Hôm nay,  

Người Mỹ Thực Tế

08/01/200800:00:00(Xem: 11658)

Hiến pháp Mỹ được thông qua năm 1787, trong đó không hề có một chữ "Thượng Đế" (God). Thời kỳ đó cách nay đã hơn hai thế kỷ, người dân Mỹ khi đó tuyệt đại bộ phận là dân Anglo-Saxon di cư từ vương quốc Anh sang tìm tự do tôn giáo hoặc mưu cầu một sự đổi đời, làm giàu. Với dân số gần 4 triệu khi Liên Bang Hoa Kỳ được thành lập, nguời Mỹ khi đó có nhiều tôn giáo khác nhau nhưng tất cả đều là Thiên Chúa giáo,  chỉ khác nhau hệ phái. Thế nhưng khi viết hiến pháp, họ đã có tầm nhìn xa đến cả mấy thế  kỷ. Họ không áp đặt tôn giáo, không kỳ thị tôn giáo.

Thực tế khác biệt về hệ phái tôn giáo  trong số những người đầu tiên lập nghiệp ở xứ sở mới va kinh nghiệm chiến tranh tôn giáo  ở lục địa cũ (old continent) đã cho họ những bài học quý giá. Họ vẫn là những tín đồ sùng tín ngày nào, nhưng họ thực tế hơn, nhìn xa, trông rộng hơn. Bản hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 chính là viên gạch quan trọng xây dựng nên một nước Mỹ đa nguyên, đa văn hóa. Và đó không chỉ là sáo ngữ mà thực sự chính là nguyên tố căn bản tạo nên một đất nước bao  dung, phong phú mà ta biết như ngày hôm nay. Nước Mỹ chắc chắn không phải hoàn hảo,  nhưng nếu so sánh nước Mỹ và các nước đương thời khác ta không thể không thán  phục óc tiến bộ của họ.

Vào thời kỳ nước Mỹ lập quốc, những nước Á Đông chung quanh Việt Nam và cả chính nước Việt Nam ta khi đó, có mấy nước phân biệt được rạch ròi tôn giáo và quyền lực" Nếu một nhóm dân có một niềm tin khác với vương triều đương thời và  được để yên cho hành đạo, sinh hoạt thì đã là điều may mắn. Có triều đại phong kiến Á  Đông nào không muốn áp đặt tư tưởng, niềm tin của mình lên tất cả thần dân" Hiến pháp Hoa Kỳ phản ánh óc thực tế, tiến bộ của những người viết ra nó vậy.

Nội chiến Mỹ kéo dài bốn năm, để lại bao nhiêu tổn thất nặng nề, với số người chết hơn 600 ngàn, trở thành cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử Mỹ. Vị tổng thống Mỹ thời đó, ông Lincoln không phải chỉ là một lãnh tụ kiệt xuất mà ông còn là người thực tế và khôn ngoan. Ông Lincoln không đánh miền Nam vì miền Nam có chế độ nô lệ, mặc ông dù  chính ông tin vào lẽ công bằng, tin vào tương lai nước Mỹ sẽ không thể duy trì chế độ  nô lệ lâu dài. Ông hiểu rằng không thể thay đổi tư tưởng, quan niệm một bộ phận người dân một sớm một chiều, và cũng không thể chủ quan, vội vã ép buộc người khác theo chân lý của mình. Điều đó không phù hợp đối với một vị tổng thống như ông vì ông là tổng thống của tất cả chứ không phải chỉ những người cùng niềm tin với ông, và điều đó cũng không thực tế vì con người vốn chỉ thích nghi với hoàn cảnh và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc sống thực tiễn quanh mình chứ hiếm khi vì lý lẽ của người đối lập với mình.

Sử sách Mỹ kể về những biến cố dẫn đến cuộc nội chiến thảm khốc có không ít những lời chỉ trích, phê phán những người đã gây ra cuộc đẫm máu ở Kansas năm 1856 (bleeding Kansas). John Brown, nhân vật chính trong biến cố là người chống chế độ nô lệ nhờ niềm tin vào Thượng Đế, vào lẽ công bằng, có thể khẳng định ông là người dũng cảm, là người đi trước thời đại. Nhưng lịch sử vẫn đánh giá khắt khe ông vì ông thiếu thực tế, ông quá khích, vì ông cho rằng niềm tin vào chân lý của ông biện hộ cho việc ông làm. Ông và bốn người con của mình đến Kansas đánh giết một nhóm người ủng hộ nô lệ và cũng là di  dân như ông đến đây để mong biến Kansas thành một tiểu bang có chế độ nô lệ. Bạo lực bùng nổ giữa hai phe và góp phần trực tiếp dẫn đến cuộc nội chiến 5 năm sau. Một cuộc nội chiến có thể tránh được nếu những thành phần ôn hoà làm chủ được tình thế lúc đó. Tổng thống Lincoln chỉ quyết định tiến đánh miền Nam khi họ tuyên bố tách khỏi Liên Bang ngay sau khi ông đắc cử tổng thống năm 1860.

Không lỗi lạc như Lincoln, nhưng tổng thống Nixon vẫn được không ít sử gia đánh giá cao về đường lối ngoại giao thực tế trong thời gian đương nhiệm. Nhắc đến Nixon, người ta liên tưởng ngay đến chiến tranh Việt Nam và Watergate. Cánh tả phê phán ông dối trá dân Mỹ, xem ông là một tay xảo quyệt, kéo dài một cuộc chiến không thể thắng, khoét sâu hố chia rẽ trong xã hội Mỹ. Cánh hữu trách cứ ông đã trói buộc quân đội Mỹ chiến thắng Cộng Sản khi giới hạn chiến tuyến trong miền Nam Việt Nam và đã nhân nhượng với Cộng Sản.

Thời gian trôi qua, người ta có thời gian để đánh giá ông khách quan hơn. Biến cố Đông Âu và Liên Bang Xô Viết sụp đổ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu truy tìm nguyên do sự kiện lịch sử này. Và đã xuất hiện nhiều nhận xét về ông mang tính tích cực hơn. Người ta đánh giá cao chuyến đi Bắc Kinh 1972 trong chiến lược hoà hoãn  đồng thời chia rẽ khối Cộng Sản của ông với tham mưu của cố vấn Kissinger. Trong các tổng thống Mỹ cận đại là đảng Cộng Hoà, ông Nixon thuộc trường phái thực tế. Ông cũng "bất cộng đái thiên" với Cộng Sản như tổng thống Reagan, hay mạnh mẽ như tổng thống  George W. Bush chống khủng bố Hồi giáo, nhưng ông không chịu ảnh hưởng của tư tưởng  trường phái tân bảo thủ (neo-conservative), mà ông là người thực tế, hay nói trại đi ông là  một chính trị gia thực dụng.

Chính sách ngoại giao của ông xuất phát từ lập trường chống  chủ nghĩa bành trướng Cộng Sản, và vì thế mà ông chọn sách lược bao vây, chia rẽ khối  Cộng Sản, mà đứng đầu là Liên Bang Xô Viết, để nó suy yếu dần và cộng hưởng với nhiều điều kiện khác cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Nhưng để tránh thế giới rơi vào nguy cơ thế chiến  thứ 3 với những thứ vũ khí ghê gớm gâp bội lần 2 quả bom nguyên tử rơi xuống đất nước  Phù Tang năm 1945, ông dùng chính sách ngoại giao hoà hoãn với khối Cộng Sản. Cứng  mềm, cương nhu cùng song hành không phải chỉ là sách lược chiến tranh trong Tôn Tử  Binh Pháp, mà có thể nói nó còn là quy luật sống của nhân loại từ thời tạo thiên lập địa.

Ta  có thể chọn thái độ ca ngợi hay chê trách người Mỹ, nhưng ta khó có thể phủ nhận là  người Mỹ có óc thực tế. Hành động của họ không quá khó hiểu nếu ta không quên truy tìm  mọi động cơ xuất phát từ lợi ích của họ. Điều đó có thể phũ phàng với nhiều người nhưng  nó thật rất tự nhiên và sòng phẳng. Và nếu ta thành tâm suy niệm lại tất cả những gì ta làm,  đã có bao nhiêu hành động của ta không thực sự xuất phát từ quyền lợi" Quyền lợi ở đây  không chỉ là tiền tài, danh vọng, mà còn là cái tôi, lòng kiêu hãnh...

Đã có không biết bao  nhiêu ví dụ về những việc làm của một cá nhân, một tổ chức, hay lớn hơn nữa là một quốc  gia mà nếu chỉ nhìn bề mặt thì nó có vẻ bắt nguồn từ một mục tiêu cao cả, nhưng khi nhìn sâu hơn và khi ta có thời gian để đánh giá toàn diện hơn thì ta phát hiện động cơ sâu xa  chính là quyền lợi cá nhân, phe nhóm hay của riêng dân tộc này đối với dân tộc kia.

Trong cuộc sống hằng ngày, ta có thể nhận ra cá tính thực tế của người Mỹ trong nhiều phương diện. Một thí dụ nhỏ nhưng gần với đời thường là khi một gia đình người Mỹ vào  một nhà hàng gọi món ăn. Hoặc là mỗi người tự trả riêng hoặc nếu có ai đó muốn trả tiền  cho tất cả mọi người thì người ấy sẽ nói trước. Dù là anh em, cha mẹ và con cái đi ăn chung cũng thế, họ luôn sòng phẳng nhưng rất thực tế.

Người Việt ta có thói quen hiểu ngầm, biết nhưng không nói ra. Duy có điều, ngày càng nhiều người nhận ra điều này không còn là thượng sách, thiếu thực tế vì thật ra mọi người đâu có phải luôn đồng lòng, nghĩ giống  nhau đâu. Ngoài mặt ta có thể vì tình cha con, anh em, huynh đệ mà không nghĩ ngợi những thứ cho là nhỏ nhặt, nhưng có phải ta luôn thực sự nghĩ thế đâu. Tình cảm thực sự không đơn giản chỉ được đánh giá qua những cử chỉ "hào hiệp" tức thời. Chẳng phải ngay cả  người Việt cũng có những vụ án anh giết em, con giết cha, chồng giết vợ chỉ vì tiền đó  sao" Sao lại có thể cho rằng chỉ có người Mỹ thiếu tình cảm gia đình mới sinh ra những  chuyện tồi tệ"

Chấp nhận thực tế là một bước quan trọng trong quá trình hiểu mình, hiểu  người, để rồi sau đó ta đón nhận nó và cuối cùng là trân trọng nó. Thực tế chính là công  nhận sự thật, điều mà người không có hoặc thiếu thực tế không dám nhìn nhận nó hoặc  không muốn tìm hiểu nó.

Cách mạng có khi là giả hiệu, nhưng ngay cả khi cách mạng mang lại thay đổi chính đáng, ích nước lợi dân thì nó vẫn không bằng không có cách mạng, vì cách mạng luôn kéo theo sự thay đổi lớn lao trong cuộc sống đối với mọi tầng lớp dân chúng.

Trong lịch sử có thể nói chưa có nước nào không có cách mạng mà vẫn phát triển vì lịch sử nhân loại không bằng phẳng, không đơn giản mà đầy dẫy những đấu tranh của những tầng lớp bị trị, nghèo đói giành quyền sống, quyền tự do, độc lập. Nhưng một điều chắc chắn là nước Anh, mà cụ thể hơn là người Anglo Saxon, dân tộc đầu tiên tiên lập nghiệp, xây dựng  và góp phần lớn nhất trong việc tạo nên một nền văn hóa đa nguyên ở Mỹ, có ít cách mạng nhất và cách mạng ít đẫm máu nhất.

 Hiệp ước Magna Carta 1215 và Cách Mạng Huy Hoàng (Glorious Revolution) 1688 theo thứ tự đem lại nhiều quyền hơn cho quý tộc và nghị viện Anh, giảm bớt quyền lực của hoàng gia, và tránh được tối đa sự đổ máu. Đó chính là những cột mốc đánh dấu sự dịch chuyển quyền thế từ cao xuống thấp trong xã hội Anh nói riêng và cả nhân loại nói chung. Người Anglo-Saxon thực tế nên họ biết ngồi lại thương thảo với nhau, không ngoan cố, "thắng không kiêu," người ngồi trên biết lùi khi đến lúc, kẻ dưới biết tiến vừa phải, không quá khích.

Cách mạng Pháp 1789 kéo theo nó biết bao hỗn loạn, giêt chóc một phần vì người Pháp thiếu óc thực tế như người Anh, mà cách mạng thì dễ quá đà vì những người vừa lên nắm quyền thì tự phụ, còn đám dân đen thì thiếu thực tế, tưởng cách mạng là đổi đời, là từ nghèo ra giàu. Gần đây hơn, ta còn thấy điều đó ở Nga năm 1917, Trung Hoa những năm 1911, 1965, và cả ở Việt Nam...

Lịch sử có vô vàn sự kiện diễn tiến liên tiếp nhau. Nhưng nếu ta nhìn vào những thuộc địa của Anh 2, 3 thế kỷ trước và bây giờ là những đất nước giàu có như Mỹ, Canada, Úc và so sánh những nước này với các thuộc địa của Pháp, Tây Ban Nha thì ta thấy gì" Người Pháp và Tây Ban Nha chú tâm truyền bá văn hóa, tôn giáo của họ đến các thuộc địa hơn là phát triển thương nghiệp, kiến thiết thuộc địa. Ngoài những lý do khác thì đó là những  nguyên nhân quan trọng góp phần trì hoãn sự phát triển các thuộc địa của Pháp và Tây Ban  Nha so với các thuộc địa của Anh.

Đến ngày hôm nay, người dân những nước một thời là  thuộc địa tâm tư thế nào đối với những người da trắng đô hộ họ ngày xưa, ta có thể thấy là lòng thương ghét đối với người Pháp và Tây Ban Nha cũng gần giống với người Anh.  Tốn bao nhiêu xương máu, tâm trí để "giáo hóa" dân bản xứ để rồi không gặt hái được hơn tình cảm dân thuộc địa mà còn đẩy các xứ thuộc địa lâm vào tình trạng trì trệ so với  các thuộc địa của Anh thì có thể xem là thành công được chăng" Người Anh thực tế, họ  chỉ chú trọng thương mãi và hiểu rằng truyền bá tôn giáo, văn hóa có thể tạo được cảm  tình của một bộ phận dân chúng nhưng cũng tạo sự chia rẽ, thù ghét của những bộ phận  dân chúng khác. Văn hoá, tôn giáo mỗi nơi khác nhau, nhưng khát vọng cuộc sống hằng  ngày được ấm no, sung túc thì đâu cũng thế. Như vậy, phát triển thương mại không phải là  dung hòa và thực tế nhất đó sao" Trong những di sản người Mỹ thừa kế được từ người Anh thì tính thực tế phải được liệt vào hàng đầu.

Ta có thể tin vào đấng toàn năng, nhưng ta không thể phủ nhận thực tế cuộc sống muôn mặt. Ta có thể rơi vào tâm trạng hoang mang, cô đơn khi nhận ra thực tế không như những quan niệm, lập trường ta ấp ủ, nhưng thực tế khách quan không chờ đợi ta công nhận nó hay không. Lịch sử loài người mặc dù luôn được đánh dấu bởi những sáng tạo, phát minh vĩ đại của con người, nhưng từ ngày khai thiên lập địa bốn tỉ năm trái đất hiện hữu vẫn chủ yếu là quá trình thích nghi của loài người với thiên nhiên. Loài người tồn tại và phát triển là vì biết thích nghi với hoàn cảnh, không như biết bao loài thú khác vì không thích nghi mà phải diệt vong. Chẳng  phải Darwin đã đưa ra thuyết "sự tồn tại của những loài biết thích nghi nhất" là cùng một ý đó sao"

Tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn vì tôn giáo nói đến cái bao la, vô hạn và vô hình còn khoa học thì nói đến cái hiện hữu, cái giới hạn. Cuộc sống vốn đa diện, phong phú, trong  đó có những cái vừa mâu thuẫn vừa tương hỗ nhau cùng tồn tại nhưng nó hé mở cho ta  một cái nhìn, ở đó ta giữ được những niềm tin kín đáo, sâu thẳm nhất mà vẫn đồng  hành tiến bộ trong hoà bình cùng nhân loại. Thực tế tức là linh động, không câu chấp, gượng ép thế giới khách quan vào trong cái túi hiểu biết bé nhỏ và định kiến chủ quan của ta, mà uyển chuyển thích ứng với cuộc sống muôn mặt. Nếu ai đó bảo rằng văn minh  Á Đông với bao túi khôn của tiền nhân, trong đó có Kinh Dịch bàn về sự biến thiên  vô cùng trong vũ trụ và kết luận rằng không phải chỉ có người Mỹ mới hiểu sâu sắc về thực  tế thì cũng không sai vậy. Nhưng ta đã ứng dụng nó chưa, hay ứng dụng một cách hiệu  quả chưa"

Bài viết gom nhặt những suy nghĩ tản mạn của người viết để chia sẻ cùng bạn đọc, mà không có ý biến nó thành một bài nghiên cứu nên đã không trích dẫn những tài liệu tham  khảo vốn có thể làm cho bài viết trở nên khô khan.

Tháng 1, 2008 West Palm Beach

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.