Hôm nay,  

Kinh Tế Lủng Củng

20/07/201000:00:00(Xem: 16447)

Kinh Tế Lủng Củng
Vũ Linh

Khi chính khách nói chuyện thì ta cần nghe rõ từng câu...

Đầu tháng Sáu vừa qua, TT Obama lên truyền hình rầm rộ quảng bá kinh tế đang trên đường phục hồi với thống kê cho thấy trong tháng Năm đã có hơn 430.000 người kiếm được việc làm. Nhưng đến cuối tháng thì thống kê cho thấy trong tháng Sáu sau đó, có 125.000 người mất việc. TT Obama không nói gì nữa, để bà Bộ trưởng Lao Động Hilda Solis viết bài cho AOL News, giải thích chuyện mất việc như là kết quả của một sự kiện bất bình thường vì 225.000 người trước đây được thuê làm nhân viên đi thu thập dữ kiện kiểm kê dân số (census) đã nghỉ việc vì xong công tác. Theo bà Solis, thì trong tháng Sáu đã có trên dưới 100.000 (225.000 trừ 125.000) công việc làm mới được tạo ra. Bà cũng cho rằng kinh tế trong nửa năm đầu của 2010, đã tạo ra 600.000 việc làm mới, đại khái 100.000 mỗi tháng.
Khi các chính khách nói chuyện thì ta cần phải nghe cho rõ từng câu.
TT Obama kể công đã tạo ra hơn bốn trăm ngàn việc làm, nhưng tuyệt đối không nói gì về chuyện trong con số đó đã có 390.000 người được thuê tạm thời để kiểm tra dân số. Nhưng khi bà Solis phân trần chuyện thất nghiệp gia tăng, thì bà nhấn mạnh đó là hậu quả của việc hoàn tất kiểm kê dân số. Nói cách khác, yếu tố kiểm kê dân số, là yếu tố then chốt trong thống kê về việc làm trong mấy tháng qua, chỉ được nhắc đến khi cần, nhưng lờ đi khi không cần.
Thống kê là những con số vô tri vô giác, hoàn toàn tùy thuộc vào cách diễn giải. Ví dụ như thống kê cho thấy hơn 80% thiên hạ chết trên giường, từ giường bệnh nhà thương đến giường ngủ ở nhà. Như vậy, ta có thể diễn giải cái giường là nơi nguy hiểm, đe dọa tính mạng ta nhất hay không"
Sự thật là các con số về việc làm liên quan đến cuộc khảo sát dân số, 10 năm lại làm một lần, thì không thể được tính vì chỉ là nhất thời, không có ảnh hưởng lâu dài gì đến công ăn việc làm hay chuyện kinh tế phục hồi hay chưa.
Bà Solis cũng không hoàn toàn ngay thẳng khi quảng cáo kinh tế đã tạo ra hơn nửa triệu việc trong sáu tháng đầu năm nay. Con số đó không sai, nhưng không là con số đáng phấn khởi. Như đã trình bày trên cột báo này, kinh tế Mỹ muốn trở về tỷ lệ thất nghiệp của cuối trào Bush, tức là 5%, phải “đẻ ra” ít nhất 400.000 việc làm mỗi tháng trong ba năm liên tục, chứ 600.000 việc trong 6 tháng thì tỷ lệ thất nghiệp 10% hiện nay sẽ tồn tại vĩnh viễn!
Mới đây, sau khi thăm dò dư luận cho thấy 60% dân Mỹ nghĩ rằng luật kích cầu chẳng mang lại lợi ích gì cho họ, Tòa Bạch Ốc vội quảng cáo rằng kế hoạch này đã tạo ra được gần ba triệu việc làm trong năm qua. Kích cầu kinh tế có hiệu ứng thực sự" Không phải vậy. Khoe tạo ra ba triệu việc làm không là nói láo, nhưng không phải là nói hết sự thật. Điều không được nói ra là đó là con số gộp, chưa khấu trừ những việc làm bị mất. Khấu trừ rồi thì chỉ còn 600.000 như bà Solis khoe. Thực tế, tỷ lệ thất nghiệp của năm ngoái là 10%, bây giờ chỉ giảm được xuống 9,5%.
