Hôm nay,  

Cuộc Chiến Vẫn Tiếp Diễn

21/02/200800:00:00(Xem: 9363)

Cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ (ĐDC) đang tiến tới một tình trạng chưa từng xảy ra trong lịch sử Hoa Kỳ.  Trong các cuộc bầu cử sơ bộ trước kia, thường thì chỉ vài ba tiểu bang đầu, ứng cử viên tổng thống đã được chọn.  Nhưng kỳ này thì rất khác.  Cho đến nay ĐDC chỉ còn 18 tiểu bang và lãnh thổ, nhưng họ vẫn chưa thể nhận diện được ai sẽ là ứng cử viên tổng thống kỳ này.

 Cả hai ứng cử viên thuộc ĐDC: thượng nghị sĩ (TNS) Hillary Clinton của tiểu bang New York và TNS Barrack Obama của tiểu bang Illinois vẫn còn vận động gay go ở những tiểu bang còn lại.  Ngày 4 tháng 3 tới đây rất quan trọng vì dó là ngày bầu cử sơ bộ của một số tiểu bang trong đó có 2 tiểu bang lớn là Texas và Ohio.

Theo sự phỏng đoán của đài truyền hình CNN: nếu TNS Obama vẫn tiếp tục thắng TNS Hillary Cliton tất cả những tiểu bang và lãnh thổ còn lại, nhưng cũng vẫn với tỷ số tương tự như từ trước tới giờ-khoảng 60%/40%-thi` cuối cùng cuộc tranh cử sơ bộ vẫn bất phân thắng bại.  ĐDC áp dụng quy luật bầu cử sơ bộ theo hệ thống tỷ số, nghĩa là số đại biểu (ĐB) sẽ được phân phối theo phần trăm số cử tri mà ứng cử viên đã đạt được.  Có 2 loại ĐB: loại thứ nhất gọi là đại biểu cử tri (ĐBCT) (pledged delegate).  Đây là những đại biểu mà ứng cử viên chiếm được từ những phân bộ đảng ở các tiểu bang.  Loại thứ nhì gọi là siêu đại biểu (SDDB) (superdelegate).  Đây là những viên chức cao cấp trong đảng như các TNS, các hạ nghị sĩ (HNS), các thống đốc, v.v..  Mỗi SDDB tương đương với khoảng 10,000 cử tri.  Tổng số ĐB trong ĐDC là 4049 ĐB: 3253 ĐBCT và 796 SDDB.  Để thắng cuộc bầu cử sơ bộ, ứng cử viên phải chiếm được 2025 ĐB.  

 Cho đến thứ hai 18 tháng 2, 2008 TNS Obama chiếm được 1102 ĐBCT và 160 SDDB, tổng số là 1262 ĐB.  TNS Clinton chiếm được 978 ĐBCT và 235 SDDB, tổng cộng là 1213.  Cả hai chỉ cách nhau 49 ĐB!  Theo những con số trên thì cho đến nay vẫn còn 1173 ĐBCT và 383 SDDB vẫn chưa trao cho ai cả.

Sở trường của TNS Obama là lối diễn thuyết có thể khuấy động giới trẻ.  Lối diễn thuyết này rất giống Martin Luther King, Jr..  Chủ trương của TNS Obama là sự đổi mới.  Chỉ mới có 47 tuổi, TNS Obama đã khiến giới trẻ cảm thấy gần gũi và cảm thông.  Ông nói lên những gì mà giới trẻ đang khao khát.  Đã đến lúc Washington cần một khuôn mặt mới, một sinh khí mới, một phương hướng mới, và những hy vọng mới.  Chính vì thế đa số cử tri bầu cho TNS Obama là giới trẻ.  Nếu Al Gore tượng trưng cho sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật thì Barrack Obama tượng trưng cho sự đổi mới.  Dĩ nhiên người Mỹ gốc Phi Châu hoàn toàn bầu cho ông.  Qua bao nhiêu lần cố gắng, đây là lần đầu tiên họ có một ứng cử viên gốc Phi Châu có thể tiến xa đến như vậy.  Jesse Jackson, Al Sharpton chưa hề có thể dẫn đầu trong bất kỳ cuộc bầu cử sơ bộ nào, huống hồ chi là đã hơn quá nửa đường.

