Hôm nay,  

Mùa Thu

17/09/201000:00:00(Xem: 15829)

Mùa Thu

Hình ảnh mùa thu.


Chân-Quê


Người Việt-Nam xưa, dựa theo chu-kỳ thời-tiết bất di bất dịch của Âm và Dương để chia ra bốn mùa trong một năm gồm: Xuân-Phân, Hạ-Chí, Thu-Phân và Đông-Chí.  Từ Hạ-Chí, trong thiên-nhiên khí Dương dần dần mất sức mạnh (giảm hơi nóng, ấm) để nhường chỗ cho khí Âm; nguyên lý của tối tăm và lạnh lẽo dâng lên để ngự trị vào Thu-Phân.  Vì vậy trời thường se se lạnh và có mây mù che phủ.
Thu-Phân thường rơi vào tháng Tám âm-lịch, tức là đầu hạ tuần tháng Chín dương-lịch.  Ngày rằm tháng Tám nằm giữa thời-điểm của ba tháng mùa Thu. Chính là Tết Trung-Thu hay Tết Tháng Tám hoặc Tết Nhi-Đồng.  Năm nay: 2010.  Rằm Trung-Thu sẽ là ngày 22, tháng 9.  Đây là thời-kỳ bầu trời trong trẻo, mặt trăng rất tròn và sáng rực-rỡ.  Thưở xưa các nhà nho, những nghệ-sĩ thường uống rượu cúc và làm thơ trong ngày này. 
Huyền-thoại kể rằng vào thế-kỷ thứ tám (VIII), vua Đường-Minh-Hoàng là một nghệ-sĩ kiêm họa-sĩ trong một đêm sáng trăng rằm Trung-Thu, ngài bước ra khỏi cung-điện, được một đạo-sĩ chống gậy đến gần đề-nghị vua lên cung trăng dạo chơi.  Vua mỉm cười nhận lời.  Đạo-Sĩ liền tung cây gậy lên trời biến thành chiếc cầu vĩ-đại lấp lánh màu bạc, làm đường lên mặt trăng cho vua.  Ở đó là một cung điện nguy-nga, các cửa vào có chạm lấp lánh những chữ vàng “Cung Quảng Hàn”, không-gian thơm ngát dịu-dàng, những nàng tiên mặc áo xiêm hồng, áo trắng; thướt-tha múa theo điệu nhạc thiên-thai rất diệu-kỳ.  Lúc trở về trần-gian, trong nỗi nhớ nhung vô hạn những kỳ-quan trên cung trăng.  Đường-Minh-Hoàng sai các cung-tần múa và đàn ca theo điệu này.  Từ đó trở đi, trải qua bao nhiêu thế-kỷ; bao thế-hệ nối tiếp, các thi-sĩ, nghệ-sĩ không ngớt theo gương nhà vua, ca ngợi mặt trăng nơi có “Cung Quảng Hàn”, họ dệt nên biết bao nhiêu bài thơ tuyệt-tác hòa theo không gian lành lạnh lãng-mạn của trời Thu. 
Trong thi-ca Việt-Nam, nói đến mùa Thu là phải nhớ đến thi-sĩ Lưu-Trọng-Lư.  Ông sinh năm 1912 ở Cao-Lao-Hạ, huyện Bố-Trạch, tỉnh Quảng-Bình.  Học-Sinh trường Quốc-Học Huế.  Đã xuất bản tác-phẩm “Tiếng Thu” (1939):
Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức"
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh-phu
Trong lòng người cô-phụ"
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Đạp trên lá vàng khô"
Một trăm năm trước, có một thi-nhân mang bản sắc tâm-hồn Việt-Nam, sống chan hòa với những người “chân quê” giản-dị, mộc mạc, đó là Nguyễn-Khuyến đã dệt bài thơ “Thu Điếu” như sau:
Ao Thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Hoặc trong bài “Thu Ẩm”, thi-sĩ Nguyễn-Khuyến cũng dùng những lời thơ rất dân-gian, đơn-giản nhưng vô cùng tượng-hình và tượng-sắc:
