Hôm nay,  

Đi Tìm Đất Hiếm

28/10/201000:00:00(Xem: 13179)

Đi Tìm Đất Hiếm

Việt Long RFA/Nguyễn Xuân Nghĩa

...[TQ] muốn làm chủ một nguồn cung cấp kim loại và cho dân ta hít bụi độc, uống nước ô nhiễm...

Trước khi thăm viếng Malaysia và đến Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh thứ 17 của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á vào cuối tuần này, Thủ tướng Ấn Độ đã hội kiến với Thủ tướng Nhật Bản tại Tokyo vào ngày Thứ Ba 26. Về triển vọng hợp tác giữa hai nước được truyền thông loan tải thì ngoài hồ sơ an ninh, người ta chú ý đến việc Ấn Độ sẽ bán "kim loại hiếm" hay "các nguyên tố đất hiếm" cho Nhật Bản. Tin đó khiến dư luận để ý tới việc Nhật Bản cũng sẽ mua những thứ kim loại cực hiếm này của Việt Nam. Chuyện những "kim loại cực hiếm" ấy là gì" Diễn đàn Kinh tế yêu cầu nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trình bày cùng quý thính giả. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa còn cho rằng Việt Nam lại có thể rút ra một số kinh nghiệm về kinh tế, sản xuất qua sự kiến này. Sau đây là cuộc trao đổi do Việt Long thực hiện...
Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Các vị Thủ tướng Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đã và sẽ bàn thảo vấn đề cung cấp cho Nhật Bản những kim loại, hay nguyên tố, gọi là "đất hiếm". Ông vui lòng giải thích về những kim loại hay nguyên tố đó, và hoạt động của các nguyên thủ quốc gia vừa kể diễn ra trong bối cảnh nào" 
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng chúng ta nên tìm hiểu về bối cảnh trước.
- Thứ nhất, những động thái quân sự gần đây của Trung Quốc tại khu vực Kashmir và gần bang Arunachal Pradesh của Ấn và tại Đông hải ngoài khơi Nhật Bản khiến hai xứ Nam Á và Đông Á phải quan tâm và tăng cường hợp tác về nhiều mặt, kể cả an ninh. Điều ấy có lợi cho Việt Nam khi nhiều cường quốc trong khu vực đều chú ý đến sự bành trướng đáng ngại của Trung Quốc. Việc Ấn Độ hợp tác với Việt Nam về huấn luyện quân sự cũng nằm trong chiều hướng đó.
- Thứ hai, trong mâu thuẫn Hoa-Nhật, giữa Trung Quốc và Nhật Bản, bùng nổ từ Tháng Chín vừa qua, người ta chú ý đến một hồ sơ là việc Bắc Kinh hạn chế xuất khẩu kim loại đất hiếm qua Nhật, khiến các doanh nghiệp Nhật đều lúng túng và Chính quyền Nhật đang ráo riết đi tìm các nguồn tiếp liệu khác, thí dụ như tại Ấn Độ và Việt Nam, hoặc cả Hoa Kỳ, Úc hay Brazil. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về sản phẩm chiến lược này, cứ bị gọi sai là "đất hiếm".
Việt Long: Như vậy, chúng ta bắt đầu nói về sản phẩm đó trước khi phân tích vì sao xứ nào cũng đang cần và vị thế của Trung Quốc trong lãnh vực này là gì.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Xuất phát từ nước Pháp vào thế kỷ 19, người ta dùng chữ "đất hiếm" hay "rare earth" để dịch chữ "terres rares" của Pháp. Đấy là 17 nguyên tố hóa chất có thể tìm thấy trên vỏ trái đất, là kim loại hiếm quý và cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp. Nếu gọi là "kim loại hiếm" thì có lẽ đúng hơn và còn dễ hiểu hơn từ "Hy Thổ Kim Thuộc" của Trung Quốc.
- Trên đại thể thì sau khi xác định bằng địa chất học, ta phải đào cả tấn đất, cán vụn thành sỏi, rồi xay thành bụi để qua nhiều đợt đãi lọc tinh chế bằng vật lý, hóa học hay quang học thì gạn được 17 thứ kim loại không thể thiếu trong hầu hết máy móc thiết bị của nền văn minh hiện đại. Từ máy nói, máy ảnh, máy tính, máy lọc dầu đến máy bay và cả bom tinh khôn. Tức là từ kỹ nghệ điện toán, không gian đến quốc phòng, đến năng lượng v.v... người ta đều cần tới những kim loại này. Vì vậy, chúng mới là sản phẩm chiến lược.
Việt Long: Thế Trung Quốc giữ vị trí gì trong lĩnh vực chiến lược đó" Phải chăng vì Trung Quốc có rất nhiều những nguyên tố đất hiếm hay kim loại quý như ông vừa nói"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa, vẫn nói về bối cảnh thì đây là đề tài kinh tế thú vị vì cho chúng ta, nhất là Việt Nam, nhiều bài học bổ ích cho tương lai.
- Từ vài thế kỷ nay, cùng với đà công nghiệp hoá và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta tìm ra công dụng của các kim loại quý trên mặt trái đất. Hoa Kỳ là nước dẫn đầu về sản lượng vì có trữ lượng rất lớn. Ngoài ra, nhiều xứ khác cũng có các kim loại này, như nước Nga, Kazahkstan, Úc, Ấn Độ, Brazil, v.v... Khi cải cách kinh tế để công nghiệp hoá, Trung Quốc bắt đầu thấy ra công dụng đó, trong ba chục năm, họ đã đào xới lung tung và nay là quốc gia dẫn đầu thế giới về sản lượng kim loại hiếm. Tính đến năm ngoái thì trong sản lượng của cả thế giới là 124 ngàn tấn, có 120.000 tấn là của Trung Quốc, tương đương với 97%. Và trong trữ lượng tìm ra trên mặt địa cầu, tính đến năm ngoái là gần triệu tấn thì Trung Quốc có được 36%. Trong khi ấy, sản lượng của Hoa Kỳ thì từ đỉnh cao là 40 ngàn tấn vào năm 1983 đã trở thành... số không kể từ gần 10 năm nay!
Việt Long: - Tức là từ khi Trung Quốc nhảy vào ngành này, cách đây ba chục năm, thì đó cũng là lúc Hoa Kỳ bắt đầu rút lui rồi nhường ngôi vị số một cho họ! Ông cho biết tại sao như vậy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta đang chứng kiến một kinh nghiệm kinh tế mà Việt Nam nên để ý. Xin hãy nói về Trung Quốc đã vì Việt Nam là nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của mô thức Trung Quốc.
- Mô thức kinh tế Trung Quốc là sản xuất tối đa mà bất kể lời lỗ về kinh doanh vì chỉ để tạo ra công việc làm cho dân số quá đông. Quan niệm của lãnh đạo Bắc Kinh về "mối lời" là sự ổn định chính trị và xã hội bên trong và xây dựng thế lực kinh tế với bên ngoài. Nhưng cái phần lỗ mà họ không tính ra chính là những tổn thất về môi sinh, là khối tín dụng sẽ biến thành nợ thối hay là các doanh nghiệp sẽ phá sản nếu không được trợ cấp để tồn tại... Như nhiều ngành công nghiệp khác, kỹ nghệ khai thác kim loại hiếm của Trung Quốc là một điển hình.


- Từ khi cào đất hiếm, 30 năm về trước, Trung Quốc lại hồ hởi thi đua theo kiểu Bước Nhảy vọt Vĩ đại của Mao, vì các doanh nghiệp nhà nước bất kể lớn nhỏ đã được cấp phát tín dụng nhẹ lãi để đào đất hiếm mà bất kể chi phí. Trong 10 năm đầu sau cải cách, sản lượng tăng 40% một năm, rồi cứ năm năm lại nhân đôi một lần cho tới khi thành vô địch thế giới. Nhưng vì sản xuất ào ạt, cho nên Trung Quốc làm giá sụt mất 95% so với tình hình năm 1979!
Việt Long: Trước sự tung hoành đó của Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nước khác tính sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ hoan hô vì có kim loại hiếm với giá cực rẻ thì tội gì cào đất và hít bụi độc cho dân thêm khổ" Không chỉ Mỹ mà các xứ khác cũng đều thấy là việc khai thác này bớt có lợi. Song song, luật lệ bảo vệ môi sinh và quyền lợi lao động cũng chặt chẽ hơn nên họ khỏi tìm kiếm đào xới làm chi khi đã có nhà cung cấp rẻ tiền là Trung Quốc. Nghĩa là việc xứ này bán rẻ kim loại quý có góp phần đáng kể cho cách mạng công nghệ toàn cầu từ đầu thế kỷ 21!
- Bây giờ, ta mới nói đến bài học của mô thức kinh tế Trung Quốc mà Việt Nam dại dột tưởng là mẫu mực. Phí tổn chìm, hay "ẩn phí" ở đây, là môi sinh bị hủy hoại, quyền lợi và sức khoẻ của công nhân không được bảo vệ, nhiều doanh nghiệp đào chui bán lậu với mức lời cực thấp và khi phá sản thì đành quịt nợ, làm hệ thống ngân hàng bị chìm dưới núi nợ xấu.
- Năm năm trước, Bắc Kinh mới thấy ra sự dại dột này. Họ nghiên cứu việc chấn chỉnh sản xuất và phân phối để tiến dần tới chế độ tập trung kiểm soát. Song song, họ nghĩ đến việc tìm nguồn cung cấp khác vì biết rằng với đà lạm thác, tức là khai thác vô trách nhiệm, trữ lượng kim loại quý sẽ chỉ vừa đủ cho nhu cầu nội địa. Thứ ba là họ phải giữ thế độc quyền về các sản phẩm chiến lược vì liên hệ đến an ninh. Đây là ý nghĩa câu nói của Đặng Tiểu Bình năm 1992, rằng "Trung Đông có dầu khí thì Trung Quốc có đất hiếm." Đó là võ khí chiến lược!
Việt Long: Sau khi thấy ra sự sai lầm, Trung Quốc đã làm những gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nhân kinh nghiệm này, ta nên trước tiên chú ý đến các dự án khai thác bauxite tại Việt Nam, đó là kết quả của sự giác ngộ Trung Quốc! Sau khi mua chuộc lãnh đạo, họ muốn làm chủ một nguồn cung cấp kim loại và cho dân ta hít bụi độc, uống nước ô nhiễm...
- Rồi đầu năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh ra chỉ thỉ kiện toàn kiểm soát và điều hướng sản xuất. Từ Tháng Năm, họ cấm sản xuất lậu, dẹp luôn các cơ sở kém hiệu năng để chỉ còn 20 doanh nghiệp thay vì 90 đơn vị đào đất tìm kim loại hiếm. Rồi họ đặt ra hạn ngạch xuất khẩu, một năm không bán ra quá 35 ngàn tấn. Sau khi gây mâu thuẫn với Nhật Bản về tranh chấp và đụng độ quanh khu vực Senkaku/Điếu ngư đài vào mùng bảy Tháng Chín, họ hăm dọa sẽ ngưng xuất khẩu luôn, bất chấp cam kết về ngoại thương trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Khi Trung Quốc hạn chế dần việc xuất khẩu và giá cả của nhiều kim loại hiếm sẽ tăng. Doanh nghiệp và Chính phủ Nhật có thấy trước việc đó và đang chuẩn bị đối phó. Các nước khác cũng vậy.
Việt Long: Các quốc gia có thể đối phó như thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, bài toán cung cầu và giá cả đang đảo lộn nên tất nhiên chi phối các quyết định kinh doanh - là vi mô - và kinh tế, là vĩ mô.
- Thí dụ là phải tìm ra nguồn cung cấp điền thế, để thay dần kim loại Trung Quốc. Bài toán kinh doanh và kinh tế dẫn tới giải pháp hợp tác về ngoại thương và ngoại giao với các nước có kim loại hiếm này. Đó là sự hợp tác của Nhật với Ấn Độ, Cộng hoà Mông Cổ và Việt Nam để khảo sát và khai thác.
- Còn các nhà sản xuất lớn trước đây như Hoa Kỳ hay Úc cũng phải cân nhắc lại yếu tố lời lỗ và môi sinh để phục hoạt các mỏ đã có, như Mountain Pass tại California hay Mount Weld tại Úc. Thứ ba, nhờ giá tăng vì nguồn cung cấp thu hẹp thì người ta phải khảo sát địa chất để tìm ra dự trữ mới ở những nơi trước đây không ai cần ngó tới. Những tiến trình ấy sẽ mất nhiều năm mới thành dự án đầu tư rồi đi vào sản xuất.
- Tuy nhiên, ngay trước mắt thì mỗi kim loại lại có đặc tính riêng về kỹ thuật và giá cả. Có loại tối cần thiết cho năng lượng, không gian hay quốc phòng thì mua nơi nào với giá nào cũng phải trả. Có loại thật nhỏ và thật ra cực rẻ, chưa đầy 1% của giá thành thì nếu có phải mua đắt hơn, vấn đề vẫn chưa là nguy kịch. Có loại mà người ta có thể thay thế được thì phải tìm cách thay thế. Có loại thì có thể tái tạo từ phế vật cũ. Cũng có loại siêu hạng mà dù có đất thì Trung Quốc cũng chẳng thể sản xuất ra nên sẽ phải đổi chác với giá đắt hơn... Nói chung, có gần một chục sản phẩm có ý nghĩa sinh tử nhất mà mỗi loại lại xử trí một cách và sớm nhất thì phải vài năm mới hoàn thành.
Việt Long: Tức là từ hai đến năm năm tới, các quốc gia và doanh nghiệp sẽ phải tính toán lại. Việt Nam nên làm gì trong hoàn cảnh đó"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, Việt Nam nên rút tỉa bài học Trung Quốc để rà soát lại từ chiến lược kinh tế đến các dự án hợp tác mà Bắc Kinh nắm dao đằng chuôi còn dân ta là nạn nhân. Các dự án bauxite là thí dụ đầu tiên. Thứ hai, ViệtNam có trữ lượng đáng kể, có thể là 17 triệu tấn đất hiếm, nhưng là loại xin gọi là "xốp", là nhẹ vì có mật độ kim loại ít nên cũng đừng vội lạc quan.
- Then chốt nhất khi đi vào khai thác thì Việt Nam cần cân nhắc lợi ích đếm được bằng tiền với những phí tổn chìm về môi sinh hay sức khoẻ. Khi các nước công nghiệp hoá như Pháp, Đức, Nhật, đang cần các sản phẩm này thì Việt Nam nên hợp tác với họ hơn là với Trung Quốc. Nhưng trong hợp tác thì cần định giá cho đúng so với các ẩn phí và nên hợp tác để học lấy công nghệ hiện đại, có hiệu năng cao và xử lý bùn đất một cách an toàn nhất về môi sinh. Khi ấy, Việt Nam mới thấy thế nào là văn minh tiên tiến so với sự mờ ám vẩn đục của dự án bauxite.
Việt Long: Xin cảm ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.