Hôm nay,  

Văn Hóa Và Phát Triển

22/10/200900:00:00(Xem: 11720)

Văn Hóa Và Phát Triển

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Đài Loan vẫn theo đạo Phật nhưng kinh doanh rất giỏi...
Cách đây một năm, khi khủng hoảnh tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ và lan khắp nơi khiến kinh tế toàn cầu bị suy trầm nặng thì nhiều người nói đến khủng hoảng của kinh tế trị trường hay tư bản chủ nghĩa. Một năm sau, các khối kinh tế lớn trên thế giới đều đụng đáy và đang hồi phục với mức độ nhanh chậm khác nhau, nhưng dường như không còn ai nói đến khủng hoảng của kinh tế thị trường nữa. Khi tổng kết lại kinh nghiệm của cơn chấn động vừa qua, người ta có thể chú ý tới một khía cạnh mơ hồ mà cá biệt của các nền kinh tế, là yếu tố văn hoá. Diễn đàn Kinh tế sẽ làm một tổng kết sơ khởi về yếu tố văn hoá ấy trong tiến trình phát triển của các nước. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về đề tài này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Sau một năm cơ như hốt hoảng vì khủng hoản tài chính và suy trầm kinh tế, thế giới đang bước qua giai đoạn hồi phục với tốc độ khác biệt của từng quốc gia. Một câu hỏi có vẻ mơ hồ là yếu tố chung khả dĩ giải thích khả năng ứng phó và phục hồi đó có thể là nét văn hóa của từng nhóm quốc gia hay không" Nhìn sâu xa hơn, ông thấy là yếu tố văn hoá ảnh hưởng thế nào đến tiến trình phát triển trong trường kỳ và đến khả năng đối phó với các biến động nhất thời của kinh tế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng câu hỏi này không mơ hồ mà lại rất cần thiết để ta thấy ra nhiều ngộ nhận quá phổ biến về tương quan giữa văn hoá và phát triển, lồng trong đó là khả năng ứng phó với các biến động kinh tế.
- Muốn tìm hiểu vấn đề, trước hết, tôi xin đề nghị là ta có thể hiểu văn hoá theo lối đơn giản nhất "là những tập quán bất thành văn - cụ thể là không viết thành luật lệ - mà một cộng đồng nào đó cùng chia sẻ, cùng tôn trọng vì các lý do lịch sử hay tôn giáo tích lũy từ nhiều thế hệ". Chúng ta chọn một định nghĩa đơn giản như vậy để biết là cùng nói về chuyện gì.
Việt Long: Thưa vâng, xin đồng ý với định nghĩa đó.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thứ hai, từ khi loài người chọn hình thái kinh tế thị trường, là lấy quy luật cung cầu làm yếu tố chính trong các quyết định kinh tế - một hình thái thật ra cũng mới chỉ xuất hiện và phổ biến từ vài thế kỷ thôi - thì người ta nghiệm thấy một hiện tượng là sinh hoạt kinh tế có bị chi phối bởi những chu kỳ thăng giáng, lên xuống. Ở đây, ta không đi sâu vào việc giải thích các chu kỳ ấy mà chỉ tìm hiểu xem yếu tố văn hoá mình vừa nói ở trên ảnh hưởng thế nào đến cách đối phó với chu kỳ ấy. Nói cho nôm na thì mỗi nền văn hoá có thể chỉ ra một cách xử trí với nghịch cảnh và xuyên qua đó, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển trong trường kỳ. Như vậy có được không"
Việt Long: Chúng tôi hiểu rằng ta sẽ đề cập đến nhiều phạm trù khá trừu tượng thuộc về lý luận nên ông muốn minh định nền tảng vấn đề một cách đơn giản và dễ tiếp nhận. Nếu đồng ý ở các định nghĩa đó, mình có thể nào tìm ra giải đáp về tương quan giữa văn hoá và phát triển không" Cụ thể thì tập quán văn hóa của một dân tộc có là yếu tố thuận lợi hoặc tiêu cực cho phát triển"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Câu hỏi ấy rất xác đáng và có khi sẽ giải tỏa được nhiều ngộ nhận lưu cữu từ cả trăm năm nay.
- Khởi đầu của ngộ nhận là lý luận của nhà xã hội học nổi tiếng của Đức là Max Weber. Ông là một nhà tư tưởng lớn và từ đầu thế kỷ 20 đã giải thích chủ nghĩa tư bản từ đạo tắc - là quy tắc đạo đức - của đạo Tin Lành, với hàm ý là tinh thần khổ hạnh cần kiệm của người theo đạo Tin Lành đã giúp cho việc tích lũy tư bản đề đầu tư. Do lý luận có ý giải thích sự phát triền của chủ nghĩa tư bản từ một tập quán văn hoá, người ta tin rằng một nền văn hoá này có lợi thế cao hơn một nền văn hoá khác chẳng hạn. Sở dĩ người ta tin như vậy vì trong hệ thống Tây phương nếu đối chiếu hai nếp văn hóa xuất phát từ tôn giáo là Công Giáo và Tin Lành, thì các nước phát triển sớm đều theo đạo Tin Lành của hệ phái Calvin khác với các nước theo Công giáo ở miền Nam. Nhưng đây là một ngộ nhận vì sau đó xứ nào của Âu Châu hay Bắc Mỹ cũng đều phát triển mạnh. Trong thất hùng kinh tế là nhóm G-7 của bảy nước công nghiệp hàng đầu thế giới ngày nay, có bốn nước Âu Châu, Hoa Kỳ, Canada và cả Nhật Bản là quốc gia không nằm trong hệ thống Thiên chúa giáo hay văn hoá Âu châu.
Việt Long: Và nếu kể thêm trường hợp Trung Quốc là cường quốc kinh tế mới nổi nay sắp bắt kịp Nhật Bản thì đúng là văn hoá Tin Lành, Công Giáo hay Thiên Chúa Giáo không giải thích được tất cả. Thế nhân chuyện Nhật Bản hay Trung Quốc đang là cường quốc kinh tế thì mình có thể kết luận rằng nếp văn hoá Khổng Mạnh có là yếu tố thuận lợi cho phát triển không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trung Quốc và Nhật Bản là hai trường hợp gọi chung là Đông Á trong khu vực rất đa diện và phức tạp của Á châu.
- Trong thế kỷ 20, vốn hướng dẫn dư luận toàn cầu từ khá lâu, các nước Âu châu vẫn lý luận rằng Á châu không có tương lai và văn hoá Á Châu có những đặc tính không thuận lợi cho kinh tế thị trường và phát triển. Đấy cũng là một ngộ nhận theo lối suy nghĩ của Max Weber, rằng dân châu Á không có tinh thần kinh doanh như dân Âu châu. Thật ra, Nhật Bản đã công nghiệp hoá rất sớm và trên doanh trường quốc tế ngày nay, dân Á châu chẳng thua kém gì ai. Lồng trong sự ngộ nhận ấy lại có vài huyền thoại khác ly kỳ không kém.


