Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương.
Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt.
Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Tháng Tám năm 2026, cuộc thương thuyết giữa Ottawa và Hoa Thịnh Đốn không thành. Tổng Thống Trump bèn đánh thuế 50 phần trăm lên chừng 20 tỷ Mỹ kim hàng hóa của Canada. Chính phủ Canada cũng trả đũa, đánh thuế lên một số hàng Hoa Kỳ với số tiền gần ngang như thế.
Chưa bao lâu, ông Trump lại dọa rằng từ tháng Giêng sẽ đánh thuế 50 phần trăm vào xe hơi, xe vận tải và phụ tùng từ Canada đem sang.
Canada vốn là một nước đồng minh lâu đời của Hoa Kỳ. Hai nước cùng chung một đường biên giới rất dài, việc buôn bán qua lại đã thành nếp từ lâu. Gần 70 phần trăm hàng hóa Canada xuất cảng vẫn bán sang Hoa Kỳ.
Thế mà bấy giờ Thủ Tướng Mark Carney cũng phải gọi cuộc tranh chấp ấy là một “cuộc chiến mậu dịch.”
Việc đó khiến các nước khác không thể không nghĩ ngợi.
Một nước thân cận với Hoa Kỳ như Canada mà còn có thể trong một sớm một chiều bị đánh thêm thuế, thì những nước nhỏ hơn, thế lực kém hơn, tất nhiên càng phải lo tìm lấy một đường khác, để khi hữu sự khỏi bị bó tay.
Bắc Kinh vốn đã trông thấy điều ấy.
Đầu năm 2026, Canada cùng Trung Quốc đạt một sự hiểu biết sơ bộ về kinh tế và mậu dịch. Theo đó, Canada có thể cho tới 49,000 xe điện Trung Quốc vào nước mình với mức thuế 6.1 phần trăm. Trung Quốc sau lại đình chỉ một số thuế rất nặng trước đó đánh vào hạt cải dầu, đậu, tôm hùm và cua của Canada.
Lúc đầu, thỏa thuận ấy chưa lấy gì làm lớn.
Nhưng Ottawa càng xa Hoa Thịnh Đốn bao nhiêu, thì con đường sang Bắc Kinh lại càng có giá bấy nhiêu.
Ở Phi Châu cũng có cái thế như vậy.
Từ ngày 1 tháng Năm, Trung Quốc bỏ thuế nhập cảng đối với hàng hóa từ cả 53 nước Phi Châu có bang giao với Bắc Kinh. Nam Phi lại ký với Trung Quốc một khuôn khổ hợp tác kinh tế, trong lúc nước này đang tìm cách bù lại những thiệt hại do thuế Hoa Kỳ gây nên.
Brazil cũng chịu thêm thuế của Hoa Kỳ.
Ấn Độ cũng vừa thương thuyết, vừa phải chịu những khoản thuế mới đánh vào một phần lớn hàng hóa đem bán sang Mỹ.
Tuy vậy, bảo rằng các nước ấy vì thế mà bỏ Hoa Kỳ để theo Trung Quốc thì không phải.
Việc bang giao giữa các nước xưa nay vốn không chỉ lấy tình thân sơ mà định, phần nhiều vẫn tùy ở quyền lợi.
Ấn Độ còn có điều phải đề phòng Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á cũng không phải không biết rằng Trung Quốc càng mạnh thì mình càng có chỗ phải dè dặt. Brazil, Nam Phi cũng đều có lợi riêng phải giữ.
Song trong việc buôn bán, người ta không cần phải thân thiết mới chịu ngồi cùng một bàn.
Chỉ cần có thêm một nơi để bán hàng, thêm một chỗ để vay vốn, thêm một đường để khỏi phải chỉ trông cậy vào Hoa Kỳ, thế đã là đủ.
Ấy chính là chỗ Bắc Kinh được lợi.
Trung Quốc không nhất thiết phải làm cho thiên hạ tin rằng mình tốt hơn Hoa Kỳ.
