Hôm nay,  

Sau Ngày Tang

17/08/201000:00:00(Xem: 6624)

Sau Ngày Tang

Như Quang
Tôi vừa trở về từ một khoá thiền ngắn hạn. Vào diễn đàn nào cũng nghe cáo phó, phân ưu về sự ra đi của sư bà Diệu Từ. Tiểu sử sư bà vừa được các MC đọc, vừa được phổ biến trên màn hình. Chỉ cần nghe một người nào vừa mất mẹ là lòng tôi rưng rưng bởi vì tôi cũng đã từng mất mẹ. Nghe mẹ ra đi mà mình không về được để thọ tang có người con nào không thắt ruột" Tôi muốn gởi đôi lời chia buồn đến những người con côi cút nhưng trong không khí sôi động này tôi nghĩ không khéo lời chia buồn của mình sẽ trở thành lố bịch vì những sáo ngữ.
Sau ngày hỏa táng sư bà Diệu Từ, tôi ngồi lại lắng lòng viết những giòng tâm bút để chia sẻ nỗi đau mất mẹ với toàn thể gia đình sư Giác Giới. Những giòng mực tâm không bao giờ trễ muộn bởi những điều xuất phát tự tâm là những điều không có thời gian tính.
Tôi chưa từng biết sư bà Diệu Từ cũng như không hề biết bà Phạm thị Thu. Tôi chỉ biết Bà Tư, người tu nữ từ hòa tại chùa Siêu Lý Vĩnh Long. Tôi đến chùa Siêu Lý vào một ngày mùa hè 2008 và ở đó một ngày, một đêm. Một đêm an trú ở ngôi chùa này tựa như một đêm an trú trên cõi trời Đạo Lợi. Tôi được nghe kinh, được sư Giác Giới dạy đạo, được hành thiền bất cứ nơi nào tôi muốn. Vị trụ trì chùa Siêu Lý là một vị trụ trì vô cùng đặc biệt, tôi chưa hề gặp một vị trụ trì nào như thế. Sư ít giao tiếp và suốt bao nhiêu năm chỉ có một ngôi chùa mà trụ. Mới gặp tôi lần đầu mà sư đã trao cho tôi quyền … trụ trì. Sư giao quyền cho tôi không cần văn bản mà chỉ bằng một câu nói vô cùng đơn giản: ai cũng có thể làm trụ trì. Cô cũng có thể làm trụ trì: trụ giới và trì giới.  Định nghĩa trụ trì của sư giản dị quá nhưng chắc chắn rất khó hành. Sư cho tôi tham dự vào khóa kinh tối, kinh sáng của chư tăng, chỉ khi chư tăng tụng giới bổn sư mới mời tôi ra ngoài.


Buổi chiều trong khi chờ lên chánh điện học giới với sư Giác Giới, tôi ngồi trò chuyện với bà Tư. Bà ngồi nơi ngưỡng cửa trước cốc của bà, hai bàn chân sưng phồng. Tôi nói bà để con xoa bóp cho. Tôi dùng kỷ thuật xoa bóp chân mà người bạn Đông y sỹ người Trung Hoa đã dạy, bấm nhẹ các huyệt dưới lòng bàn chân và xoay cổ chân cho bà. Gương mặt bà hiện ra nét thư giãn và bà hỏi tôi một câu hỏi mà tôi nghĩ là bà đợi chờ để hỏi cả ngày nay vì bà biết tôi ở nước ngoài về: “Cô có ở gần sư Trí Tịnh không"” Câu hỏi của bà làm tôi xúc động vì trước mắt tôi là một bà mẹ quê tiêu biểu. Một bà mẹ ngồi nơi ngưỡng cửa mong con, thấy ai cũng tưởng con về, thấy ai cũng tưởng có quen biết với con mình. Tôi không dám thú thực với bà tôi không hề biết sư Trí Tịnh, chỉ nghe nói sư Giác Đẳng có người em là sư Trí Tịnh nhưng sư ở đâu tôi không được biết. Tôi chỉ biết sư Giác Giới, mà gia đình quen gọi là sư Ba, sư Giác Đẳng, sư Giác Nguyên và sư Pháp Nhiên. Nhưng tại sao bà chỉ hỏi thăm sư Trí Tịnh mà không hỏi thăm sư Giác Nguyên hay sư Giác Đẳng" Có lẻ trong lòng bà mẹ nào đứa con út ít cũng là đứa con chiếm vị trí quan trọng nhất. Tôi định bụng khi trở về Canada sẽ hỏi thêm về sư Trí Tịnh nhưng công việc bề bộn khiến tôi quên. Điều này làm tâm tôi luôn trạo hối.
Ngày bà Tư mất, nếu không nghe thông báo bà có 7 người con, tôi nghĩ số con của bà đông hơn con số bảy kỳ diệu. Xem qua các hình ảnh trên mạng Internet, tôi thấy một người luôn có mặt bên cạnh quan tài bà, luôn đứng cạnh sư Giác Giới. Nếu không biết rõ vị này tôi có thể nghĩ đây là trưởng nam của bà Tư. Và người đặc biệt này chính là vị trụ trì chùa Siêu Lý. Thêm một người con nữa ngay khi nghe tin bà Tư từ trần đã vội vàng bay về từ một trường thiền tại Miến Điện. Một giờ sáng sư đã có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để kịp về Vĩnh Long kính viếng bà Tư. Có lẻ còn nhiều người con nữa không do bà Tư sanh ra cũng đã vội vàng về nhìn người mẹ từ bi lần sau cuối. Điều này nói lên được tánh hạnh của người đã chết. Cung cách sống suốt quãng đời hộ tăng của của bà đã đem lại sự tôn kính từ nhiều người khi bà nằm xuống. 
Sau ngày tang của bà Tư tôi nghĩ tôi cần phải thắp nén nhang lòng để kính viếng bà và để chuộc cái lỗi đã không cho bà được một niềm vui nhỏ nhoi về đứa con út ít của bà. Tôi tin tưởng cảnh giới bà đang ở là một cảnh giới vô cùng an vui, ngợp bóng y vàng của những người con yêu quý. Tôi không tạo được phước báu gì lớn lao ngoài chút phước xuất gia gieo duyên, hành thiền vừa qua để hồi hướng đến cho bà. Và do những lời chân thật này, nguyện cho sự an lạc hằng đến với bà.
Như Quang
Canada, Mùa Vu Lan, 2010
Phật lịch 2554

Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.