- Chẳng hạn như qua nhiều thập niên, người ta cho rằng văn hoá Khổng Mạnh quá coi trọng vai trò của tập thể và không phát huy sáng kiến hay quyền lực cá nhân như tại Âu Châu, nên cũng gây trở ngại cho phát triển. Sau đó, người ta lại nói ngược rằng tinh thần tập thể của văn hoá Á châu là yếu tố có lợi cho công nghiệp khi mọi người đều tham gia với tinh thần kỷ luật cao vào tiến trình sản xuất trong nhà máy. Cực đoan hơn thế, người ta còn phát triển một lý luận sai lầm về cái gọi là "giá trị Á châu" trong tiến trình phát triển, tức là gián tiếp đề cao kỷ cương thậm chí quyền lực nhà nước châu Á như yếu tố phát triển có ưu thế ổn định hơn sự phóng túng của cá nhân hay rối loạn của thị trường theo kiểu Tây phương. Lý luận này còn hàm ý bênh vực sự chuyên quyền và độc đoán sung dụng tài nguyên của một nhà nước anh minh sáng suốt nên cổ võ ngầm cho chế độ độc tài. Nó bị phủ nhận bởi vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998. Chế độ tập quyền dẫn tới tham nhũng và sai lầm trong phân phối tài nguyên đầu tư và đối phó với chu kỳ suy trầm, nên không thể là động lực tốt cho phát triển.
Việt Long: Như ông vừa trình bày thì đạo Tin Lành, văn hoá đề cao tự do cá nhân của Âu Châu hoặc tư tưởng Khổng Mạnh của Á Châu không nhất thiết là một ưu điểm hoặc là một trở ngại tự nhiên và tiên khởi của công cuộc phát triển"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và ta nên vượt qua những nghịch lý ấy thì mới hiểu ra yếu tố quyết định của công cuộc phát triển. Một thí dụ khác cũng rất đáng chú ý cho người Việt là sự khác biệt giữa Hàn Quốc và Đài Loan. Đại Hàn nói chung là một bán đảo đã được Nhật Bản cưỡng bách công nghiệp hoá từ đầu thế kỷ 20. Sau khi bị chia đôi thì Bắc Hàn vốn đã có nền công nghiệp nặng lại bị lụn bại dưới chế độ cộng sản. Trong khi miền Nam, thời đó chủ yếu là chỉ có canh nông, lại phát triển mạnh về kỹ nghệ để bắt kịp Nhật Bản trên nhiều địa hạt siêu kỹ thuật. Nhưng dân Đại Hàn nói chung đều nghi ngờ và thật ra không ưa Nhật Bản. Ngược lại, là một thuộc địa của Nhật từ xưa, Đài Loan không có tinh thần tỵ hiềm đó với nước Nhật và cũng không phát triển bằng công nghiệp nặng hay kỹ nghệ chế biến như Nam Hàn. Họ chọn đường khác, với một số ngành công nghệ tin học, thương mại và dịch vụ kể cả tài chính. Đa số dân Đài Loan vẫn theo đạo Phật nhưng kinh doanh rất giỏi chứ không vì Phật giáo mà quay lưng với phát triển. Yếu tố khác biệt giữa bốn nước ấy - là Nhật Bản, Nam Hàn, Bắc Hàn và Đài Loan - không phải là văn hoá Á Châu mà là sự chọn lựa về chế độ chính trị.
Việt Long: Và nói về chế độ chính trị, chúng ta không quên trường hợp Ấn Độ, một cường quốc đang lên mà đã có lần ông nhắc tới trong một chương trình về Trung Quốc vào tháng trước"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy, khi mình nói đến cách so sánh của giáo sư kinh tế Milton Friedman giữa chế độ tập thể chính trị và tự do kinh tế của Trung Quốc với chế độ tự do chính trị mà kinh tế tập thể của Ấn Độ. Năm 2006, ông Friedman dự báo là Trung Quốc sẽ có xung đột trong khi Ấn sẽ phát triển mạnh sau khi từ bỏ chế độ kinh tế tập thể từ gần hai chục năm trước.
