Hôm nay,  

Vấn Đề Trung Quốc Của Nga

18/05/200900:00:00(Xem: 10503)

VẤN ĐỀ TRUNG QUỐC CỦA NGA

Nguyễn Xuân Nghĩa
Chuyển Động Ngầm Tại Đông Á...
Mặc dù đang ráo riết tăng cường khả năng hải quân tại biển Đông, Trung Quốc biết rõ và không muốn đụng độ với siêu cường Á châu là Hoa Kỳ.
Cho đến nay, mục tiêu của Bắc Kinh chỉ là bành trướng và bảo vệ một vùng trái độn ngoài biển, tối đa thì chỉ nhằm thu hẹp ảnh hưởng của Hoa Kỳ nhưng chưa hẳn để thách thức hải quân Mỹ. Chỉ vì Trung Quốc chưa thể có khả năng đó trong một tương lai còn rất xa, không biết bao giờ mới có. Lý do là cường quốc đại lục này chưa thể trở thành một cường quốc hải dương. Họ chưa có truyền thống ấy, và kế hoạch phát triển hải quân mới chỉ khởi sự từ 15 năm nay thôi.
Việc Hoa Kỳ tập trung đối phó với cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo và bận chân tại hai chiến trường nóng là Iraq và A Phú Hãn có tạo ra một cơ hội - khoảng trống nhất thời - được Bắc Kinh tích cực khai thác. Nhưng việc khai thác ấy lại khiến các nước Á châu khác lo ngại.
Các quốc gia đó là Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi và thậm chí Liên bang Nga.
Tiếp tục tìm hiểu về vấn đề Trung Quốc của thế giới, kỳ này, ta sẽ theo dõi một quan hệ bất ngờ và thực tế là hậu quả của sự bành trướng Trung Quốc, đó là bang giao giữa Nhật và Nga. (Xin theo dõi từ bài "Trung Quốc và Việt Nam" và "Vấn đề Trung Quốc của Thế giới" trên cột báo này trong các số ra ngày mùng chín và 16 tháng Năm).
Sau khi đã tìm hiểu về Ấn Độ và Nhật Bản, nay hãy nói về Liên bang Nga.
***
Liên bang Nga có lãnh thổ rộng nhất thế giới trải ngang hai lục địa Âu Á trên một diện tích hơn 17 triệu cây số vuông - rộng hơn Canada (gần 10 triệu) và Trung Quốc (hơn chín triệu sáu) hay Hoa Kỳ (quãng chín triệu sáu). Nhưng Liên bang Nga chỉ có 142 triệu dân, chưa bằng một phần mười của Trung Quốc. Nước Nga cũng là một xứ hiếm hoi mà dân số giảm. Các nhà nhân khẩu học dự đoán là đến năm 2050 thì Liên bang Nga chỉ còn từ 90 triệu đến quãng 120 triệu dân, tức là có thể chỉ bằng dân số Việt Nam trong vài năm tới!
Chỉ riêng hai con số về diện tích và dân số cũng nói lên nhiều vấn đề sinh tử của Nga.
Bên cạnh một quốc gia có một phần tư dân số của thế giới, vừa đói ăn vừa khát dầu, lại không che giấu tham vọng bá quyền và sẵn sàng nhổ cọc biên giới của lân bang để lẻn vào kiếm ăn, thì áp lực dân số người Hán trên khu vực hoang vu vắng vẻ của Nga tại châu Á sẽ là mối họa.
***
Hai chục năm sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, lãnh đạo Nga thời nay, từ Thủ tướng Vladimir Putin tới Tổng thống Dmitri Medvedev, tất nhiên phải cố khôi phục lại vị thế đại cường như dưới thời Xô viết và bên trong phải củng cố lại khả năng cai trị của chính quyền trung ương tại Moscow.
