Hôm nay,  

Không Độc Lập, Chẳng Tự Do

17/12/200700:00:00(Xem: 8793)

Mấy ngày qua trên Internet đã có nhiều hình ảnh và tin tức về các cuộc biểu tình của thanh niên Hà Nội, thanh niên Sài Gòn, xuống đường phản đối Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.

Đây là lần đầu tiên mọi người thấy tại Việt Nam, dưới chế độ công an kìm kẹp từ mấy chục năm nay, đã có một cảnh tượng khá hiếm hoi, khá lạ mắt. Đó là các cuộc  “biểu tình»,  với những cánh tay giơ lên, những tiếng hô «đả đảo», những biểu ngữ «phản đối» …

Mặc dầu có giả thuyết cho rằng đây là sự dàn dựng, do xung đột phe phái trong nội bộ kẻ cầm quyền, nhưng phải nói nhiệt huyết của thanh niên Việt Nam, của tuổi trẻ trong nước, hình như vẫn còn tồn tại, còn tiềm tàng, và đã có dịp bùng lên trước nỗi nhục ngoại xâm.

Thật vậy, người dân đã phải đứng lên, phản đối ngoại bang và thực sự bất bình trước cảnh đớn hèn nhu nhược, quị lụy thần phục quan thầy Bắc Kinh của tập đoàn Cộng Sản Hà Nội. Họ đã nhận chân được khẩu hiệu rỗng tuếch «Không có gì quí hơn Độc Lập-Tự Do» chỉ là sự lừa bịp của Hồ Chí Minh và đồng bọn. Sau bao nhiêu thảm kịch gây ra cho đất nước, người dân chẳng hề thấy Tự do. Còn Độc lập thì chưa bao giờ Cộng Sản Việt thoát ra khỏi cảnh lệ thuộc ngoại bang Phương Bắc. Ải Nam Quan đã mất. Thác Bản Giốc chẳng còn. Rồi đến Hoàng Sa, Trường Sa… Ngày Việt Nam trở thành quận lỵ của Trung Cộng chắc cũng không xa!

Thành ra, sau nửa thế kỷ đau thương chết chóc, Tự do chẳng hề có, mà Độc lập cũng chẳng còn! Thật là mỉa mai! Không biết giới trẻ Việt Nam có ý thức được điều nghịch lý này.

Nhiệt huyết xuống đường của thanh niên trong nước phải chăng là chỉ dấu báo hiệu, cho thấy một niềm hy vọng chưa tắt hẳn"

Niềm hy vọng đó là sự nhịn nhục của người dân Việt không phải là vô hạn định. Họ đã biết bất bình trước cảnh ngoại xâm. Hy vọng rằng rồi đây họ cũng sẽ biết bất bình trước cảnh «nội xâm». Sẽ vùng lên, không nhẫn nhục chịu đựng mãi, cảnh hàng ngày bị đè đầu cưỡi cổ, bị tước đoạt hết mọi quyền tự do cơ bản của con người. Không chấp nhận mãi, một tập đoàn cầm quyền độc tài tham nhũng bất lực, gồm vài chục tên có quyền có thế, tự tung tự tác, tự phong quyền sinh sát vĩnh viễn lên tám chục triệu dân.

Trong khi người dân Việt nhẫn nhục chịu đựng độc tài công an trị từ mấy chục năm nay, thì nhìn quanh thế giới gần đây, tại các quốc gia mà dân trí chẳng hơn gì Việt Nam, người dân của họ đã biết vùng lên, không chấp nhận kẻ cầm quyền độc đoán.

Phải chăng họ can đảm hơn người Việt Nam"

Thực vậy, ai cũng phấn khởi khi thấy người dân tại những nước này đã dũng cảm, rần rộ xuống đường, phản đối chống trả, bất chấp sự đàn áp của các tập đoàn thống trị. Nhưng lại không khỏi buồn tủi bất nhẫn, khi chạnh nghĩ đến số phận người dân Việt, cho đến nay vẫn im lìm, an phận cam chịu, trước sự đè nén của bạo quyền. 

Trước hết là hình ảnh hàng ngàn sư sãi Miến Điện đi biểu tình như thác lũ, phản đối đám quân phiệt thống trị. Mặc dù sau đó họ bị đàn áp đẫm máu, lòng can đảm của họ đã khiến cả thế giới phải cảm phục. Cộng đồng quốc tế đồng thanh lên án, cô lập chế độ độc tài.