- Về trường hợp Ấn Độ, ta chú ý tới một đặc điểm của họ là đa nguyên về văn hoá và tôn giáo nhờ tinh thần cởi mở và dân chủ về chính trị. Sau khi theo đuổi đường lối kinh tế nhuốm mùi bao cấp khá lâu thì từ năm 1991 trở về sau, đảng Quốc Đại thuộc cánh tả đã từ bỏ đường lối ấy để ngả theo kinh tế thị trường. Sau đó, đảng bảo thủ Bharatiya Janata tiếp tục tự do hoá kinh tế và năm 2005, liên minh cánh tả trong đó có cả đảng Cộng sản lên cầm quyền vẫn theo đuổi con đường cải cách kinh tế cho thông thoáng hơn. Dư luận quá chú ý tới Trung Quốc mà chưa nhìn thấy sự lớn mạnh đáng kể của Ấn Độ. Thành thử, yếu tố quyết định cho công cuộc phát triển không tùy thuộc vào văn hoá Khổng Mạnh, Ấn Độ giáo, Hồi giáo hay Phật giáo mà có lẽ phải tìm thấy ở nơi khác.
Việt Long: Chúng ta đi tới kết luận và câu hỏi cuối của chúng tôi ở đây là nếu không là văn hoá thì động lực nào mới quyết định về tiến trình phát triển trong lâu dài"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng động lực chính cho công cuộc phát triển một quốc gia đi theo kinh tế thị trường là "khả năng định chế hóa tinh thần cởi mở để hệ thống chính trị lấy được những quyết định đúng đắn về kinh tế và xã hội". Tôi xin giải thích từng yếu tố trong này.
Thứ nhất, "tinh thần cởi mở" có nghĩa là không ai trong xã hội lại có độc quyền chân lý, tức là phán rằng chỉ tư tưởng của mình mới duy nhất có lý. Chủ quan như vậy thì dễ quyết định sai về kinh tế khi mà thị trường hoạt động ngày càng phức tạp và mở ra toàn cầu mà thời gian quyết định để ứng phó lại thu hẹp, trễ một ngày hay một giờ là bị lỗ bạc tỷ. Thứ hai, "định chế hóa tinh thần cởi mở" ấy có nghĩa là phải cho xã hội có những quyền hiến định về tự do thông tin và trao đổi tư tưởng hầu ai ai cũng có thể hiểu rõ sự vận hành của thị trường nội địa và quốc tế mà tìm ra giải pháp có lợi và có quyền phê phán những quyết định sai để còn kịp sửa. Thứ ba, hệ thống chính trị phải phân quyền để thiểu số lãnh đạo không có độc quyền quyết định về kinh tế vì lẽ tất yếu là nếu có toàn quyền thì sẽ lấy loại quyết định có lợi cho thiểu số ở trên mà hy sinh quyền lợi của đa số còn lại, thí dụ như về đầu tư, thuế khóa, tín dụng, lương bổng. Làm như vậy là cản trở phát triển và thu hẹp khả năng ứng phó cấp thời với các chu kỳ suy trầm kinh tế. Tổng kết lại thì không phải văn hoá mà là chính trị và chính sách vĩ mô mới có ảnh hưởng mạnh nhất tới sinh hoạt kinh tế và công cuộc phát triển trong trường kỳ. Xứ nào cũng có thể bị suy trầm hay suy thoái kinh tế, nhưng xã hội càng tự do thì càng sớm tìm ra giải pháp thích đáng cho đa số.

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.