Hôm nay,  

Truyền Thông Đổi Ý?

28/09/201000:00:00(Xem: 11255)

Truyền Thông Đổi Ý"

Vũ Linh

...tuy Obama cấp tiến thật, nhưng còn nhát tay, chưa thỏa mãn họ...
Trong thời gian qua, một số báo “dòng chính” đã có nhiều bài bình luận không mấy thuận lợi cho TT Obama. Đây là một sự chuyển hướng quan trọng và đáng lưu ý.
Sau khi Nghị sĩ Barack Obama đắc cử tổng thống tháng Mười Một 2008, nhiều báo Mỹ nhận định rằng ông thực ra đã được giới truyền thông cấp tiến bầu làm tổng thống từ trước khi chính thức tuyên bố ra tranh cử tổng thống. Rồi sau đó, ông đắc cử thiệt thọ nhờ sự cổ võ của truyền thông “dòng chính” đó.
Nhà bình luận Chris Matthews của MSNBC (thuộc đảng Dân Chủ, trước đây là chuyên viên viết diễn văn cho TT Carter) nổi tiếng nhờ câu tán dương vượt xa kỹ thuật của các quan thái giám nịnh thần ngày xưa bên Tầu: “Obama là hiện tượng một đời người mới đến với ta một lần, mỗi lần tôi nghe tên ông ta là tôi rùng mình từ chân lên đầu, và tất cả chúng ta phải cảm thấy thật may mắn được sống cùng thời với Obama”.
Chủ bút của Newsweek còn đi xa hơn nữa, so sánh Obama không phải với Đấng Tiên Tri (Prophet) mà là với… Thượng Đế (God)! Rất tiếc Thượng Đế Obama vẫn không cứu được Newsweek khiến báo bị bán cho tài phiệt Dân Chủ Harmann tại California với giá 1 (một) đô!
Hiển nhiên là  sự phủ phục tôn thờ này có tác dụng cực lớn trên khối quần chúng ngây ngô dễ tin, cho dù Obama là một chính khách với quá trình nếu viết ra sẽ chỉ được ba dòng. Chúng ta đều biết ở cái xứ này, đi xin bất cứ việc gì cũng phải chứng minh lý lịch, kinh nghiệm và bị khảo sát quá trình đủ kiểu, bất kể việc làm khó dễ, lương nhiều hay ít. Một trong những câu hỏi lớn nhất trong lịch sử Mỹ là làm sao một người tuyệt đối chẳng có chút kinh nghiệm chính trị đáng kể nào lại có thể được bầu làm tổng thống nước Mỹ, một cái “job” hiển nhiên là khó nhất thế giới. Chẳng khác gì một thu ngân viên với vài ba năm kinh nghiệm đếm tiền được bổ làm tổng giám đốc ngân hàng lớn nhất thế giới.
Một trong những “lợi thế” lớn nhất của ông Obama, oái ăm thay, lại là khoảng trống quá trình đó. Một lợi điểm cực kỳ lớn lao trước một Hillary đầy “hành trang” đáng nghi ngờ, và một McCain với hơn ba chục năm dấu ấn, biết bao phát biểu và luật lệ đã biểu quyết. Vì không có quá trình, chẳng ai biết ông ta lập trường thế nào, tính tình ra sao, hành xử thế nào, có tỳ vết gì. Tất cả chỉ có thể dựa vào hai cuốn sách tự đề cao, trên khẩu khí và hứa hẹn của ông ta. “Ngày hôm nay là ngày thủy triều bắt đầu hạ”, đó là câu tuyên bố sau khi đắc thắng tại Đại Hội Đảng Dân Chủ, làm mê hoặc các tín đồ mặc dù chẳng ai hiểu nghĩa là gì. Thế là ông được bầu làm lãnh đạo cả nước.
Rồi tất cả ngồi chờ kết quả xem đã bầu đúng hay sai. Dân chủ kiểu Mỹ! Đi bầu lãnh đạo cũng chẳng khác gì đi mua vé số. Được hứa hẹn sẽ trúng vài triệu, thế là nhắm mắt đi mua, rồi về nhà khấn vái Trời Phật, Ông Bà, cho được trúng.
Câu hỏi đặt ra là tại sao giới truyền thông lại hậu thuẫn ông Obama trong tình trạng đó"
Thứ nhất là trên thực tế, truyền thông biết về nhân vật Barack Obama nhiều hơn ta tưởng. Họ có nghiên cứu thời ấu thơ của Obama sống trong môi trường Kenya, Indonesia, Pakistan, Hawaii… với hình ảnh Mỹ là “đế quốc”, với cả hai ông bố người Kenya và Indonesia và bà mẹ đều ghét “tư bản” Mỹ. Họ xét kỹ quá trình hoạt động cộng đồng tại Chicago, cũng như vài năm làm nghị sĩ tiểu bang, nhìn vào liên hệ với các nhân vật cấp tiến cực tả (nhà thơ cộng sản Frank Marshall Davis, giáo sư cựu khủng bố William Ayers, mục sư kỳ thị Jeremiah Wright, v.v....), và họ đã nhìn thấy một chính khách có quan điểm cấp tiến thiên tả rất gần với lập trường chung của giới truyền thông “dòng chính”. Đúng là “phe ta” rồi. Lại da đen nữa, ai mà đụng tới thì rõ là phản động, kỳ thị màu da, có khi là thành viên Klu Klux Klan!
Thứ hai, giới truyền thông cấp tiến đó dĩ nhiên không thể hậu thuẫn một McCain của Cộng Hoà được, nhưng cũng không muốn ủng hộ bà Hillary Clinton, một người bà đáng sợ hơn là đáng tin vì quá nhiều tham vọng cá nhân, lại là vợ của TT Clinton, là người bị coi như đã “phản bội” cánh tả cấp tiến của đảng Dân Chủ khi ông thi hành sách lược “tam đầu chế”, tự tách ra khỏi đảng Dân Chủ, tạo nên thế chân vạc Clinton-Dân Chủ-Cộng Hòa.
Truyền thông khi đó đi theo chủ trương “ai cũng được trừ bà Clinton”, gọi là chủ trương ABC  - Anybody But Clinton.
Thứ ba là Obama chẳng những là hiện tượng lịch sử có sức thu hút lạ lùng, mà cũng là một câu hỏi vĩ đại, ai cũng muốn tìm hiểu, nên cứ việc đưa tên và hình ảnh của Obama lên mặt báo hay các bản tin, bài bình luận, truyền thanh, truyền hình, là bảo đảm có người đọc và nghe. Tức là có tiền vào. Đưa hình Obama lên trang bìa là báo bán chạy gấp mấy lần đưa hình của Hillary hay McCain. Trong hai năm tranh cử tổng thống, Newsweek đưa hình Obama lên trang bìa đâu đó 13 lần, trung bình cứ hai tháng một lần, chuyện chưa từng có trong lịch sử báo chí Mỹ, nhưng giúp cho Newsweek kéo dài thời gian hấp hối được vài năm.
Đó là chuyện quá khứ. Bây giờ hình như đã có thay đổi.
Tiêu biểu là cây viết chính của Newsweek, Howard Fineman, vừa viết hai bài liền “Đã Sai Chuyện Gì” (What Went Wrong) và “Tea Party Thắng Cho Thấy Cử Tri Muốn Trả Thù” (Tea Party Win Shows Voters in Mood For Vengeance). Trên tờ New York Times, Thomas Friedmann nêu câu hỏi “Lãnh Đạo Đâu Rồi"” (Where Is The Leadership"). Và Los Angeles Times thì đã có bài về “Liên Minh Cử Tri Của Obama Đang Xụp Đổ” (Obama’s Electoral Coalition Is Crumbling). Chưa kể hàng loạt bài của các cây viết ít tên tuổi hơn, trước đây vẫn tôn thờ Obama.
Đại khái những bài viết phân tách sự rớt đài mau chóng của TT Obama trong dư luận quần chúng Mỹ, cùng với ảnh hưởng bất lợi cho đảng Dân Chủ trong kỳ bầu cử tới. Quan điểm chung là chỉ trích TT Obama dưới nhiều khía cạnh.


Ông Fineman của Newsweek cho là TT Obama hiểu sai lầm ý nghĩa lá phiếu của dân Mỹ khi họ bầu ông làm tổng thống (Obama misread mandate). Ông tưởng dân Mỹ tháo khoán cho Obama quyền thay đổi xã hội Mỹ, thay đổi thể chế chính trị Mỹ, bành trướng guồng máy chính quyền, đưa đến kết quả là ông mang nước Mỹ đi quá xa về phía tả, qua khỏi mức dân Mỹ có thể chấp nhận được. Thật ra, Fineman nói sai.
Không phải Obama hiểu lầm dân Mỹ, mà trái lại, dân Mỹ đã chẳng biết gì về Obama khi họ bỏ phiếu cho ông ta. Tuần kế tiếp, Fineman lại viết “TT Obama giống như một người luống cuống không biết chạy đâu trong khi căn nhà xụp đổ quanh mình”. An Nam ta gọi là như gà mắc đẻ.
New York Times qua ông Friedmann thì chỉ trích TT Obama không có can đảm làm những chuyện ông muốn làm, mà cứ lằng nhằng xàng xê qua lại, trốn tránh. Điển hình là vụ xây đền Hồi Giáo tại Nữu Ước, ủng hộ, rồi de lui, rồi lại ủng hộ. Hay là trong cuộc cải tổ y tế. Lúc đầu thì có bảo hiểm y tế công, sau đó thì bỏ. Hay vụ di dân ở lậu, khi tranh cử hứa sẽ giải quyết trong vòng một năm, bây giờ gần hai năm vẫn chưa dám đề cập đến. Rồi trong cuộc chiến tại Afghanistan: thay vì mau mắn rút quân thì lại bắt chước Bush tại Iraq là đôn quân thêm.
Đại khái hành động theo kiểu nước đôi vì không muốn mất lòng quá nhiều người. Đây không còn là hành động của một nhà lãnh đạo nữa. Quan điểm của ông Friedman phản ánh cái nhìn chung của phe cấp tiến cực đoan, họ chưa thỏa mãn với chính sách của TT Obama.
Los Angeles Times phân tích khối cử tri của Obama gồm có thành phần da đen, Mỹ La-tinh, phụ nữ, giới trẻ và trí thức cấp tiến, đã tan rã (LAT cố tình quên khối truyền thông dòng chính cũng đang tháo chạy). Chỉ có khối da đen là còn trung thành tuyệt đối với TT Obama trong khi hậu thuẫn của ông rớt đài trong tất cả các khối còn lại. Đối với dân gốc La-tinh, TT Obama không giữ lời hứa giải quyết vấn đề di dân ở lậu. Giới cấp tiến bất mãn ông vẫn trốn tránh vấn đề hôn nhân đồng tính trái với lời hứa, cũng như vẫn lằng nhằng với hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan. Giới trí thức trẻ khám phá là có bằng cấp không có nghĩa là có việc làm trong nền kinh tế Obama. Giới phụ nữ nghi ngờ cải tổ y tế, lo lắng nhìn chồng con vẫn thất nghiệp, vẫn phải năn nỉ ngân hàng đừng kéo nhà, và chẳng thấy ông tổng thống làm gì cho phụ nữ ngoại trừ việc có tính tượng trưng là bổ nhiệm hai bà vào Tối Cao Pháp Viện.
Báo LA Times trích dẫn một thăm dò của cơ quan Pew: khi được hỏi về một danh từ nào thích hợp nhất để mô tả TT Obama, thì đa số câu trả lời là “thất vọng” (disappointing). Báo này cũng trích dẫn nhận định của một người cho rằng TT Obama là một người thật xuất sắc trong nghệ thuật tranh cử, nhưng hoàn toàn không có khả năng huy động quần chúng sát cánh cùng nhau làm chuyện gì tích cực và cụ thể. Một người khác nhận định TT Obama hứa hẹn đại đoàn kết nhưng lại mau mắn bác bỏ mọi ý kiến khác biệt của đối lập mà không có thiện chí hòa giải gì hết.