Chỉ cần làm cho thiên hạ nghĩ rằng trông cậy vào một mình Hoa Kỳ thì cũng có điều bất tiện.
Cái lợi ấy thoạt xem không lớn, nhưng lâu ngày có thể làm đổi cả thế cuộc.
Một cuộc thăm dò tại Đông Nam Á năm 2026 cho thấy 43.4 phần trăm người được hỏi nói những biện pháp mậu dịch của chính quyền Trump đã khiến họ có cái nhìn kém thiện cảm hơn đối với Hoa Kỳ, trong khi một năm trước con số ấy chỉ là 21.3 phần trăm. Có 51.9 phần trăm coi đường lối của Hoa Kỳ dưới thời ông Trump là điều đáng lo nhất về địa chánh trị trong vùng.
Lại một cuộc thăm dò khác của Pew Research Center tại 36 quốc gia cho thấy tại phần đông những nơi được hỏi, Trung Quốc nay được nhìn thuận lợi hơn Hoa Kỳ. Tại Nam Phi, 72 phần trăm coi Trung Quốc là một đối tác đáng tin, trong khi chỉ có 46 phần trăm nói như thế về Hoa Kỳ.
Dẫu vậy, cũng không nên vì thế mà cho Trung Quốc là nước hết lòng theo tự do mậu dịch.
Bắc Kinh khi cần bảo vệ quyền lợi trong nước thì cũng đặt hạn ngạch, dựng hàng rào và đánh thuế như các nước khác. Trung Quốc hiện vẫn hạn chế một số hàng nhập cảng, còn các nước Âu Châu từ lâu vẫn than phiền rằng kỹ nghệ Trung Quốc làm ra quá nhiều hàng rồi đem bán ra ngoài với giá rẻ.
Bởi vậy, cái lợi của Bắc Kinh hiện nay không phải vì Trung Quốc bỗng trở nên rộng rãi hơn.
Ấy chỉ là cái lợi do thế đối chiếu mà thành.
Hoa Kỳ càng khó đoán, thì Trung Quốc càng dễ tỏ ra ổn định.
Hoa Thịnh Đốn càng đem thuế khóa ra làm sức ép, thì các nước khác càng muốn sắm lấy một đường lui.
Ngày trước, một nước càng tùy thuộc vào thị trường Hoa Kỳ, thì Hoa Thịnh Đốn càng dễ nói nặng nói nhẹ.
Nay nếu nước ấy có thể bán hàng sang Trung Quốc, vay vốn ở một nơi khác, hoặc mở thêm quan hệ với những nước khác nữa, thì cái thế của Hoa Kỳ đối với nước ấy tự nhiên giảm đi.
Sự đổi thay ấy chẳng xảy ra một lúc.
Cũng không có việc một sớm một chiều các nước đồng loạt bỏ Washington mà chạy sang Bắc Kinh.
Chỉ là nước này mở thêm một đường.
Nước kia chừa thêm một cửa.
Ngày qua tháng lại, những con đường ấy thành quen, những cánh cửa ấy thành rộng.
Đến lúc ngoảnh lại, Hoa Kỳ vẫn là một cường quốc lớn, song cái thế khiến thiên hạ không còn đường nào khác để chọn đã chẳng được như trước nữa.
Còn Bắc Kinh thì chẳng cần ai đem lòng quy phục.
Chỉ cần mỗi phen Hoa Thịnh Đốn khép một cánh cửa, Trung Quốc còn đứng bên kia mà mở lấy một cửa khác.
Ấy cũng là một cái lợi trong thế cuộc mà không cần phải tự mình ra tay gây nên.
Cung Đô phỏng lược
Nguồn: Theo Naina Sharma, viết trên Asia Times ngày 1 tháng Chín, 2026, cuộc chiến thuế quan của Tổng Thống Donald Trump đang khiến nhiều quốc gia muốn tìm thêm đường giao thương ngoài Hoa Kỳ, và nhờ thế Trung Quốc càng dễ mở rộng ảnh hưởng kinh tế.



Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình