Hôm nay,  

Trên Con Đường Trở Về

23/01/200900:00:00(Xem: 7073)
TRÊN CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ
Linh Mục Anphong Trần Đức Phương
(CHÚA NHẬT III, THƯỜNG NIÊN, B)
(Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng)
Mùa Thường Niên là mùa để chúng ta sống lại những biến cố cuộc đời của Chúa Giêsu trên bước đường rao giảng Tin Mừng Nước Trời.
Muốn đi vào Nước Trời, việc đầu tiên phải làm là sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi, thực lòng ăn năn trở lại và tin vào Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng. Đó là tư tưởng chính trong Chúa Nhật hôm nay và cũng là tư tưởng chính trong Bài Tin Mừng (Matcô 1, 14-20). Tinh thần sám hối tội lỗi cũng được nói đến trong bài Đọc I (Giôna 3, 1-5, 10): Dân thành Ninivê thời đó đã sống trong trụy lạc, nhưng nghe lời tiên Tri Giôna kêu gọi, cả dân thành đều ăn năn sám hối, quyết tâm từ bỏ tội lỗi, ăn năn đền tội, và Chúa đã tha thứ mọi tội lỗi của họ. Trong Bài Đọc II (1 Corintô 7, 29-31), Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta hãy nhớ cuộc đời của mỗi người rồi sẽ qua đi, qua đi nhanh chóng, nên hãy vui sống cuộc đời của mình, nhưng đừng quá bám víu vào bất cứ điều gì thuộc thế gian.
Vào Mùa Chay , chúng ta hãy hát bài "Trên Con Đường Trở Về" (Mi Trầm) để khơi dậy trong chúng ta lòng thống hối ăn năn, từ bỏ tội lỗi, trở về với Chúa. Nhưng không phải chỉ Mùa Chay chúng ta mới thống hối, mà đó là việc phải làm từng giây phút suốt cuộc đời.
Chính trên con đường trở về, quyết tâm trở về, mà bao 'tội nhân' đã trở nên 'Thánh Nhân', như Madalêna, Augustinô, Phanxicô khó khăn, Charles de Foucauld…và nhiều, rất nhiều nữa mà chúng ta không biết hết được. Đó là những đứa con phung phá trở về với người Cha nhân hậu của mình (Luca 15, 11-24).

Như những đứa con phung phá, chúng ta quyết tâm trở về, ăn năn sám hối, làm việc đền tội và tin vào Tin Mừng tình thương của Chúa, rồi cuộc đời chúng ta sẽ  đổi  mới , sẽ tươi sáng hơn, dù vẫn phải sống giữa trăm chiều thử thách.
Thay vì ngồi đó để than thân trách phận, bi quan yếm thế, phê bình chỉ trích, oán hận người khác, chúng ta hãy trở về trước hết với con người của chính mình, hãy đấm ngực chính mình và xoay chuyển cuộc đời theo hướng dẫn của Tin Mừng, chúng ta sẽ gặp thấy Chúa như người Cha thật dễ thương, đầy lòng nhân hậu, chứ không phải chỉ là một quan án nghiêm khắc. Có những lúc chúng ta gặp đau khổ, bệnh họan, thử thách; đó là lẽ thường tình của cuộc đời mỗi người và cũng là dịp để thanh luyện tâm hồn chúng ta, chứ không phải 'vì Chúa bắt tội chúng ta!'
Rồi chúng ta cũng sẽ có cái nhìn đổi mới với mọi người. Chúng ta sẽ thấy người chồng của chúng ta thật dễ mến, người vợ của chúng ta cũng đáng yêu như thuở ban đầu, và những đứa con là cả một hồng ân Chúa ban. Những người mà trước đây chúng ta 'ghét cay, ghét đắng' vẫn là những con người có những nét dễ thương và vẫn có thể trở nên người bạn thân của chúng ta.
Hơn nữa, nhờ ơn Chúa, sau khi đã biến đổi con người của mình, chúng ta sẽ có thể nên 'Muối và Ánh Sáng' (Matthêu 5, 13-16). Chúng ta sẽ có sức biến đổi mọi người chung quanh chúng ta. Chúng ta sẽ vui tươi hơn với cuộc đời, với mọi người và hăng hái tiếp tục công trình rao giảng Tin Mừng hạnh phúc của Chúa cho mọi người.
Mùa đông tuyết sa, bão tố rồi cũng sẽ qua đi. Mùa Xuân vĩnh cửu sẽ đến vào cuối cuộc đời của chúng ta, và Nước Trời sẽ mở rộng đón tiếp chúng ta.

Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.