Cho đến nay, người ta mới chỉ để ý tới cuộc tổng phản công của Nga tại Georgia và Ukraine để tìm lại vị trí đã mất ở Trung Âu, hầu xây dựng lại một vùng trái độn trong quỹ đạo truyền thống của Nga. Thế giới ít chú ý tới mặt Á châu của Nga. Sở dĩ như vậy vì chính lãnh đạo Nga, từ Boris Yeltsin tới Vladimir Putin, phải dồn sức chấn chỉnh nội bộ và khôi phục ảnh hưởng đã mất tại Âu Châu.
Nhược điểm về địa dư hình thể của Nga là sự trống trải của các thảo nguyên tiếp cận với Âu Châu. Đây là nơi mà Nga đụng trận nhiều lần trong hai thế kỷ vừa qua, từ thời chiến tranh của Napoleon tới hai Thế chiến rồi gần nửa thế kỷ Chiến tranh lạnh. Đâm ra, một cường quốc Âu-Á lại chỉ tập trung ứng phó với một mặt Âu của bài toán mà thôi.
Nước Nga cũng giáp giới với Trung Quốc qua khu vực bát ngát của Tây Bá Lợi Á (Siberia). Trong nhiều năm, lãnh đạo Nga lầm tưởng rằng hai nước giáp ranh, theo cùng một chế độ chính trị, lại bị kẹp giữa hai khối của Minh ước NATO là Âu Châu và Hoa Kỳ, tất nhiên khó khai chiến với nhau. Vì vậy, Moscow thời Yeltsin đã sẵn sàng hợp tác với Bắc Kinh thời Giang Trạch Dân để tăng cường quan hệ với nhau và với năm xứ Hồi giáo Trung Á trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organization - SCO).
Điều Moscow không ngờ và Putin bắt đầu hiểu ra là Bắc Kinh thời Hồ Cẩm Đào đã khác với thời Giang Trạch Dân hay Đặng Tiểu Bình: Trung Quốc đã đổi khác nên cần bành trướng ra ngoài để bảo đảm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu và thị trường xuất cảng.
Quân đội Trung Quốc ngày nay có cấp số còn lớn hơn tổng số quân của NATO trên cao điểm của thời Chiến tranh lạnh và khi Nga mải quay về hướng Tây để đối đầu với NATO thì Bắc Kinh đã kín đáo đẩy cửa sau vào tới Trung Á bằng đường hỏa xa và ống dẫn dầu, trong khi vẫn chi phối được Bắc Hàn nhiều hơn là Moscow trù tính. Cũng thế, Bắc Kinh đã lẳng lặng thi hành chánh sách di dân để đưa thêm Hán tộc vào Tây Bá Lợi Á của Nga. Sau khi tung tiền mua võ khí của Nga để hiện đại hoá quân đội, Trung Quốc ngày nay đã có những cuộc thao diễn quân sự quy mô tại vùng cực Bắc lãnh thổ mà Bắc Kinh mệnh danh là "Bắc kiếm", bảo hiếm phương Bắc!
Tức là trong khi Liên bang Nga cố đứng dậy trên đôi chân yếu của mình để chinh phục lại những gì đã mất tại hướng Tây với Âu Châu, thì mặc nhiên để hở lưng tại mạn Đông, với Trung Quốc. Khi Moscow lên giọng với Âu Châu thì Bắc Kinh nói chuyện hoà dịu và hợp tác với mọi nước trên thế giới, mà vẫn chuẩn bị một khả năng quân sự chưa từng lớn lao như vậy. Có thể là Moscow đã bị Bắc Kinh vận dụng làm tụ điểm gây chú ý và hiềm khích với Hoa Kỳ và NATO để tính chuyện riêng của mình.


***
Biến cố đánh dấu sự giác ngộ của Moscow là việc Mật vụ Nga (FSB, hậu thân của KGB) đã tống giam Tổng giám đốc Igor Reshetin của doanh nghiệp TsNIIMASH-Export về tội bán kỹ thuật không gian tối mật cho Bắc Kinh và việc Putin cách chức Tổng trấn Konstantin Pulikovsky của khu vực Viễn Đông. Chuyện ấy xảy ra từ gần bốn năm trước, vào trung tuần tháng 11 năm 2005, cũng là khi Putin bổ nhiệm Dmitri Medvedev làm Phó Thủ tướng, chuẩn bị cho việc kế nghiệp sau hai nhiệm kỳ làm Tổng thống.
Ngày 30 tháng Tư vừa qua, đến lượt Tổng thống Medvedev bổ nhiệm một đặc sứ của ông tại Viễn Đông. Trước đây là Tổng trấn Khabarovsk, tân Sứ thần Đặc mệnh Toản quyền Viktor Ishayev là chuyên gia kinh tế và ngoại giao đặc trách Viễn Đông từ thời Putin và là người am hiểu tường tận về quan hệ với Nhật. Quyết định của Medvedev được đưa ra mươi ngày trước khi Thủ tướng Putin - người thực tế lãnh đạo nước Nga - qua Tokyo họp thượng đỉnh với Thủ tướng Taro Aso của Nhật Bản.
Hai tháng trước đó, Medvedev cũng đã gặp Thủ tướng Nhật tại đảo Sakhalin của Nga và tuyên bố nhân dịp này, rằng hai quốc gia sẽ khai thông mâu thuẫn Nga-Nhật về quần đảo Kuriles, "một cách sáng tạo, mới lạ và rất phi quy ước"!
Hai quốc gia Đông Bắc Á này vốn có tranh chấp về chủ quyền trên bốn hòn đảo Bắc phương của Nhật, bị Liên Xô lấn chiếm ngay sau khi Nhật đầu hàng sau Thế chiến. Hồ sơ này gây chướng ngại mà đôi bên không thể vượt qua trong gần nửa thế kỷ. Cho đến nay, hai nước chưa chính thức ký kết một hiệp định ngưng bắn vì phía Nhật Bản đòi lại chủ quyền trên bốn hòn đảo của mình như một điều kiện tiên quyết. Nga thì đề nghị trả hại hai hòn, còn hai hòn kia thì sẽ thảo luận tiếp, vì vậy mà hồ sơ vẫn còn dang dở.
Lần đầu tiên lãnh đạo Nga Nhật - Tổng thống Putin và Thủ tướng Junichiro Koizumi - cố hâm nóng hồ sơ ấy là nhân Thượng đỉnh nhóm G-8 tại Genoa của Ý vào tháng Bảy năm 2001, mà không có kết quả. Thế rồi từ vài năm nay, mối quan tâm của Liên bang Nga về cục diện Viễn Đông đã dẫn tới thay đổi trong lập trường của lãnh đạo Moscow, từ Thủ tướng Putin tới Tổng thống Medvedev. Trong khi đôi bên bắt đầu tỏ vẻ hòa dịu và cùng tìm một giải pháp khai thông, lãnh đạo hai nước đã thông báo nhiều chương trình hợp tác kinh tế cụ thể tại Viễn Đông nhân chuyến thăm viếng Tokyo của Thủ tướng Putin hôm 12 vừa qua với một phái đoàn cả trăm doanh gia Liên bang Nga.
Người ta chú ý là Nhật sẽ bán kỹ thuật năng lượng nguyên tử cho Nga, mua dầu khí của Nga và góp phần đầu tư để mở rộng quan hệ kinh tế giữa hai nước, kể cả quan hệ với Cộng hoà Mông Cổ nằm bên kia khu vực Nội Mông của Trung Quốc. Nhưng đáng chú ý hơn là việc Putin loan báo hai nước sẽ thảo luận việc ký kết một hòa ước (hợp thức hoá chuyện ngưng bắn bị kẹt từ 1945 vì các quần đảo Kurils) nhân cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Medvedev và Thủ tướng Aso bên lề Thượng đỉnh của khối G-8 vào tháng Bảy này tại Ý Đại Lợi.
Việc khai thông bế tắc về quần đảo Kurils tất nhiên là không dễ, nhưng đôi bên đều bày tỏ thiện chí, trong khi Nhật đã thực tế chuyển dịch mục tiêu đầu tư vào lãnh thổ mênh mông của Nga để vừa giải quyết nhu cầu năng lượng cho mình vừa tăng cường quan hệ với một cường quốc nay cũng nhìn vào Đông Bắc Á với cùng một mối quan tâm: sức bành trướng của Trung Quốc.
***
Bây giờ, ta nhìn lại toàn cảnh...
Thế giới cứ vội nói đến ngày tàn của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu, vì khủng hoảng kinh tế và cuộc chiến dai dẳng bất tận chống khủng bố Hồi giáo. Nhưng có khi người ta cần lùi lại một chút để thấy ra cục diện toàn cầu.
Ngày nay quân lực Mỹ đã có mặt tại cả Iraq và A Phú Hãn - với Iran bị kẹp ở giữa - và sẽ còn có mặt ở đó khá lâu. Hoa Kỳ cũng đã cố mở rộng quan hệ với các quốc gia Hồi giáo Trung Á trong quỹ đạo của Liên bang Nga, gồm có theo chiều kim đồng hồ, Turkmenistan, Uzbekistan, Kazahkstan, Kyrgyzstan và Tajikistan. Bên kia ba nước "stan" sau cùng ấy là biên giới Trung Quốc và khu vực Tân Cương của dân Hồi giáo. Duy Ngô Nhĩ là tên gọi của Trung Quốc về sắc dân Uighurs đang muốn ly khai để được tự trị tại đấy. Kế tiếp là Pakistan và Ấn Độ, tiếp giáp với Tây Tạng đang bị Trung Quốc chiếm đóng.
Khu vực Trung Á này có nhiều tài nguyên khoáng sản mà Trung Quốc rất thèm và Hoa Kỳ có kỹ thuật và tư bản để khai thác, nhưng cũng là khu vực mà Nga có khả năng kiểm soát chặt chẽ về quân sự. Đây không là nơi Trung Quốc dễ dàng khai thác hay khống chế. Ngược lại, ung nhọt ly khai cũng có thể xuất phát từ đây mà phá tác vào ruột gan Trung Quốc
Thành thử, từ Đông Bắc Á về tới Trung Á, Bắc Kinh không có khả năng tự tung tự tác như nhiều người nghĩ. Khi ấy, ta nên nhớ lại đặc tính hãi sợ của nền văn hoá Trung Quốc và các vùng trái độn họ muốn thành lập để phòng thủ, từ Mãn Châu về Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng và Cao nguyên Thanh Tạng.
Cho nên, việc Nhật Bản và Liên bang Nga đang hâm nóng quan hệ cần được nhìn lại trong ý nghĩa có thể làm các lãnh tụ Bắc Kinh mất ngủ. Trong những kỳ sau, mình có thể tìm hiểu thêm về đồng minh chiến lược Âu châu nhất của Hoa Kỳ tại Á châu là Úc Đại Lợi. Và về con rồng giấy Trung Quốc đang làm Hà Nội hãi sợ và cúi đầu...

Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.