Sự chuyển hướng của truyền thông dòng chính có thể được giải thích phần nào bằng chính những lý do khiến họ đã hậu thuẫn Obama ngay từ đầu.
Họ khám phá ra là tuy Obama cấp tiến thật, nhưng còn nhát tay, chưa thỏa mãn họ. Bài viết trên New York Times là tiêu biểu nhất. Sau đó, họ cũng nhìn thấy thành quả không có gì đáng tung hô của TT Obama. Đối ngoại, khoe thành tích hão huyền ở Iraq để tháo chạy, Afghanistan càng ngày càng rối tung. Cải tổ y tế chưa áp dụng đến vài năm nữa, cải tổ tài chánh hình như đang diễn ra trên cung trăng, kinh tế lủng củng (ba phụ tá kinh tế cao cấp nhất, ông Giám Đốc Ngân Sách Peter Orszag, bà Chủ Tịch Hội Đồng Kinh Tế Christina Romer, và Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Kinh Tế Larry Summers đã tháo chạy), thất nghiệp cao, kích cầu stimulus chỉ là vứt tiền qua cửa sổ.
Ở đây phải mở ngoặc nói về một chuyện liên quan đến tiền thuế chúng ta đóng để TT Obama kích thích kinh tế, không biết nên cười hay khóc. Báo chí khám phá ra trường đại học UCLA nhận được hơn 800.000 đô tiền kích cầu để nghiên cứu làm sao chỉ dạy mấy ông Phi Châu cách rửa… “của quý” sau khi giao hợp để tránh bệnh AIDS. Mang tiền mồ hôi nước mắt chúng ta đóng đi làm chuyện vớ vẩn mà chỉ có mấy ông giáo sư đầu óc mơ hồ mới nghĩ ra được! Chuyện rửa ráy này ăn thua gì đến kinh tế Mỹ" Kích cầu kiểu ấy chỉ kích thích mấy ông Phi Châu gia tăng sản xuất tí nhau chứ không thể giúp mấy doanh gia Mỹ gia tăng sản xuất việc làm cho dân Mỹ.
Chưa kể chuyện thành phố Los Angeles cho biết đã tạo được 55 việc làm với 111 tỷ stimulus, xấp xỉ tốn hai triệu để tạo một việc làm với mức lương vài ba chục ngàn! Cũng nên thông cảm vì TT Obama phụ giảng về luật chứ không tốt nghiệp kinh tế hay toán học và chưa bao giờ phải tính toán chuyện kinh doanh để kiếm tiền trả lương cho nhân viên.
Rồi trên phương diện vật chất thực tế, truyền thông dòng chính cũng nhận ra là việc họ tiếp tục nhắm mắt ủng hộ TT Obama khi hậu thuẫn của ông rớt đài mau chóng trên khắp nước trong cơn bão bảo thủ có lẽ là hành động không thông minh lắm. Vì… không bán được báo như trước nữa.
Chẳng những dân chúng quá nhàm với những ca tụng vô điều kiện, mà lại cảm thấy những ca tụng đó hiển nhiên xa vời thực tế. Như Fineman viết, tất cả đang xụp đổ chung quanh, có gì để ca tụng" Truyền thông cấp tiến cũng nhìn thấy những thống kê về đài truyền hình Fox, là đài bị mang tiếng chống Obama, lại có số lượng người xem cao hơn tổng số người xem của tất cả các đài truyền hình lớn khác hợp lại. Số lượng người coi nôm na ra có nghĩa là tiền quảng cáo mỗi phút trên đài. 
Xét cho cùng, sự chuyển hướng của truyền thông Mỹ có lợi cho truyền thông vì có thể bán báo hay thu quảng cáo nhiều hơn, mà cũng có lợi cho chúng ta, người dân thường, vì có dịp có cái nhìn đa dạng hơn là một chiều, dưới lăng kính mầu hồng từ “lề phải”. (26-9-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.