Hôm nay,  

Hiệu Ứng Hoa Kỳ

09/10/200800:00:00(Xem: 8543)

<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /> 

 

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA

 

... Hoa Kỳ và Âu châu co cụm thì VN sẽ xuất khẩu ít hơn nữa, bị nhập siêu nặng hơn nữa...

 

Kế hoạch cứu nguy tài chính được Hoa Kỳ ban hành Thứ Sáu mùng ba vừa qua đã không kịp ngăn được suy trầm kinh tế Mỹ. Trong hoàn cảnh đó, kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng ra sao" Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này sẽ tìm hiểu về viễn ảnh đó qua cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

 

Hỏi: Xin kính chào ông Nghĩa. Cuộc khủng hoảng tài chính đã gây họa cho kinh tế Hoa Kỳ và có thể kéo dài những khó khăn hiện tại. Đấy là lời cảnh báo trưa Thứ Ba mùng bảy của Chủ tịch hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ là ông Ben Bernanke. Trong hoàn cảnh đó, xin đề nghị là chương trình kỳ này tìm hiểu xem kinh tế toàn cầu bị hiệu ứng thế nào. Ông nghĩ sao"

 

- Thưa chúng ta có ba loại vấn đề chồng chéo lên nhau. Trước hết là khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã gây ra nạn cạn kiệt tín dụng vào thời điểm bất lợi nhất là hoàn cảnh kinh tế bấp bênh của Hoa Kỳ nên nạn suy trầm kinh tế có thể xảy ra. Suy trầm có thể sẽ kéo dài nếu kế hoạch cấp cứu tài chính được ban hành hôm Thứ Sáu mùng ba của tuần trước không sớm có tác dụng. Đấy là vấn đề tạm gọi là của Mỹ. Thứ hai, các khối kinh tế lớn còn lại cũng có nhiều vấn đề nội tại về tài chính và kinh tế nên ta sẽ bị hiện tượng cộng hưởng, là khuếch đại tai họa như một vòng xoáy đi xuống. Và thứ ba, hiệu ứng Hoa Kỳ trong bối cảnh suy trầm toàn cầu sẽ tác động vào mỗi nơi một khác, là điều có lẽ mình cũng cần phân tích khi nghĩ tới Việt Nam.

 

Hỏi: Như vậy, ta bắt đầu bằng vấn đề của Hoa Kỳ. Nền kinh tế này bắt đầu hay đang bị suy trầm phải không"

 

- Có lẽ như vậy thưa ông. Theo định nghĩa, suy trầm xảy ra khi đà tăng trưởng sản xuất sút giảm liên tục trong hai quý, tức là trong sáu tháng liền. Nặng hơn thì có nạn suy thoái, hay depression, là khi sản xuất không tăng dù ít đi mà còn giảm liên tục, và nếu suy thoái lan rộng qua nhiều lãnh vực thì mới gọi là khủng hoảng. Vì không chịu khó phân biệt ba trình độ nguy ngập khác nhau mà cứ dùng chung một chữ là "khủng hoảng", người ta có thể gieo họa vì gây hốt hoảng tâm lý.

 

- Cho đến tháng 10 này, kinh tế Hoa Kỳ đã tăng trưởng liên tục kể từ đầu năm 2002, dù không cao thì vẫn có tăng trưởng. Thông thường, sau sáu năm tăng trưởng như vậy, thể nào kinh tế cũng sẽ có sự điều chỉnh của chu kỳ kinh doanh, là nạn suy trầm, bình quân thì trong khoảng gần một năm. Vì vậy, vào thời điểm bản lề mà người ta đang sợ suy trầm, vụ khủng hoảng tài chính lại bùng nổ, nên kinh tế Mỹ bị trôi vào nạn suy trầm. Nặng hay nhẹ và lâu hay mau và có thành suy thoái không thì ta chưa biết được, và lời cảnh báo của người am hiểu là Thống đốc Ben Bernanke phải được xem là một thông tin xác đáng nhất về viễn ảnh trước mắt. Khi ông ta hàm ý rằng Hoa Kỳ có thể sẽ phải hạ lãi suất ngắn hạn để đối phó thì thị trường chứng khoán Mỹ lập tức sụt giá mạnh vì rút kết luận rất bi quan về tương lai trước mắt.

 

Hỏi: Người ta còn có cách dự đoán nào không, thay vì phải chờ đợi thống kê kinh tế của từng quý, ba tháng mới có một lần, về những gì đã xảy ra trước đó"

 

- Thưa có rất nhiều. Thí dụ như Thứ Năm tuần trước có thống kê về số hàng bền, loại hàng hóa có đời sống kinh tế kéo dài trên ba năm, vì số hoá đơn đặt hàng bền đã giảm nên ai cũng có thể kết luận là tình hình sẽ đen tối hơn. Qua Thứ Sáu, lại có thống kê về nhân dụng, với số người bị mất việc tăng mạnh hơn mọi dự đoán. Hai yếu tố ấy mới khiến cổ phiếu sụt giá mạnh hôm Thứ Sáu, dù Hạ viện Mỹ đã chấp nhận kế hoạch cứu nguy vừa bị bác hôm Thứ Hai đầu tuần.