Nhưng TNS Obama cũng không hoàn toàn chiếm được lòng mọi người trong ĐDC.  Nên nhớ ông chỉ thắng 60%.  Phần cử tri còn lại đã bầu cho TNS Clinton.  Đa số là phụ nữ và những người thuộc giới trung lưu (middle class).  Họ là những người mất mát nhiều nhất dưới thời chánh phủ Bush.  Chánh sách xuất cảng việc làm (outsource) đã khiến bao nhiêu việc làm lương cao biến mất trên nước Mỹ.  Giá xăng tăng hơn gấp đôi khiến vật giá leo thang.  Lương thì không tăng, thậm chí nhiều khi còn bị cắt giảm khiến cuộc sống nhiều gia đình trung lưu trở nên eo hẹp, khốn đốn.  Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng địa ốc hiện đang lan tràn khắp nơi khiến rất nhiều gia đình trung lưu phải mất nhà mất cửa. 

Giới trung lưu là giới thiệt thòi nhất trong xã hội Mỹ.  Ước chừng khoảng 80% thuế mà chánh phủ thâu được là từ giới trung lưu, nhưng họ lại được hưởng ít quyền lợi nhất.  Tiền thuế an sinh xã hội (social security contribution) họ đóng là để cấp dưỡng cho những người hưu trí hiện nay.  Họ không được hưởng bất cứ một quyền lợi y tế nào của chánh phủ cả.  Một quyền lợi duy nhất mà họ có thể nhận được là tiền thất nghiệp (unemployment benefit).  Không những thế, giới này đang trở nên ít dần đi.  Nhiều người từ giới hạ trung lưu (lower middle class) đã bị rơi xuống trở thành giới nghèo  khó (lower class).  Nếu dười thời tổng thống (TT) Bill Clinton có nhiều ngừời từ giới trung lưu trở thành triệu phú nhất, thì dưới thời TT Bush có nhiều người từ giới trunh lưu biến thành giới nghèo khó nhất.

Đây có thể là một trong những lý do giới trung lưu dồn phiếu cho bà Hillary Clinton.  Có lẽ họ nghĩ rằng bà sẽ có chánh sách phục hồi và phát triển kinh tế tương tự như chồng bà; và đương nhiên, ủy ban kinh tế của chánh phủ bà sẽ bao gồm những chuyên gia từ chánh phủ Bill Clinton.

Như vậy thì quan điểm giữa TNS Obama và TNS Clinton có gì khác biệt"  Họ khác nhau ở hai điểm quan trọng: bảo hiểm sức khỏe (healthcare) và Iraq.

TNS Clinton chủ trương thiết lập hệ thống bảo hiểm sức khỏe công cộng (universal healthcare) tương tự như các nước công nghiệp tiên tiến như Gia Nã Đại, Anh Quốc, Pháp, Thụy Điển, Uc Đại Lợi, v.v..   TNS Obama thì không tiến xa đến như thế mà chỉ tuyên bố sẽ làm giảm giá bảo hiểm sức khỏe khiến nhiều người nghèo sẽ có được bảo hiểm.