Rồi đến cảnh tượng dân chúng tại Pakistan, tại Nga, tại Venezuela … xuống đường hò hét, phản đối, chống lại kẻ cầm quyền. Họ chưa thành công nhưng các chế độ toàn trị tại đây đã phải trùn bước, không dám thẳng tay, tự tung tự tác.

Tướng Musharraf phải bãi bỏ thiết quân luật tại Pakistan, rời khỏi quân đội để có thể tái ứng cử. Trùm Mật vụ Nga Putin không dám thẳng tay đàn áp đối lập, phải thả lãnh tụ phản kháng Kasparov, dẹp bỏ tham vọng ngồi lì thêm một nhiệm kỳ. Tại Venezuela, người dân đã xuống đường, không chấp nhận mưu toan làm «tổng thống suốt đời» của  Hugo Chavez.

Các thể chế độc tài không khi nào có thiện chí thực thi Dân chủ. Chúng chỉ nhượng bộ trước áp lực của đường phố, trước phản kháng của toàn dân. Người dân tại các nước vừa kể đã chứng tỏ sự quyết tâm của họ. Lòng dũng cảm đã bột phát mặc dầu bị kẻ thống trị đè nén lâu dài.

Sau này, nếu họ có cuộc sống xứng đáng, có Tự do, Dân chủ, là dĩ nhiên, là kết quả gặt hái được do lòng quả cảm của họ.

Câu thành ngữ tiếng Anh càng thấm thía!  “Freedom is not free!». Tự Do phải trả giá, không thể được “cho không”!

Vậy thì so sánh với các dân tộc vừa kể, phải chăng người dân Việt chưa chịu “trả giá”, chưa dám nổi dậy lật đổ độc tài vì thiếu can đảm"

Phân tích tâm lý của quần chúng nổi dậy, dĩ nhiên yếu tố “can đảm” là cần thiết. Nhưng một yếu tố khác không kém quan trọng cũng góp phần. Đó là sự “ý thức”. Phải ý thức được tính “cần thiết” của Dân chủ. Phải ý thức được “sự nhục nhã” khi bị tước đoạt hết các quyền cơ bản của con người, như tự do phát biểu, hội họp, như tự do báo chí, công đoàn …. Không nhận thấy Dân chủ là cần thiết, không cảm thấy nhục nhã khi bị tước đoạt hết quyền Tự do, thì cũng rất khó khơi dậy “lòng can đảm”.

Người dân dưới các thể chế toàn trị, đôi khi không thiếu can đảm, mà chỉ vì chẳng có khái niệm gì về Dân Chủ, về Tự Do, những điều hoàn toàn xa lạ đối với họ. Tâm lý quần chúng như vậy đã là những môi trường rất béo bở cho tập đoàn độc tài kéo dài ách thống trị.

Tại những nước Phương Tây, sở dĩ nền Dân chủ được bảo toàn lâu dài, là vì người dân có ý thức rất cao về các quyền tự do cơ bản của con người. Họ quyết tâm gìn giữ, không chấp nhận cho kẻ nào xâm phạm các quyền căn bản này. Họ ý thức được rằng đây là quyền tối thiểu phải có, và cảm thấy nhục nhã nếu bị tước đoạt.

Từ chỗ biết “ý thức”, biết “nhục nhã”, mới dẫn đến sự quyết tâm, mới dẫn đến lòng can đảm.

Những tập đoàn thống trị tại Trung Hoa, Việt Nam, ngoài việc dùng công an nhà tù gây sợ hãi trong quần chúng, còn áp dụng chính sách giáo dục ngu dân, bưng bít thông tin, để người dân chẳng còn ý thức được những quyền lợi cơ bản chính đáng của mình. Từ đó chẳng thể khơi dậy sự quyết tâm, lòng can đảm, để vùng lên tháo gỡ gông cùm.

Cho nên, đánh động ý thức Dân chủ nơi người dân, vạch trần, tố cáo, các vi phạm Nhân quyền của chế độ, vẫn là những bước quan trọng, trong tiến trình dẫn đến sự trút bỏ ách độc tài.

Hiện thời, với các phương tiện truyền thông điện tử hiện đại chưa từng có, đây là cơ hội ngàn vàng để thông tin, để thức tỉnh người dân dưới các thể chế độc tài. Đây là vũ khí sắc bén nhất để chọc thủng “bức tường dối trá, ngu dân” mà các chế độ toàn trị dựng lên giam hãm người dân.

Ngày nay người dân Việt trong nước đang bị trấn áp, bị bịt miệng, chưa thể lên tiếng. Cộng Đồng hải ngoại có bổn phận phải hỗ trợ, phải lên tiếng thay họ. Sự chống đối tập đoàn độc tài Hà Nội của người Việt hải ngoại, sự tố cáo liên tục, phanh phui trước quốc tế, là những hành động khôn ngoan, sáng suốt, cần duy trì.

