Hôm nay,  

Cấp Cứu Kinh Tế Hoa Kỳ

12/08/201000:00:00(Xem: 13753)

Cấp Cứu Kinh Tế Hoa Kỳ

Nguyễn Xuân Nghĩa-Việt Long, RFA

...giới chính trị dự đoán sai mức suy sụp quá nặng về nhân dụng...
Hôm Thứ Ba mùng 10, Hạ viện Hoa Kỳ bất ngờ gián đoạn kỳ nghỉ hè trong một ngày để các Dân biểu trở lại thủ đô biểu quyết một đạo luật trị giá 26 tỷ Mỹ kim nhằm cấp cứu các tiểu bang. Cùng lúc đó, Ủy ban Tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ cũng quyết định bơm tiền kích thích kinh tế. Lý do là một năm sau khi đụng đáy, kinh tế Mỹ chưa tăng trưởng mạnh, thất nghiệp còn quá cao và sản xuất có khi lại bị đình đọng trong những tháng tới. Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu riêng về các biện pháp cấp cứu kinh tế của một quốc gia dân chủ và giàu mạnh nhất và cũng là một đầu máy kinh tế cho nhiều quốc gia trên thế giới. Phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về đề tài này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Tình hình kinh tế Hoa Kỳ chưa khả quan và lại còn có dấu hiệu đình trệ với mức thất nghiệp không giảm. Vì thế mà hôm Thứ Ba mùng 10, cả Quốc hội Mỹ lẫn Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ cùng lấy những biện pháp kích thích kinh tế. Diễn đàn Kinh tế muốn tìm hiểu về tiến trình quyết định việc cấp cứu ấy vì nhiều thính giả thắc mắc là với lãi suất nay đang được duy trì ở số không thì nước Mỹ còn có phương tiện nào để khắc phục những khó khăn kinh tế hiện nay không. Như mọi khi, trước hết, xin ông trình bày cho bối cảnh, là kinh tế Mỹ đang gặp những khó khăn gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm từ cuối năm 2007, rồi năm 2008 lại gặp trận khủng hoảng tài chính cho nên sản xuất suy sụp tới giữa năm 2009. Nhưng từ khi đụng đáy giữa năm ngoái, việc phục hồi chưa khả quan, còn đầy bất trắc và thất nghiệp vẫn cao.
- Từ hai tháng nay, người ta e là tới cuối năm, sản xuất sẽ sa sút hơn và có khi kinh tế đụng đáy lần thứ nhì, như chúng ta có trình bày trong chương trình phát thanh ngày 23 tháng Sáu. Quả nhiên tới cuối Tháng Sáu thì được biết đà tăng trưởng của quý hai chỉ có là 2,4% thay vì 3,7% như ước lượng trước đó. Trong khi ấy, niềm tin của giới tiêu thụ cũng sa sút bất ngờ, chủ yếu vì thị trường nhân dụng còn yếu, quốc gia mắc nợ quá nhiều, thị trường gia cư chưa khởi sắc, tín dụng vẫn ách tắc. Như mọi Thứ Sáu đầu tháng, thống kê nhân dụng được bộ Lao động công bố hôm mùng sáu vừa rồi cho thấy thất nghiệp vẫn ở mức 9,5%. Tỷ lệ ấy thật ra chưa có ý nghĩa bằng sự thể là kinh tế mất thêm 131 ngàn việc làm và đáng chú ý nhất là tỷ lệ công việc làm dân sự trên dân số đã sụt tới mức nguy ngập nhất kể từ 60 năm nay. Nói cho dễ hiểu là trong ngần ấy đợt suy trầm kinh tế sau Thế chiến II, chưa khi nào mà tỷ lệ có việc làm lại giảm nặng như vậy và giảm liên tục trong bốn tháng vừa qua. Đó là về bối cảnh.
Việt Long: Xin hỏi ông ngay một câu có khi là chi tiết nhỏ: ông vừa nói rằng tỷ lệ thất nghiệp là một số liệu thống kê chưa có ý nghĩa. Tức là ta không nhất thiết nhìn vào số thất nghiệp là 9,5% này, vì sao lại như vậy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa ông vì một lý do kỹ thuật về thống kê. Người ta khảo sát ý kiến qua câu hỏi, thí dụ như ai khai báo thất nghiệp, ai đang kiếm việc làm. Có người tuyệt vọng hết còn muốn kiếm việc nữa nên khỏi đi khai báo thất nghiệp làm ta tưởng là thất nghiệp giảm. Nhưng, có người mất việc từ lâu mà bỗng khai báo thất nghiệp khi thấy trợ cấp thất nghiệp được gia hạn. Tỷ lệ thất nghiệp vì vậy không là biểu hiện trung thực cho thị trường lao động và cũng chỉ là dữ kiện "hậu kiểm", thuộc quá khứ và không giúp gì cho việc tiên báo. Ngược lại, nếu để ý đến thành phần ở tuổi lao động sinh hoạt trong khu vực dân sự - thay vì quân sự - và so với tổng số dân thì mình có bức tranh toàn cảnh về sức lao động của một quốc gia. Trước khi Hoa Kỳ bị suy trầm, năm 2007, thì tỷ lệ này là 63%, nay chỉ còn là 58,4%, tức là vì suy trầm mà mất gần 5% dân số lao động, tương đương với hơn 12 triệu người. Từ 60 năm nay, trong mọi vụ suy trầm chưa khi nào kinh tế Mỹ bị mất việc với tỷ lệ cao như vậy, và đây là vấn đề đáng lo ngại nhất.
Việt Long: Chúng ta qua phần hai của chương trình. Thưa ông, khi kinh tế sa sút thì ta thường có một số biện pháp kích thích, như qua khí cụ tiền tệ hay ngân sách. Bây giờ, sau một trận suy trầm nặng trong các năm 2008-2009, tình hình lại có thể bị đình đọng mà thất nghiệp vẫn cao, trong khi về tiền tệ thì lãi suất tại Mỹ đã được hạ tới số không và về ngân sách thì Hoa Kỳ bị bội chi nặng sau hàng loạt kế hoạch kích thích kinh tế. Vào hoàn cảnh ấy, Hoa Kỳ còn có thể làm những gì để cứu nguy kinh tế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói thêm một câu nữa về hoàn cảnh chính trị của nước Mỹ. Năm nay, Hoa Kỳ sẽ có bầu cử giữa một nhiệm kỳ của Tổng thống, và dân chúng sẽ đi bầu lại toàn thể các dân biểu Hạ viện, hơn một phần ba nghị sĩ ở Thượng viện và 37 chức vụ Thống đốc. Vụ bầu cử ngay giữa nguy cơ sa sút kinh tế và việc làm cũng ảnh hưởng tới các quyết định cứu nguy.
- Bây giờ, trả lời cho câu hỏi của ông thì Hoa Kỳ có một định chế độc lập là Ngân hàng Trung ương, hoặc Hội đồng Dự trữ Liên bang theo cách gọi của Mỹ. Định chế này đã hạ lãi suất tới số không và duy trì ở mức đó trong 20 tháng qua, đó là về biện pháp tiền tệ. Song song, Ngân hàng Trung ương Mỹ cũng có biện pháp gọi là gia tăng mức lưu hoạt có định lượng, hay "quantitative easing", nôm na là in tiền bơm vào kinh tế bằng cách mua lại phiếu quốc trái của các ngân hàng. Nếu thấy kinh tế khả quan hơn thì họ có thể tăng lãi suất và tung ra trái phiếu để hút bớt tiền về. Thế nhưng, vì tình hình chưa khả quan, lại còn có vẻ đáng ngại, hôm Thứ Ba mùng 10, Uỷ ban Tiền tệ, gọi tắt là FOMC, của Ngân hàng Trung ương Mỹ mới quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức zéro, và còn bơm thêm tiền qua việc mua lại các khoản nợ. Đây là một việc khá hãn hữu nhưng cũng báo hiệu là Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ còn khả năng can thiệp mạnh như vậy.