Nếu ai đã hay đang làm việc ở Hoa Kỳ cũng đều hiểu được rằng giá bảo hiểm sức khoẻ khấu trù hàng tháng gia tăng trong vòng 5 năm nay như thế nào.  Bây giờ không ai dám chọn các chương trình PPO mà chỉ có thể chịu nổi các chương trình HMO.  Và ai cũng thừa hiểu HMO nó khổ sở như thế nào.  Giá co-pay mỗi lần gặp bác sĩ cứ tăng dần, từ $10 rồi $15, có khi lên đến $25.  Mỗi lần muốn gặp bác sĩ chuyên môn phải xin phép hãng bảo hiễm, có khi dây dưa đến cả tháng.  Sự gia tăng giá bảo hiểm cũng là một gánh nặng cho các công ty, nhất là những công ty nhỏ cỡ dưới 100 nhân viên.  Vấn đề nan giải này đã khiến nhiều công ty nhỏ phải sa thải nhân viên, có khi phải đóng cửa.  Về phía nhân viên, nếu ai mà đang ở trong khoảng tuổi trên 50 thì rất có nhiều cơ hội họ sẽ bị sa thãi.  Lý do là vì năng xuất họ sẽ kém đi, lương họ cũng khá cao, và một điểm quan trọng nữa là bảo hiểm sức khỏe của họ sẽ rất mắc.  Mà nếu họ bị sa thãi thì họ sẽ không có bảo hiểm sức khoẻ gì cả.  Họ không thể nào cưu mang nổi một chương trình COBRA vì nó rất là mắc.  Họ vẫn chưa đủ 65 tuổi để xin Medicare.  Nếu trong thời gian này mà họ có chuyện gì về sức khỏe thì họ chỉ đành phải chịu vậy.

Hãy thử tưởng tượng một hệ thống bảo hiểm sức khoẻ công cộng.  Tất cả công dân hay thường trú dân đều có thể xử dụng hệ thống y tế do chánh phủ đài thọ.  Dù cho ai có việc làm hay không, họ vẫn được bảo đảm dịch vụ y tế.  Về phía các công ty, họ không cần phải trả tiền bảo hiểm cho nhân viên khiến họ dễ dàng lựa chọn nhân viên.  Chánh phủ sẽ chi phí chương trình này bằng thuế do dân đóng góp.  Điều này có nghĩa là chánh phủ sẽ tăng thuế.  Hiện nay thuế lợi tức của một gia đình trung lưu ở Mỹ là khoảng trên dưới 30%.  Nếu chánh phủ áp dụng kế hoạch này, rất có thể thuế sẽ tăng lên 40%.  Phe chống kế hoạch này sẽ viện lý do tăng thuế để dọa dân chúng.  Ở Mỹ, khi nghe tăng thuế thì ai cũng hoảng sợ, và các chính khách thường xuyên dùng phương cách đe dọa này.

Nhưng nếu người dân khỏi phải đóng tiền bảo hiểm sức khoẻ rồi lấy tiền đó bù qua để trả thuế, như vậy tiền đem về hàng tháng vẫn không thay đổi là bao.  Như vậy thì có gì khác nhau giữa hệ thống bảo hiểm hiện nay và hệ thống bảo hiểm công cộng mà TNS Clinton đề xướng"  Sự khác biệt là ở chỗ mọi người không cần phải lo lắng cho dịch vụ sức khoẻ nữa.  Người dân khỏi cần phải bám víu vào việc làm nhằm để có bảo hiểm.  Sự kinh doanh cũng dễ dàng hơn cho những ai muống khai mở hãng xưởng, và công ăn việc làm sẽ gia tăng.  Hoa Kỳ là một nước công nghệ giàu có duy nhất không có hệ thống sức khỏe công cộng, và dân Mỹ là dân làm việc cực khổ nhất so với các nước tiên tiến khác. 

Về vấn đề Iraq, cả hai TNS Obama và Clinton đều tuyên bố sẽ rút lui; nhưng Obama gia hạn 16 tháng, còn Clinton thì không cho hạn kỳ rõ rệt.

Thử nghĩ xem nếu theo kế hoạch của TNS Obama, Hoa Kỳ sẽ rút lui trong vòng 16 tháng, chuyện gì sẽ xảy ra ở Iraq"  Ở vùng trung đông"  Cộng đồng người Việt hải ngoại chúng ta chắc ai cũng có thể mường tượng ra một 30 tháng 4 nữa.  Chánh phủ Iraq liệu có thể đứng vững được bao lâu"  Iran sẽ tạo áp lực ra sao lên Iraq"  Hoa Kỳ còn có chân đứng ở trung đông nữa hay không"  Nếu Hoa Kỳ ào ạt rút quân khỏi Iraq, căn cứ quân sự duy nhất Hoa Kỳ còn lại ở vùng vịnh là Kuwait.  Hoa Kỳ đã đóng phần lớn các cơ quan quân sự ở Arab Saudi sau khi chiếm dược Iraq.  Liệu Hoa Kỳ còn có ảnh hưởng gì đến chánh phủ Iraq sau này"  Trước khi chế độ Saddam sụp đổ Iraq là một nước mạnh về quân sự.  Các nước lân cận như Iran, Kuwait, Arab Saudi, Jordan, thậm chí Turkey rất sợ Iraq.  Sau khi chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất dưới thời TT H. W. Bush (41), Iraq bị Hoa Kỳ kềm hãm triệt để.  Trong suốt 8 năm từ 1992 đến 2000 dưới thời TT Bill Clinton, Hoa Kỳ đã hoàn toàn phong tỏa Iraq, cả quân sự lẫn kinh tế, và nhờ vậy vùng vịnh rất yên tĩnh.  Nhờ vào chánh sách đổi dầu lấy thực phẩm (oil for food) của TT Bill Clinton, Hoa Kỳ đã nắm chặt hầu bao của các nước đang khao khát dầu để phát triển kinh tế.  Tất cả dầu xuất khẩu khỏi Iraq và lương thực, thuốc men nhập vào Iraq đều phải được sự thông qua của Liên Hiệp Quốc (LHQ), và dĩ nhiên lúc đó Hoa Kỳ có uy tín và ảnh hưởng rất lớn ở LHQ.

Sau khi chế độ Saddam sụp đổ năm 2003 do quyết định tấn công Iraq của chánh quyền Bush, vùng vịnh bỗng như nhà bỏ hoang.  Các nước chung quanh chẳng còn thế lực mạnh nào để lo ngại nữa.  Tất cả đều đứng bên lề chờ xem Hoa Kỳ sẽ dựng chế độ mới ở Iraq ra sao.  Nhưng Hoa Kỳ đã thất bại trong vấn đề bảo an và xây dựng Iraq mặc dù đã chi phí 200 tỷ dollar mỗi năm.  Iran trong thời gian qua đã phát triển mạnh kinh tế và quân sự, và hiện nay có thể họ đang chế tạo vũ khí hạt nhân.  Sự vắng mặt của Hoa Kỳ sẽ khiến Iran trở nên quốc gia quan trọng ở vùng vịnh.

Nhưng nếu không rút quân thì Hoa Kỳ sẽ lưu lại đó cho đến chừng nào"  Hoa Kỳ đã quá lún sâu vào vũng lầy Iraq.  Không thể nào cứ như thế này hoài được.  Quân lính ngày càng khan hiếm.  Các binh sĩ đang tại ngũ đã kiệt sức.  Phải có một ngày Hoa Kỳ rút lui khỏi Iraq.  Nhưng khó mà có thể đoán trước thời hạn là bao lâu thì sẽ thi hành.  TNS Clinton vì thế đã không tuyên bố một thời hạn nào rõ ràng cả.  Trong cuộc tranh luận do CNN tổ chức, bà phát biểu rằng không ai có thể phán quyết thời hạn để rút quân cho đến khi người đó tiếp nhận đầy đủ dữ kiện từ chánh quyền trước.  Tuyên bố một mấu chốt thời gian trước khi thấu hiễu tình hình là non nớt, hấp tấp.

Về phía đảng Cộng Hoà (ĐCH), hôm thứ hai có tin vui cho TNS John MacCain.  Cựu TT H. W. Bush (41) đã tuyên bố ủng hộ cho TNS McCain.  TNS McCain tuy đang là ứng cử viên dẫn đầu trong ĐCH nhưng vẫn chưa được giới bảo thủ (conservative) chấp nhận.  Họ cho rằng ông ta quá thân cận với ĐDC và không chấp nhận chủ trương nhân nhượng đối với vấn đề các người di dân bất hợp pháp.  Mike Huckabee, tuy lẹt đẹt theo sau nhưng nhất định không bỏ cuộc.  Cựu TT Bush phải hàm ý khuyên Huckabee nên bỏ ý định tiếp tục tranh cử vì sẽ tốn kém cho cả đôi bên.  Hiện nay cả hai, TNS McCain và Huckabee đều rất túng thiếu.  Người giàu có nhất trong kỳ bầu cử sơ bộ này của ĐCH là cựu thống đốc Mitt Romney, nhưng ông đã bỏ cuộc và ủng hộ TNS McCain.

Có hai điều lạ xảy ra trong kỳ bầu cử TT này.  Điều lạ thứ nhất là thông thường thì nếu kỳ bầu cử mà rơi vào cuối nhiệm kỳ của TT đương thời, ứng cử viên của đảng đang nắm Toà Bạch Ốc (TBO) phải là phó tổng thống (PTT).  Bush (41) là PTT dưới thời Reagan, Al Gore là PTT dưới thời Bill Clinton.  Nhưng kỳ này ta không thấy ứng cử viên Cheney!  Chẳng hiểu vì lý do gì ĐCH không chọn vị PTT đương kim ra ứng cử.  Tuổi của PTT Cheney cũng chưa đến nỗi già lắm so với một chính khách.  Ông chỉ mới 66, vừa đúng tuổi hưu trí.  TNS McCain còn cao niên hơn PTT Cheney nhiều.  Ông đã 71 mà vẫn còn hăng say phục vụ quốc gia.

Điều lạ thứ nhì là không thấy ai trong TBO ra ủng hộ cho ứng cử viên ĐCH nào cả.  TT Bush chỉ ra tuyên bố bâng quơ là dân chúng ĐCH nên ủnh hộ cho ứng cử viên của đảng mình nhưng không nêu đích danh là ông ủng hộ cho ai.  Thật ra điều này cũng không khó hiểu lắm.  Với sự bất tín của dân chúng nói chung, và dân chúng thuộc ĐCH nói riêng, thì nếu TT Bush mà tuyên bố ủng hộ cho kẻ nào thì coi như dao kề vào cổ kẻ ấy.  Nhưng với cương vị một dương kim TT mà chẳng làm gì cho đảng phái của mình thì cũng bẽ mặt quá; nên chắc có lẽ vì thế TT Bush phải lên tiếng cho có lệ.