Trái với sự chê bai, chỉ trích của một số người ác ý, hiện nay, hơn lúc nào hết, chưa bao giờ việc “Chống Cộng bằng mồm” lại hữu hiệu, lại cần thiết như vậy!

Thụy Sĩ, Tháng 12. 2007

Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.
Đối với triết gia Immanuel Kant, lời nói dối là “cái ác bẩm sinh sâu xa trong bản chất con người” và cần phải tránh xa ngay cả khi đó là vấn đề sống còn1. Trong tác phẩm “Deciphering Lies”, Bettina Stangneth, 2017, viết rằng: “Trong số những lý do khiến người ta nói dối vì điều đó có thể giúp họ che giấu bản thân, ẩn náu và tránh xa những người xâm phạm vùng an toàn của họ.” Stangneth cho biết thêm, “cũng không khôn ngoan khi thả trẻ em ra thế giới mà không biết rằng người khác có thể nói dối chúng.” The Wasghington Post, ban kiểm tra sự thật, cho biết: Trong bốn năm làm tổng thống thứ 45, từ 2017-2021, đến cuối nhiệm kỳ, Trump đã tích lũy 30.573 lời nói dối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống - trung bình khoảng 21 lời tuyên bố sai lầm mỗi ngày. Từ khi thua cuộc tái ứng cử vào tay tổng thống Joe Biden cho đến giờ này, tranh cử với bà Harris, ông Trump càng gia tăng khẩu phần nói dối, phong phú đến mức độ không thể đếm cho chính xác.
Câu chuyện hoang tưởng “di dân ăn thịt chó, mèo” của Donald Trump và JD Vance gây ra nỗi sợ hãi, tạo ra nhiều kích động tiêu cực, vì nó được nói ra trước 81 triệu dân Mỹ, từ một cựu tổng thống. Những lời vô căn cứ tràn đầy định kiến và thù hận đó như một bệ phóng cho con tàu “Kỳ Thị” bay vút vào không gian của thế kỷ 21, thả ra những làn khói độc. Nó như một căn bệnh trầm kha tiềm ẩn lâu ngày, nay đúng thời đúng khắc nên phát tán và lan xa. Nói như thế có nghĩa, con tàu “Kỳ Thị” này, căn bệnh này, vốn đã có từ rất lâu đời. Nó âm ỉ, tích tụ, dồn nén theo thời gian, chực chờ đến ngày bùng nổ. Một tuần qua, người Haiti, là nạn nhân của cơn bùng phát này. Gần nửa thế kỷ trước, và cho đến tận nay, là cộng đồng người gốc Việt.
Sự trỗi dậy của những nhóm cực hữu đang làm sống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, một căn bệnh trầm kha chưa bao giờ thực sự chấm dứt ở Hoa Kỳ. Để thực hiện những chương trình nghị sự của mình, những người theo chủ nghĩa thượng tôn da trắng đã thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật khác nhau. Trong những năm gần đây, nhiều nhà hoạt động đã cảnh báo các nhóm cực hữu đang cố sử dụng nền tảng giáo dục làm công cụ để bảo vệ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Một bài viết trên trang mạng lithub.com của tác giả Jason Stanley đã phân tích sâu sắc về đề tài này.
Nhìn ở bề ngoài thì ông Benjamin Netanyahu, Thủ tướng Do Thái, đang làm cái việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu từng làm với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Năm đó ông Thiệu bị cáo buộc là hành động để đảng Dân Chủ thua đảng Cộng Hòa còn bây giờ thì, xem ra, ông Netanyahu lại đang tháu cáy với nước cờ tương tự tuy nhiên bản chất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Khi còn tại chức, không ít lần, T.T Nguyễn Xuân Phúc đã khiến cho dân tình hoang mang hay bối rối khi nghe những câu chữ rất lạ kỳ: “Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Vĩnh Phúc sẽ vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Long An phải trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Hải Phòng là đầu tàu quan trọng của cả nước’, ‘Bình Dương phải là đầu tàu phát triển kinh tế mạnh nhất của cả nước …”
Nhưng 64 năm sau (1960-2024), đảng đã thoái hóa, biến chất. Đảng viên thì tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống tự diễn biến và tự chuyển hóa, bài bác Chủ nghĩa Mác-Lênin và cả “tư tưởng Hồ Chí Minh” nữa...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.