Việt Long: Kết quả và hậu quả của biện pháp tiền tệ ấy là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Kết quả là khiến cho tiền rẻ hơn vì khi lãi suất đã nằm ở số không, việc tung tiền mua trái phiếu khiến phân lời giảm và trị giá trái phiếu tăng. Phân lời giảm thì có nghĩa là lãi suất dài hạn trên thị trường cũng giảm, tức là có thể phục hoạt tiêu thụ và sản xuất. Nhưng hậu quả của biện pháp ấy cũng có thể làm cho tiền quá rẻ, gây nguy cơ lạm phát hay bong bóng đầu cơ. Trong hiện tại, người ta không sợ lạm phát bằng giảm phát - là khi hàng họ mất giá mà vẫn bán không chạy và thất nghiệp không giảm - và không sợ nạn bong bóng bằng nạn ách tắc tín dụng, là muốn vay tiền mà không vay được. Một hậu quả đáng ngại khác là gây ra hiện tượng gọi là "cái bẫy thanh khoản" là lãi suất quá hạ thì thiên hạ giữ tiền mặt chứ hết gửi ngân hàng hoặc mua cổ phiếu, đâm ra vô hiệu hoá các biện pháp tiền tệ. Ngân hàng Trung ương Mỹ có cân nhắc rủi ro ấy khi quyết định bơm tiền vì tình hình trước mắt đã có vẻ nguy kịch bất ngờ.
Việt Long: Bước qua loại biện pháp ngân sách thì Hoa Kỳ còn có thể làm gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Khác với biện pháp tín dụng và tiền tệ là thẩm quyền của một định chế độc lập là Ngân hàng Trung ương, thi biện pháp ngân sách thuộc phạm vi quyết định của Chính quyền, gồm có Quốc hội và Hành pháp. Trong loại biện pháp ngân sách thì khi kinh tế suy trầm, người ta có thể tăng chi hoặc giảm thuế để kích thích đầu tư và tiêu thụ.
- Biện pháp tăng chi thì đã được áp dụng hai lần, vào tháng Hai năm 2008 dưới thời ông Bush, trị giá hơn 187 tỷ đô la, và vào tháng Hai năm 2009 dưới thời ông Obama trị giá 862 tỷ sau khi dự trù là 787 tỷ. Biện pháp giảm thuế thì cũng đã được Chính quyền Obama áp dụng trong kế hoạch kích thích kinh tế năm ngoái là giảm thuế cho thành phần có lợi tức trung bình và thấp. Việc giảm thuế còn được ông Bush áp dụng vào tháng Sáu năm 2001 và tháng Năm năm 2003.
- Nhưng, các quyết định giảm thuế này, của cả hai Tổng thống Bush lẫn Obama, đều sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ cuối năm nay nếu không được Quốc hội gia hạn. Nghĩa là thuế sẽ tăng từ đầu năm tới, khi kinh tế đang bị nguy cơ đụng đáy nữa và việc này mới gây tranh luận mạnh.
Việt Long: Trước khi nói đến khí cụ thuế khóa thì xin hỏi ông vì sao mà Hoa Kỳ có hai kế hoạch kích thích kinh tế trong vòng một năm, từ tháng Hai năm 2008 qua tháng Hai năm 2009, trị giá đến cả ngàn tỷ mà kinh tế vẫn chưa được kích thích và có khi còn đụng đáy lần nữa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây cũng là vấn đề gây tranh luận dữ dội về chuyên môn và tư tưởng trong giới kinh tế và giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà. Một cách khách quan và ngắn gọn thì tôi thấy ra sáu lý do: thứ nhất, giới chính trị dự đoán sai mức suy sụp quá nặng về nhân dụng; thứ hai, kế hoạch kích thích của ông Obama nhắm vào cải tạo xã hội hơn là tạo ra việc làm; thứ ba, kế hoạch tăng cường kiểm soát sau vụ khủng hoảng tài chính làm nản chí giới đầu tư; thứ tư, đạo luật cải tổ y tế khiến các doanh nghiệp sẽ lãnh thêm nhiều chi phí y tế cho nhân viên nên càng ngần ngại đầu tư và tuyển dụng nhân viên; thứ năm, vì kích thích kinh tế mà Quốc hội Mỹ gây bội chi quá cao và đi vay quá nhiều nên làm dân Mỹ lo âu về tương lai khi sẽ phải trả nợ; thứ sáu, ai ai cũng nghĩ đến viễn ảnh sẽ phải trả thuế cao hơn kể từ năm tới nên chờ đợi nghe ngóng. Nói chung, chính trị và tranh luận chính trị đang gây ra sự ngờ vực và lo âu khiến người ta ngần ngại đầu tư và tiêu xài, vì vậy mà thất nghiệp không giảm và càng gây thêm lo sợ. Đây là một vấn đề cực kỳ rắc rối, nhất là trong một năm có bầu cử.
Việt Long: Bây giờ, ta nói qua khí cụ thuế khoá trong loại biện pháp cứu nguy bằng ngân sách. Liệu Hoa Kỳ còn có thể áp dụng khí cụ này được không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là ách tắc nguy kịch của kinh tế và chính trị Hoa Kỳ. Biện pháp giảm thuế của ông Bush trong hai năm 2001 và 2003 chủ yếu nhắm vào thành phần có lợi tức cao và cắt giảm nhiều loại tô suất thuế để khuyến khích họ đầu tư sản xuất và tuyển dụng người. Ngược lại, ông Obama hạ thuế cho thành phần trung lưu trở xuống và trù tính sẽ tăng thuế thành phần có lợi tức cao, từ 200 ngàn đô la một năm trở lên cho một người và từ 250 ngàn trở lên cho một hộ. Bây giờ, khi kinh tế sa sút hơn thì cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà đều có thể đồng ý gia hạn việc giảm thuế này. Nhưng đảng Dân Chủ muốn chỉ giảm thuế cho thành phần trung lưu mà thôi và bù lại thì tăng thuế nhà giàu, đảng Cộng Hoà thì đòi giảm thuế đồng loạt, nhất là các khoản thuế đánh trên giới đầu tư.
- Cái kẹt cho cả hai đảng là Hoa Kỳ đang bị bội chi ngân sách quá lớn nên trước mắt thì việc giảm thuế càng gây thêm bội chi trước khi kinh tế phục hoạt làm lợi tức mọi thành phần đều tăng thì sẽ tăng được nguồn thu cho ngân sách. Vì vậy, đảng Cộng Hoà thiểu số thì đòi giảm thuế và đồng thời giảm chi trong khi đảng Dân Chủ thì không muốn giảm chi. Kết cuộc thì có lẽ hai bên phải tương nhượng là sẽ triển hạn giảm thuế thêm một năm nữa để khi nào kinh tế phục hoạt thì sẽ tính.
Việt Long: Câu hỏi cuối, như vậy thì liệu sinh hoạt chính trị dân chủ có cản trở các chính sách cấp cứu kinh tế không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng là không. Khi lấy quyết định kinh tế, đảng nào cũng có lý do chính đáng, nhưng có thể bị hậu quả bất lường và gây thiệt hại cho dân chúng thì phải sửa. Nếu không là bị cử tri đào thải bằng lá phiếu để bầu lên một lớp lãnh đạo mới nhằm giải quyết vấn đề chứ không thể duy trì sự sai lầm cũ, dù là sai lầm trong thiện ý. Và khi thấy kinh tế quá sa sút thì các chính trị gia đều sợ thất cử nên sẽ từ bỏ chủ trương duy ý chí ban đầu. Vả lại, thì dù sao Hoa Kỳ vẫn còn một cơ chế độc lập có khả năng ứng phó là Ngân hàng Trung ương.

Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.