Riêng giữa TT Bush và TNS McCain thì đã từng có xích mích.  Trong lần bầu cử sơ bộ năm 1999, TNS McCain bất thình lình thắng ở New Hampshire.  Bush, lúc đó đang là thống đốc (TDD) band Texas, quá hoảng sợ bèn tung trò bẩn, thoá mạ TNS McCain ở South Carolina.  Ngày mà thống kê thăm dò dư luận (poll) cho thấy TNS McCain thắng TDD Bush 5%, Bush cùng với một cựu chiến binh tên J. Thomas Burch lên án TNS McCain đã bỏ rơi các tù binh chiến tranh và các binh sĩ mất tích ở Việt Nam và vấn đề chất da cam (agent orange).  TNS McCain trả đũa qua các quảng cáo truyền hình (ads), cáo tội TDD Bush nói láo và so sánh Bush với TT Bill Clinton.  TDD Bush dựa vào đó, cho là bị sỉ nhục (")  Trong lúc đôi bên đang ấu đả dữ dội thì bỗng nhiên có một tổ chức ngấm ngầm hoạt động.  Họ không nêu rõ thuộc tổ chức nào và chỉ dùng e-mail, fax, và thư rơi (flyer), bôi nhọ TNS McCain một cách trắng trợn.  Họ nói rằng TNS McCain đã từng có con vơi một người da đen.  Thật ra TNS McCain có nhận một đứa con nuôi tên Bridget người Bangladesh.  Họ còn tung tin rằng là bà vợ của TNS McCain, Cindy, nghiện thuốc phiện, rằng là TNS McCain là người đồng tính luyến ái.  TNS McCain giận vô cùng và đã buộc tội TDD Bush là thủ phạm.  Dĩ nhiên TDD Bush từ chối phăng, còn tuyên bố rằng nếu biết được ai trong nội bộ của ông làm như vậy là sẽ đuổi cổ ngay.  Nhưng đây không phải là lân đầu tiên người ta thấy trò bẩn thỉu này.  Nó đã xảy ra một lần trước ở Texas khi Bush đang tranh cử thống đốc tiểu bang với bà Ann Richards.  Cuộc bầu cử sơ bộ của ĐCH ở South Carolina năm 1999 được xem là cuộc tranh đua chính trị dơ bẩn và gớm ghiếc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

 TNS John McCain là một người rất cương trực.  Ông luôn hãnh diện về lý lịch của mình trong quá trình hoạt động chính trị.  Qua các lần nói chuyện, tranh luận của các ứng cử viên cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa,  nếu ai để ý sẽ thấy TNS Clinton ít khi nào nêu đích danh hay có vẻ khiêu khích TNS McCain.  TNS Obama thì ngược lại, rất thường xuyên nêu tên và khiêu khích McCain.  Điều đó cho thấy phần nào sự kính trọng của TNS Clinton đối với TNS McCain.

Phụng sự quốc gia là một trọng trách và vinh dự.  Sự tranh đấu trên chính trường là một quá trình mà chính khách nào cũng phải trải qua.  Tuy mục đích là điều quan trọng nhất, nhưng sử dụng phương tiện nào để đạt được mục đích mới cho thấy rõ bản lãnh của người ấy.  Cuộc tranh cử sơ bộ kỳ này ngày càng cam go.  Đây quả thật là một dịp hiếm có để toàn dân có thể nhìn thấy một cách rõ ràng kỷ cương và phong độ của các ứng cử viên.

(Ghi chú: Baì viết là quan điểm của tác giả, không phản ảnh quan điểm tòa soạn.)