Hơn 860 tỷ đôla kích cầu kinh tế chỉ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 10% xuống 9,5%. Nếu tính nhẩm trên đầu ngón tay là 860 tỷ bằng 0,5%, thì muốn thất nghiệp giảm năm điểm, xuống mức 5% của cuối trào Bush, Nhà Nước cần phải tung ra 8.600 tỷ kích cầu. Đối với TT Obama có thể chỉ là bạc lẻ, nhưng nước Mỹ có gánh nổi con số này không"
Một cách nhìn khác là 860 tỷ tạo được gần ba triệu việc làm, như vậy vị chi Nhà Nước phải bỏ ra khoảng 300.000 đô để tạo ra một việc làm. Có thể nói là tất cả những người mới có việc đều chỉ có lương nhiều lắm là 50 ngàn một năm. Bỏ ra 300.000 để tạo ra một việc làm trả lương dưới 50.000" Có lợi hay không thì trẻ em tiểu học cũng trả lời được. Thay vì khổ sở tạo việc làm với mức lương 50.000, tại sao Nhà Nước không tặng thẳng 50.000 tiền mặt cho mỗi người, và như vậy, với gần 900 tỷ, sẽ giúp được 18 triệu người, thay vì ba triệu" Vừa nhiều người được hưởng lợi hơn, vừa tiện việc sổ sách.
Nhưng, tại sao kinh tế vẫn chưa khá hơn"
TT Obama dĩ nhiên đổ thừa là gia tài TT Bush để lại đã tệ hại hơn dự tính của ông quá nhiều. Và ông đề nghị… tăng thêm ngân sách kích cầu kinh tế. Gói kích cầu nguyên thủy là 780 tỷ, sau đó tăng lên 860 tỷ, bây giờ được đề nghị gia tăng thêm 270 tỷ nữa. Quốc hội đang cứu xét. Ta cũng cần nhớ lại gói kích cầu không phải là số tiền khổng lồ duy nhất mà TT Obama đã bơm vào kinh tế. Cùng lúc với gói đó, TT Obama cũng đã tung ra phụ đính ngân sách hơn 400 tỷ, và kế hoạch cải tổ y tế hơn 1.000 tỷ. Không kể gói 700 tỷ cứu nguy ngân hàng được ban hành cuối năm 2008 dưới thời TT Bush.
Nhìn vào những quyết định của TT Obama và nhóm chuyên gia của ông, thì ta thấy rõ quan điểm của họ về cách điều hành kinh tế cả nước, gọi là kinh tế vĩ mô, kinh tế đại tượng ở cấp quốc gia. Đây là quan điểm của trường phái “tân Keynesian” mà chúng ta cũng nên hiểu cho rõ hơn.
Trước Đệ Nhị Thế Chiến, tư tưởng chủ yếu trong kinh tế vĩ mô là thuyết cân bằng ngân sách (balanced budget). Theo đó, Nhà Nước cần giữ cân bằng chi thu của ngân sách quốc gia, để duy trì giá trị đồng tiền, tránh lạm phát, giá cả gia tăng quá nhanh, gây ra khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, phá sản, v.v… Ngay trước Đệ Nhị Thế Chiến, kinh tế nhiều nước Âu Châu đã bị lạm phát tàn phá, tiền phải chở cả xe mới mua được vài ổ bánh mì.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, xuất hiện tư tưởng được gọi là Keynesian, tức là quan điểm của kinh tế gia John Maynard Keynes của Anh thời đầu thế kỷ 20. Ông Keynes chủ trương một chính sách hoàn toàn trái ngược: chấp nhận thâm thủng ngân sách để phát triển kinh tế.