Năm gian nhà nhỏ thấp le-te.
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt"
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.
Riêng với thi-sĩ Huy-Cận. Tức Cù-Huy-Cận.  Sinh ngày 31, tháng 3, năm 1919 ở làng Yên-Phú, huyện Lương-Sơn, tỉnh Hà-Tĩnh.  Trong bài “Thu Rừng”, ông nói lên được sự thâm-u chan hòa cùng cái buồn của nhân-gian, cái sầu của đất trời:
Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màu âm-u
Nơi cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe,
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng,
Sầu Thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân-gian nghe cũng tiêu-điều dưới kia.
Buồn sâu thẳm hơn nữa cho một kiếp người chia xa, như những cánh lá mùa Thu phải lìa cành trong bài thơ: “Cây Bàng Cuối Thu” của thi-sĩ Nguyễn-Bính (tên thật là Nguyễn-Trọng-Bính; sinh ở Hưng-Yên năm 1919 và mất 1966.  Ông cũng là tác-giả bài thơ: “Chân-Quê” mà ban nhạc chúng tôi được hân hạnh mang bút-hiệu này):
Thu đi trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
Hôm qua đã rụng một rồi
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn-thôn
Hôm nay lá thấy tôi buồn
Lìa cành theo gió lá luồn qua song
Hai tay ôm lá vào lòng
Than ôi chiếc lá cuối cùng là đây!
Quạnh-hiu như tấm thân này
Lại âm-thầm sống những ngày gió mưa.
Mỗi độ mùa Thu trở về, tôi lại nhớ lời Mẹ kể; ngày xưa các bậc Tiền-Bối thường nhìn trăng Thu trong ngày rằm để nói về những điềm báo trước tương-lai của đất nước.  Nếu trăng sáng vằng vặc; nhà nông sẽ được vụ mùa bội thu.  Nếu trăng màu vàng; tằm sẽ nhả nhiều tơ.  Khi mặt trăng chuyển sang màu xanh hay màu lam, thì sẽ có nạn đói kém.  Nếu trái lại, trăng ngả sang màu vàng thì cả nước sẽ sống thái-bình, an-lạc.  Đêm rằm tháng Tám, nếu ta nhận thấy có một chiếc mũ phía trên mặt trăng; thế-gian sẽ vui vẻ.  Nhưng nếu trăng nhìn như có chân, thì vua sẽ ham mê tửu-sắc hoặc bạo-hành.  Khi trong nước có mưu-toan nổi loạn hay trên thế-giới có những dấu hiệu của một cuộc chiến-tranh sắp nổ ra; người ta sẽ nhận thấy trăng có vuốt và có răng.  Nói chung, theo thói quen quan sát mặt trăng đêm rằm tháng tám, đã tạo ra trong trí tưởng-tượng dân-gian cả một thế-giới huyền diệu như chuyện chị Hằng, chú Cuội và Thỏ Ngọc. Với đức từ-bi của đạo Phật; Thỏ coi như biểu-tượng của con người lương-thiện.  Lại có người cho rằng những con Thỏ này thụ-thai trong khi ngắm trăng.  Vì vậy người ta căn cứ vào ánh trăng Thu sáng như thế nào để đoán Thỏ sẽ đẻ nhiều hay ít con.  Như vậy, Thỏ và mặt trăng trở nên biểu tượng của khả năng sinh-sản.


Một truyền-thuyết khác tin là trên mặt trăng có cung của ông Tơ, bà Nguyệt.  Cả hai là người quyết-định việc hôn-nhân của tất-cả mọi người trên trái đất.  Huyền-thoại kể rằng: ngày xửa ngày xưa có một chàng thanh-niên tên là Vi-Cố, một đêm đi qua góc phố, gặp “ông Nguyệt-Lão” ngồi dưới ánh trăng rằm tháng Tám, tay cầm quyển sách.  Vi-Cố hỏi trong sách viết gì"  Được trả lời rằng số-phận hôn-nhân của mọi người trên cõi hồng-trần đều ghi cả trong đó.  Ông cầm một gói chỉ đỏ và nói: “ Tôi buộc chân đàn bà với đàn ông bằng chỉ này.  Dù họ sinh ra từ những gia-đình thù ghét nhau, hay quê quán ở rất xa,  chân trời góc biển nào chăng nữa, dù khác màu da hay chủng-tộc thì số phận họ cũng phải ràng buộc lại với nhau.”  Quá sung-sướng vì gặp được ông Thần Hôn-Nhân, Vi-Cố hỏi ngay: “Cụ có thể nói cho tôi rõ ai sẽ là vợ tôi không"” Ông lão liền trả lời: “Con gái bà bán rau trong cửa hiệu kia sẽ là vợ anh”.  Rồi ông biến mất.  Sự tò-mò thúc đẩy, Vi-Cố đến ngay tiệm ấy và nhìn vào trong thấy người đàn bà bế một bé gái xấu-xí.  Muốn lời tiên-tri của ông lão bí-ẩn kia không thực-hiện được.  Vi-Cố thuê một tên vô-lại giết đứa bé.  Nhưng tên này chém hụt và chỉ gây cho nạn-nhân một vết xước sâu trên phía lông mày.  Quá hoảng sợ vì hành-vi tàn nhẫn của mình nên sau đó Vi-Cố bỏ trốn, ẩn náu trong một nơi xa lo chăm chỉ học hành, rồi được đỗ đạt cao trong các kỳ thi.  Một ngày kia, anh được vào cung vua bệ-kiến.  Trong triều-đình lúc bấy giờ; một vị đại-thần giòng-tộc phú-quý có một cô con gái nuôi xinh đẹp.  Vi-Cố đem lòng yêu thương và xin được cầu-hôn.  Đám cưới xong, hai người sống với nhau rất hạnh-phúc.  Vì nàng là một thiếu-nữ đẹp từ dung-nhan, diện mạo đến tính-tình.  Một hôm Vi-Cố vẽ chân mày cho vợ,  khám phá ra vết xẹo trên lông mày.  Hỏi cho rõ sự tình, nàng nói rằng nghe Mẹ kể lại ngày xưa lúc gia-đình còn nghèo, Mẹ nàng phải đi bán rau và không hiểu sao trong một ngày nọ, bị quân gian đến tấn-công bằng dao mạnh tay trúng nàng bị thương…  Thì ra đây là người mà Vi-Cố đã định tâm hãm hại năm xưa.  Chàng vô-cùng hối-hận và nguyện hết lòng, hết dạ sống tốt với vợ hiền.  Vi-Cố cũng đã quỳ xuống để tạ-ơn  “ông Nguyệt-Lão” năm xưa đã kết tóc se tơ cho vợ chồng chàng nên duyên tiền định. 
Ngày xưa, Tết Thu của mặt trăng, đồng thời cũng là Tết dạm hỏi và cưới xin.  Trong đêm rằm này, trời vừa sẫm tối các thanh-niên thiếu-nữ trong làng tụ tập trước sân nhà hay sân đình để hát đối và ngắm trăng.  Đây là dịp họ làm quen nhau.  Tặng quà và thề hứa, ước nguyện yêu-đương mong nhờ mặt trăng chứng-giám.  Sau buổi này sẽ có lễ dạm hỏi rồi đến lễ cưới. 
Chả thế mà nhạc-sĩ Đoàn-Chuẩn & Từ-Linh đã sáng tác bài hát “Lá  Đổ Muôn Chiều” với lời lẽ thống-thiết thở-than khi người yêu đi lấy chồng trong một ngày Thu:
“Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về.  Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa, tình duyên đành dứt.
Có những đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố-nhân ơi!  Đã vội chi men rượu nhấp đôi môi mà phung-phí đời em không tiếc nhớ.