 

- Ngoài ra, ta cũng có thể theo dõi chỉ số Dow Jones của doanh nghiệp vận chuyển, gọi là Dow Jones Transportation Average hay DJTA, nó tổng hợp kết quả kinh doanh của hai chục công ty vận chuyển hàng hoá và hành khách. So với đỉnh cao vào ngày năm tháng Sáu thì đã sụt hơn 30%, từ 5.500 điểm nay tuột dưới 3.900 điểm. Khi sụt quá 20% thì đầy là dấu hiệu trào lưu "thăng" đã chuyển thành "giáng", và là cảnh báo rằng lượng hàng hoá vận chuyển sẽ ít đi, tức là sản xuất sẽ giảm trong tương lai. Chưa kể là cổ phiếu sụt giá đồng loạt đã gây ra "hiệu ứng phồn thịnh ngược" là khi ta thấy bị nghèo đi thì càng tiết giảm chi tiêu và càng dễ đưa tới suy trầm.

 

Hỏi: Bây giờ, mình qua phần hai là vấn đề nội tại của các khối kinh tế khác khiến hiệu ứng Hoa Kỳ có thể gây tác dụng cộng hưởng như ông nói.

 

- Ách tắc chung của các đầu máy kinh tế lớn trên thế giới là nạn cạn kiệt tín dụng. Tại Âu châu, tình trạng này còn nguy ngập hơn tại Mỹ vì nhiều yếu kém trong hệ thống ngân hàng Âu châu. Đã thế, khối kinh tế của 27 quốc gia, trong đó có khối Euro của 15 nước dùng chung đồng Euro, lại không thể ứng phó linh động và mau lẹ như Ngân hàng Trung ương hay bộ Ngân khố Hoa Kỳ vì cần sự đồng ý của tất cả các quốc gia hội viên. Thất bại sau "thượng đỉnh" bốn nước Anh, Đức, Pháp, Ý vào Thứ Bảy tuần trước khiến Âu châu không thể có đối sách thống nhất mà xứ nào đành cứu lấy ngân hàng của xứ đó. Đã thế, kinh tế Âu châu lại đang bị suy trầm trong thực tế cho nên tình hình sẽ còn bi đát hơn. Dù Ngân hàng Trung ương có thể phải hạ lãi suất, cục diện Âu châu vẫn có nhiều bất lợi, có thể còn nặng hơn Mỹ. Đó là lý do vì sao đồng Euro sụt giá mạnh so với tiền Mỹ, dù Mỹ đang bị khủng hoảng tài chính.

 

Hỏi: Thế còn trường hợp Nhật Bản, tình hình có khả quan hơn chăng, khi các ngân hàng Nhật đã tung tiền cấp cứu các ngân hàng bị nạn tại Hoa Kỳ và đồng Yen lên giá"

 

- Nhật Bản có hoàn cảnh khác do chinh sách duy trì lãi suất cực thấp rất lâu để kích cầu. Hậu quả là doanh nghiệp Nhật đem đồng Yen rất rẻ đi đầu tư nơi khác để có lời cao hơn. Bây giờ khi nơi khác bị động, họ phải bán tháo và mua lại tiền Nhật khiến đồng Yen lên giá một cách bất thường. Nhưng, hậu quả là hàng Nhật sẽ khó cạnh tranh hơn và hệ thống ngân hàng Nhật sẽ bị rung chuyển còn nặng hơn vụ khủng hoảng vì tín dụng thứ cấp tại Hoa Kỳ.

 

- Nói chung thì cả ba đầu máy kinh tế mạnh nhất thế giới là Mỹ, Nhật, Âu đều đang bị nạn cùng lúc nên không ai cứu được ai và kinh tế toàn cầu sẽ bị suy trầm nặng. Chúng ta không có thời giờ phân tích tình hình Trung Quốc, là một vấn đề nguy ngập khác, vì mình còn phải nhìn qua hậu quả đối với Việt Nam.

 

Hỏi: Thưa đúng như vậy, và dù truyền thông tại Việt Nam có thể tránh nói nhiều đến khủng hoảng tại Mỹ để khỏi gây hốt hoảng, nhưng người ta cho rằng lãnh đạo xứ này rất quan tâm đến nguy cơ ấy. Cho nên Việt Nam sẽ bị hiệu ứng như thế nào"

 

- Kinh tế Việt Nam quá lệ thuộc vào ngoại thương và khả năng xuất khẩu. Khi toàn cầu bị suy trầm và hai thị trường lớn nhất của hàng hoá Việt Nam là Hoa Kỳ và Âu châu bị co cụm thì Việt Nam sẽ xuất khẩu ít hơn nữa, bị nhập siêu nặng hơn nữa từ cuối năm nay qua hết năm sau.