Hãy bắt đầu niềm tin này với câu nói của John Kelly, tướng thủy quân lục chiến hồi hưu, cựu Bộ trưởng Nội an, cựu chánh văn phòng của Donald Trump (2018): “Người phát điên vì quyền lực là mối đe dọa chết người đối với nền dân chủ.” Ông phát biểu câu này tại một hội nghị chuyên đề về nền Dân chủ ở Mount Vernon vào tháng 11/2024, ngay tại ngôi nhà của George Washington, vị tổng thống đầu tiên, người mở ra con đường cho nền dân chủ và tự do của Hoa Kỳ. Không đùa đâu! Tướng Kelly muốn nói, những người phát điên vì quyền lực ấy có thể giữ các chức danh khác nhau, thậm chí là Tổng Thống, nhưng trong thâm tâm họ là bạo chúa, và tất cả các bạo chúa đều có cùng một đặc điểm: Họ không bao giờ tự nguyện nhượng quyền lực.
Gần đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố áp dụng chính sách áp thuế 25% đối với ô tô nhập khẩu vào Mỹ, trước đó Trump cũng đã áp đặt biện pháp trừng phạt chung đối với Liên Âu, Canada, Mexico và Trung Quốc, nhưng lại tạm hoãn trong 30 ngày để cho Canada và Mexico thương thuyết. Các biện pháp bất nhất này gây nhiều hoang mang cho chính giới và doanh nghiệp các nước đối tác.
Trong buổi phỏng vấn ngày 31 tháng 10 năm 2024 với bình luận gia cánh hữu Tucker Carlson, Tổng thống Donald Trump khẳng định rằng dưới thời Joe Biden, Hoa Kỳ đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi vô tình đẩy Nga và TQ lại gần nhau. Theo Trump, một trong những ưu tiên hàng đầu khi ông quay trở lại Tòa Bạch Ốc sẽ là phá vỡ liên minh này. Khi đó, Trump tự tin tuyên bố: “Tôi sẽ phải tách họ ra, và tôi tin mình sẽ làm được.” Và ngay từ những ngày đầu của nhiệm kỳ thứ hai, Trump đã tỏ rõ mong muốn đàm phán với Nga nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở Ukraine. Một cách giải thích cho chính sách này là: Trump đang làm đúng những gì từng nói trong cuộc trò chuyện với Carlson. Việc rút Hoa Kỳ khỏi cuộc xung đột tại Âu Châu và khôi phục quan hệ với Moscow, kể cả khi phải bỏ rơi Ukraine, là một phần trong chiến lược tập trung đối phó với TQ.
Cuộc đua vào Tòa án Tối cao Wisconsin rất quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến các vấn đề pháp lý và chính sách trong tiểu bang. Wisconsin là một bang chiến địa quan trọng trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Tòa tối cao tiểu bang có thể đóng vai trò lớn trong các tranh chấp liên quan đến luật bầu cử, quyền tiếp cận lá phiếu và các thách thức đối với kết quả bầu cử. Cuối cùng, sự lo lắng có cơ sở của người dân cuối cùng đã được hóa giải. Số tiền “đầu tư” $20 triệu của Musk đã không thắng được sự lựa chọn của Wisconsin.
Lịch sử là sự lập lại, nhìn ngược về thời gian: Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc vào năm 211 (trước Công Nguyên) Ông đã nghe lời vị Tể Tướng Lý Tư đốt tất cả các ghi chép của Sử Gia không thuộc nước Tần, kể cả Kinh Thi. Bất cứ ai thảo luận về Kinh Thi và Kinh Thư sẽ bị xử tử. Trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, vụ đốt sách chôn Nho được gọi là “Phần thư khanh nho”, bao gồm việc đốt sách và chôn sống hơn 460 học giả. (1) Năm 1958, Mao Trạch Đông đã liên hệ bản thân ông với Tần Thuỷ Hoàng. Khi ông ta chôn sống 460 học giả ông nói trong một bài phát biểu với các đồng chí của mình: “Các bạn (những nhà trí thức) căm ghét chúng tôi, coi chúng tôi là những Tần Thuỷ Hoàng. Các bạn nhầm rồi. Chúng tôi thậm chí còn vượt Tần Thuỷ Hoàng một trăm lần”.(2) Năm 1975 khi CS miền Bắc, chiếm Việt Nam Cộng Hòa, phong trào đốt sách cũng xảy ra ngay tại miền Nam, Việt Nam. Hàng trăm cuốn sách được người Cộng Hòa mang đi giấu hay mang ra nước ngoài và hàng ngàn cuốn sách bị đố
Hai tháng đã trôi qua. Trên những diễn đàn mạng xã hội và cả trong những cuộc đối thoại đời thường, rất nhiều người thổ lộ về một thói quen vừa xuất hiện: đếm xem còn bao nhiêu ngày nữa kết thúc nhiệm kỳ bốn năm của chính quyền hiện tại. “Đếm thời gian trôi” vốn không phải là một thói quen tích cực trong đời sống. Nó phản chiếu tâm trạng chán nản, buông xuôi, thậm chí là sợ hãi. Hàng loạt câu hỏi “Chúng ta phải làm gì?”; “Rồi chuyện gì nữa?”; “Chúng ta đang sống ở thời đại nào?”… Trong đó, câu hỏi lớn nhất, và biểu lộ sự phẫn nộ của người dân nhất, đó là: “Đảng Dân Chủ đang làm gì?”
Người tị nạn đã không còn được chào đón tại Hoa Kỳ kể từ ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump. Ngay trong ngày nhậm chức 20 tháng 1 năm 2025, ông đã ký một sắc lệnh hành pháp đình chỉ Chương trình Tiếp nhận Người tị nạn của Hoa Kỳ (U.S. Refugee Admissions Program, USRAP) trong vòng 90 ngày. Dù vào tháng 2 năm 2025, tòa án liên bang đã ra phán quyết yêu cầu khôi phục chương trình tái định cư người tị nạn, chính quyền Trump vẫn khẳng định rằng không thể thực hiện điều đó ngay lập tức, do hệ thống tiếp nhận người tị nạn đã bị giải thể gần như toàn bộ.
Trong bài diễn văn dài 90 phút trước Quốc hội Hoa Kỳ, Donald Trump nhắc lại tham vọng “giành lấy” Greenland “bằng cách này hay cách khác.” Trump tuyên bố rằng Greenland có ý nghĩa “sống còn đối với an ninh quốc gia” của Hoa Kỳ. Dù nhấn mạnh rằng chính phủ của mình “hoàn toàn ủng hộ quyền tự quyết của Greenland,” ông vẫn không quên mời gọi “nếu các bạn đổi ý, chúng tôi sẵn sàng chào đón các bạn gia nhập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”
Khi Ukraine từ bỏ kho vũ khí nguyên tử và tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT Nuclear Nonproliferation Treaty) với tư cách là một quốc gia phi hạt nhân vào năm 1994, họ đã thi hành một phần của Bản ghi nhớ Budapest (Budapest Memorandum), gồm một số các đảm bảo an ninh bởi Nga, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Những đảm bảo này nhằm bảo vệ chủ quyền của Kyiv, và biên giới của họ sẽ được tôn trọng. Nhưng khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014 và tiến hành cuộc xâm lược toàn diện vào năm 2022, những cam kết đó đã chứng tỏ là vô nghĩa. Ukraine thấy mình đơn độc, sự sống còn phụ thuộc vào thiện chí của phương Tây và nằm trong tay một kẻ thù được trang bị bằng chính những vũ khí mà Kyiv đã giao nộp. Những tác động này không dừng tại Ukraine mà lan rộng. Trên toàn cầu, các chính phủ đang đánh giá lại ý nghĩa thực sự của các bảo đảm an ninh.
Trong thế giới đấu tranh sinh tồn của loài vật, chuyện cá lớn nuốt cá bé là điều không thể tránh khỏi. Nhưng trong xã hội loài người ngày nay dù đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba hơn hai thập niên và được mệnh danh là thời đại văn minh tiến bộ vượt bực vẫn không thiếu chuyện kẻ mạnh ăn hiếp người yếu trong mối quan hệ giữa người với người. Tình trạng mạnh hiếp yếu còn diễn ra khốc liệt hơn trong mối quan hệ ở cấp quốc gia: nước lớn bắt nạt hay xâm lăng nước nhỏ. Ở đây cũng xin giải thích một chút về cách dùng chữ nhược tiểu trong tiêu đề của bài viết này. Chữ nhược tiểu dùng trong bài này hoàn toàn không có ý nghĩa đánh giá tiêu cực về quốc gia được đề cập đến. Chữ nhược tiểu dùng trong bài này là để chỉ cho sự yếu kém về quân sự và kinh tế so với những nước mạnh về quân sự và kinh tế đi xâm lược. Sự yếu kém về quân sự và kinh tế không đồng nghĩa với sự yếu kém về quyết tâm và đồng lòng bảo vệ đất nước của quốc gia bị xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tại Ukraine hiện nay và Việt Nam
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.