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa.  Phải chăng là nước mắt người đi.  Em ơi đừng dối lòng.  Dù sao đi nữa không nhớ đến tình đôi ta…”
Hoặc như trong bài hát “Thu Vàng”, được nhạc-sĩ Cung-Tiến viết tại Saigon năm 1953.  Nói lên nỗi cô-đơn, lòng nhớ nhung trong mùa Thu khi người yêu đã chia xa, có hình ảnh dây tơ vàng trên mặt trăng của “ông Nguyệt-Lão”:
“Chiều hôm qua lang thang trên đường.  Hoàng hôn xuống, chiều thắm muôn phương.
Chiều hôm qua mình tôi cô-đơn.  Có mùa Thu về, tơ vàng vương vương.
Một mình đi lang thang trên đường.  Buồn hiu-hắt và nhớ bâng khuâng.  Lòng xa xôi và sầu mênh-mông.  Có nghe lá vàng não nề rơi không"...”
Một trong những bài nhạc xưa về mùa Thu mà tôi yêu thích nhất đó là bài “Thu Hát Cho Người” của Vũ-Đức-Sao-Biển.  Từng câu, từng lời… Có thể nói là không chê vào đâu được.  Hai chữ “tuyệt-tác” không đủ để diễn tả hết cái ý-nghĩa sâu thẳm của bài ca này:
“Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt.  Mùa Thu nào cho người về thăm bến xưa.
Hoàng-Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ.  Về đồi sim ta nhớ người vô bờ.
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó.  Để hái dâng người một đóa đẫm tương-tư.
Đêm nguyệt-cầm, ta gọi em trong gió.  Sáng lênh lang hồn ta khóc bao giờ.
Ta vẫn chờ em trên bao la đồi nương, trong mênh mông chiều sương.
Giữa Thu vàng, bên đồi sim trái chín.  Một mình ta ngồi khóc tuổi thơ bay….”
Hầu hết những bài thi-ca dành cho mùa Thu luôn mang âm-hưởng của chia xa buồn bã;  vì lá úa phải lìa cành.  Nói lên nỗi cô-đơn của con người trong không gian lạnh lẽo; luôn mưu cầu có được hơi ấm của tình-thương. 
Nhớ lại những ngày rằm Trung-Thu năm xưa còn bé.  Tôi và đám trẻ con trong cư-xá thường tụ tập từng nhóm đi rước đèn lồng đủ loại màu sắc.  Ca những bài hát mừng trăng Thu: 
“Tết Trung-Thu rước đèn đi chơi.  Em rước đèn đi khắp phố phường.  Lòng vui sướng với đèn trong tay.  Em múa ca trong ánh trăng rằm…” Hoặc: “Bóng trăng, trắng ngà.  Có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ…”…
Sau đó về nhà “Phá Cỗ” Trung-Thu.  Ăn bánh dẻo, bánh nướng và trái cây đủ loại.  Ơi! Ngày tháng cũ với một thời tuổi thơ vô cùng yêu dấu của tôi!  Xin vô cùng trân trọng và ghi khắc trong tim.
Để thay cho lời kết, xin mượn vài câu thơ trong bài “Nắng Thu” của thi-sĩ Nam-Trân, trích trong tác-phẩm: “Huế, Đẹp và Thơ”, xuất bản năm 1939.  Nói về một “MÙA THU” dịu dàng cảnh quê, với hương đồng gió nội trong hồn thơ thuần hậu, vô cùng trong lành, tươi sáng, chân-tình:
“Hát bài hát ngô-nghê và êm ái
Bên sườn non, mục-tử cỡi trâu về
Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê
Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái.
Trên suối nhỏ chiếc cầu tre hẻo lánh
Tốp người qua, lẩy vẩy vịn thanh ngang 
Lũ trẻ con sung-sướng nở cười vang
Đùa với bóng chảy theo dòng nước lạnh…” 
Chân-Quê (Viết Cho Mùa Thu Tháng Tám Âm-Lịch - Năm Canh-Dần)

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.