 

- Thứ hai, Việt Nam trông cậy vào đầu tư nước ngoài và lượng kiều hối từ ngoài trút vào, lượng tiền đó sẽ khan hiếm hơn và sản xuất của Việt Nam sẽ sút giảm mạnh. Đà tăng trưởng kinh tế có thể sụt dưới 6%, thậm chí chỉ còn chừng 5% như Ngân hàng Phát triển Á châu đã cảnh báo.

 

- Kết hợp hai vấn đề ấy thì Việt Nam có thể bị khủng hoảng về ngoại hối vì đồng bạc sẽ mất giá mạnh khi Mỹ kim tăng giá và sẽ còn tăng nữa trong khi mọi người cứ đoán lầm rằng vì kinh tế Mỹ sa sút đô la Mỹ sẽ sụt giá. Hôm nay Thứ Ba, một số nguồn tin ngân hàng quốc tế cho biết là Việt Nam vừa kín đáo chuyển tài sản ngoại tệ từ các nơi khác về hai thị trường Singapore và Hong Kong. Đấy cũng là một chỉ dấu rất đáng chú ý.

 

Hỏi: Nghĩa là Việt Nam cũng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp từ vụ khủng hoảng tài chính đang hoành hành tại Mỹ hay sao"

 

- Thưa rằng không vì hệ thống tài chính và ngân hàng của Việt Nam còn thô sơ, chưa hội nhập thật sâu vào hệ thống ngân hàng ngoại quốc, từ Đông Á tới Hoa Kỳ. Nhưng ảnh hưởng gián tiếp thì tất nhiên là có, qua trung gian ta gọi là "chuyển lực" của các nước Đông Á, từ Đông Bắc xuống Đông Nam Á. Nói chung, khủng hoảng tại Mỹ khiến các nước này đều bị khó khăn và có khi bị khủng hoảng về ngoại hối. Việc Chính quyền Nam Hàn phải trấn an dư luận rằng xứ này còn dự trữ ngoại tệ đến 240 tỷ Mỹ kim là một tín hiệu rất đáng ngại. Mà Đông Á vốn cũng là các thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam sau thị trường Trung Quốc.

 

- Trong khi ấy, mình không quên nguy cơ lạm phát vẫn còn rất cao, dù có giảm đôi chút trong tháng Chín thì vẫn là gần 28%. Vì vậy, lãi suất cho vay của Việt Nam chưa thể giảm và hàng loạt doanh nghiệp lẫn ngân hàng có thể vỡ nợ trong mấy tháng tới. Nhiều ngân hàng gặp khó khăn đã muốn giảm lãi suất ký thác phải trả cho trương chủ, và nhiều ngân hàng khác thật ra vẫn còn thanh khoản mà hết dám cho vay, tức là cũng gây ra hiện tượng cạn kiệt tín dụng vì tâm lý bất an như ta đang thấy tại Mỹ. Nếu Việt Nam hạ lãi suất để kích cầu hầu tránh nạn suy trầm thì lại dễ gây ra lạm phát. Bài toán của Việt Nam vì vậy rất khó giải quyết và mọi người mà án binh bất động để chờ bão nổi thì trận bão càng dễ xảy ra.

 

Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, những hoạn nạn này có thể kéo dài bao lâu và liệu Hoa Kỳ có thể bị một trận Tổng khủng hoảng như thời 1930 hay không"

 

- Kéo dài lâu hay chậm thì còn tùy vào tâm lý của thị trường và của người Mỹ, trong tình trạng hiện nay thì suy trầm sẽ khó chấm dứt trong vòng chín tháng như bình quân của các đợt suy trầm trước. Tuy nhiên, bị tổng khủng hoảng như thời 1929-1933 thì có lẽ là không. Thời nay, kinh tế Mỹ có cơ chế sản xuất đa diện hơn và cơ chế ứng phó tinh vi và linh động hơn tám chục năm trước. Thời đó, số tín dung gia cư bị mất và số nhà bị sai áp chiếm 50% tổng số, cao gấp 10 thời nay. Cũng xin nói thêm rằng tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đang là 6,1% và dù có lên tới 7% vào năm tới thì vẫn chưa bằng tỷ lệ trên 25% vào thời Tổng khủng hoảng. Chỉ mong là rút tỉa bài học sai lầm trước, Mỹ đừng tăng thuế như thời Tổng thống Roosevelt khiến hậu quả khủng hoảng kéo dài hơn cho tới trước Thế chiến II, tới năm 1938-1939. Tôi thiển nghĩ rằng nước Mỹ bị ngã, nhưng sẽ đứng dậy được, chỉ mong là các nước khác cũng sẽ đứng dậy chứ không vì khủng hoảng kinh tế mà gặp khủng hoảng chính trị và sụp đổ.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.