gởi chúng ta vào cõi tịnh độ A Di Đà.
 
Vậy khi tôi thành đạo, tức tôi có luôn sự thành đạo của những người xung quanh. Cõi tịnh độ là thế giới của tâm linh, còn thế giới đây là thế giới thường tục. Nhưng cả hai nơi đều thông dung nhau, nên khi bạn chứng tâm thanh tịnh, thế giới hoa nghiêm “sự sự vô ngại”, thì nước cam lồ thanh tịnh sẽ rửa sạch nghiệp chướng chồng chất từ bao giờ.
 
Còn nếu bạn chấp vào thế giới của luân lý nhị nguyên, điều động bởi tâm đại bi thì có thể sẽ đụng chạm, vô số khổ đau trong cuộc sống, kể cả những phát triển của khoa học, kỹ thuật cũng có thể là những khốn khổ cho loài người, ngoại trừ khi loài người thấu hiểu được lý đại bi.
 
Trong vòng lẩn quẩn quốc tế, các trào lưu dân chủ, dân quyền, bình đẳng, dằng co, những điều ấy cần xây dựng trên tinh thần bác ái vững chắc của lý đại bi bằng ngược lại các chính phủ có muốn làm gì để điều động guồng máy dân chủ, bằng luật lệ, bằng những kế hoạch kinh tế, kỹ nghệ, thương mại… siêu việt máy móc tới đâu… thì trong quần chúng dân chúng vẫn có bất mãn dù mạnh dù yếu như có điều gì thiếu, sai và chưa thỏa mãn…
 
A Di Đà qua 48 bổn nguyện công đức, nội dung là độ tất cả chúng sanh qua cảnh khổ do trí phân biệt, lòng đắm mê, dục vọng, ích kỷ, nghiệp chướng tạo ra. Bởi vì khi ta xác nhận cái tôi mà bỏ quên những gì ngoài cái tôi, nghĩa là lúc đó cái tôi (moi) được nâng cao lên trên cái tự ngã của nó thì thế giới quanh ta sa đọa ngay vào ít nhiều nỗi khốn đốn.
 
A Di Đà nhằm độ chúng ta qua khỏi cảnh khốn đốn đó. Ngài tiếp dẫn chúng ta đến chỗ chứng tâm thành tựu cuộc sống đạo.
 
Có những người quen với nếp sống luân lý phân biệt, họ sống tự nhiên dửng dưng mọi sự, cái gì đúng là đúng, cái gì sai là sai… nhưng họ không hề quan tâm đến một cảnh giới cao hơn vì họ không một lần để ý hay chứng nghiệm.
 
Còn tôn giáo thì không hề liên quan nhiều đến luân lý và luận lý. Mặc dù luân lý phát sinh ra từ tôn giáo là một ngẫu nhiên.
 
Tuy vậy có nhiều điểm chung và điểm riêng mà chúng ta ít để ý đến, giờ, thì nên để ý đến, thí dụ một chúng sanh phật tử đạo hạnh, đại diện của tôn giáo và một cá nhân vô tư đức hạnh, đại diện của luân lý… cả hai đều tránh làm việc ác, chuyên làm việc thiện siêng năng như nhau…
 
Nhưng người đức hạnh luân lý có cảm giác tự chế, cân nhắc hoặc từ khước, suy đoán một đôi khi.
Còn người đạo hạnh thì tự nhiên hồn nhiên như hoa nở bốn mùa. Tâm tưởng họ tự do, không chọn lựa vì đang lúc đó, như là A Di Đà tác động chớ không so đo cân nhắc, đó là một trực giác tâm linh, là tự trị tự ngộ, là “sự sự vô ngại.” Có khác với luân lý nhằm chỉnh đốn con người!
 
Sống đạo hạnh là thuận theo thiên nhiên, thuận theo cơ huyền diệu của đất trời, cuộc sống ấy vẫn tốt với mọi chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn không thể ngồi im sống tốt, dòm khá nhiều đồng loại đang đau khổ.
 
Với tinh thần A Di Đà, chúng ta không thể đắm mình trong dòng thiền lạc an nhiên, chúng ta cố gắng nói lên, kêu to lên những đau khổ của đồng loại. Cần tìm cách truyền qua, chuyển tải những gì mình thấy an ổn hơn, hòa bình hơn.
 
Mỗi chúng sanh đến từ thế giới Hoa Nghiêm. Chúng ta luôn cố gắng vươn lên chỗ chí thiện dù nhiều khi, biết, đó là điều không tưởng.
 
Vì sao? Vì chúng ta là con cháu của A Di Đà. Nên lời nguyện của A Di Đà tồn tại mãi mãi. Ngài biết rằng luôn luôn có hằng hà sa số chúng sanh chưa giác ngộ cho nên ngài chờ, chờ mãi mãi… triền miên.
 
Cố gắng của A Di Đà tưởng là dã tràng xe cát biển đông? Ngài cứ miệt mài làm công việc ấy, kiên nhẫn, chuyên cần, không chán nản, không than van… ngài làm một cách vui vẻ, hài lòng vì đức phật A Di Đà với việc làm của ngài chỉ là một !
 
Nam Mô A Di Đà Phật
Paris mùa Phật Đản 2026
Chúc Thanh
 
-      Xin cám ơn Ban Bui
-      Xin tri ơn T/g Trúc Thiên
qua tác phẩm the essence of bouddhisme

Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.