Đại cương ông Keynes chủ trương Nhà Nước phải đóng vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế và bảo đảm toàn dụng nhân lực qua việc can thiệp mạnh của Nhà Nước. Một mặt kiểm soát kinh tế bằng luật lệ chi phối mọi hoạt động kinh tế, mặt khác đóng vai trò tạo công ăn việc làm cho cả nước qua những dự án lớn. Nói nôm na ra là kinh tế được nuôi dưỡng bằng chi tiêu của Nhà Nước. Nhà Nước càng chi nhiều thì kinh tế càng phát triển. Những chi tiêu lớn lao này sẽ được tài trợ bằng thâm thủng ngân sách, mà ông Keynes cho rằng sẽ chỉ là chuyện nhất thời vì sau đó, kinh tế sẽ phát triển mạnh và với chính sách tăng thuế, số thuế thu vào sẽ gia tăng đủ để bù đắp những thâm thủng trước đó.
Thuyết này đã được cả thế giới áp dụng để gây dựng lại kinh tế toàn cầu sau những tàn phá của Đệ Nhị Thế Chiến, đặc biệt tại Âu Châu. Ta cũng nên nhớ sau Đệ Nhị Thế Chiến cũng là lúc các đảng thiên tả - nghĩa là xã hội và cộng sản - có ảnh hưởng rất mạnh tại Âu Châu. Sau đó thì lý thuyết Keynesian mất dần sự hấp dẫn, và thế giới, dưới ảnh hưởng của TT Reagan và bà Thủ Tướng Anh Thatcher, có huynh hướng trở về lại với thuyết cân bằng ngân sách và giảm thuế để khuyến khích khu vực tư tạo ra công ăn việc làm, chứ không trông cậy vào Nhà Nước để tạo việc làm nữa.
Nạn suy trầm kinh tế của những năm 1983-84, với thất nghiệp có lúc lên tới 10,7%, được TT Reagan mau mắn giải quyết với chính sách cắt giảm thuế quy mô thời đó, đưa đến một chu kỳ thịnh vượng kinh tế kéo dài tới 25 năm. Năm 2001, TT Bush lãnh gia tài suy trầm kinh tế gây ra bởi bong bóng “dot.com” xì hơi năm 2000, khiến thị trường chứng khoán rớt gần 40% cuối thời Clinton ngay trước vụ khủng bố. Vừa suy trầm vừa chiến tranh là họa vô đơn chí. Nhưng thay vì theo mô thức Obama là ngồi đổ thừa cho Clinton, TT Bush giảm thuế mạnh mẽ và kinh tế phục hồi mau chóng. Kinh tế phát triển dưới TT Bush từ cuối năm 2001 đến giữa năm 2008, với tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4%-5%.
Nhưng cũng thời gian đó tại Âu Châu, thuyết Keynesian lại được phục hồi, với vài sửa đổi để trở thành thuyết “tân Keynesian” (neo-keynesian). Dù sao, ảnh hưởng của các chủ thuyết xã hội thiên tả vẫn còn rất mạnh bên Âu Châu.
Nhìn vào thành quả đạt được qua sự phục hồi kinh tế mau chóng của Âu Châu sau Đệ Nhị Thế Chiến, không ai phủ nhận được tính thực tiễn và hữu hiệu của lý thuyết Keynesian thời đó khi mà các phương tiện sản xuất đều chưa được tận dụng. Nhưng ngày nay, cũng nhìn qua tình trạng kinh tế chung của Âu Châu, thì người ta lại thấy lý thuyết của Keynes đã sai lầm hay lỗi thời, cho dù dưới hình thức đổi mới.
Hàng loạt các nước Âu Châu đang lâm tai họa khủng hoảng kinh tế như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Bỉ, v.v… Nguyên nhân của tai họa chính là những chi tiêu lớn lao của khu vực công, tạo ra thâm thủng ngân sách vĩ đại với những số nợ khổng lồ mà Nhà Nước không trả nổi cho dù mức thuế đã lên tới một nửa mức lương của thiên hạ. Cả khối Liên Âu bị đe dọa phá sản. Vì vậy, Liên Âu đang lo ban hành các biện pháp thắt lưng buộc bụng, cắt giảm chi tiêu Nhà Nước hàng loạt, đưa đến cắt giảm những chương trình bao cấp khổng lồ của Nhà Nước. Đó là luồng gió mới về tư tưởng kinh tế đang thổi vào Liên Âu.
Nhưng oái ăm thay, TT Obama lại là người lội ngược dòng.
Hội nghị thượng đỉnh khối 20 cường quốc kinh tế (G-20) tại Toronto vừa qua, tuy đạt được vài thành quả nhỏ mà thất bại lớn trên vấn đề đối phó với khủng khoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Trong khi tất cả 19 nước từ Âu Châu đến Nga, Trung Quốc và Nhật đều chủ trương thắt lưng buộc bụng để giảm chi tiêu của Nhà Nước, thì TT Obama lại đơn thân độc mã hô hào Nhà Nước tiếp tục kích cầu bằng các chương trình quốc doanh lớn lao. Nói cách khác, trong khi cả thế giới đang vật lộn với những tác hại của đường lối Keynesian thì TT Obama hô hào áp dụng chủ thuyết tân Keynesian, dùng tiền Nhà Nước để giải quyết mọi vấn đề. 
Quyết định của TT Obama khiến các chuyên gia kinh tế trên thế giới phân vân, dường như TT Obama là người của thế kỷ trước! Nhưng nó cũng phản ánh cá tính của ông. Nhất quyết dùng tiền Nhà Nước cải đổi xã hội về hướng tả, và tuyệt đối tin tưởng vào chính mình, bất chấp sự thật cả thế giới đang chứng kiến.
Chẳng những cả thế giới đang lo ngại về cuộc khủng hoảng của Âu Châu, mà còn đang run sợ trước viễn ảnh thâm thủng ngân sách và nợ hơn 10.000 tỷ của Mỹ, nhưng TT Obama vẫn bình chân như vại, tiếp tục tung hết tỷ này đến tỷ khác. Kế hoạch mới nhất là tung hai tỷ trợ cấp tạo việc làm trong khu vực năng lượng sạch (Grant for Clean Energy Jobs).
Xét cho cùng, vấn đề không phải là cần bao nhiêu trăm tỷ nữa mới giải quyết được nạn thất nghiệp và vượt qua được khủng hoảng kinh tế. Vấn đề là John Maynard Keynes đã chết từ hơn nửa thế kỷ rồi, và với sách lược kinh tế của TT Obama, có bỏ thêm bao nhiêu trăm hay ngàn tỷ nữa thì vẫn không phục hồi kinh tế và giải quyết nạn thất nghiệp được. Đó là cái nhìn của 19 nước trong khối G-20 khi họ nhất trí không đồng ý với TT Obama tung ra thêm vài gói kích cầu nữa. Chẳng qua chỉ vì ưu tư số một của TT Obama là cải đổi xã hội chứ không phải là phục hồi kinh tế và giải quyết thất nghiệp.
Tuần qua, Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang tiên đoán theo đà này, sẽ phải mất năm hay sáu năm mới phục hồi kinh tế được. Ngày Thứ Sáu cuối tuần, chỉ số tin tưởng vào tương lai kinh tế rớt xuống mức thấp nhất từ một năm nay. Thị trường chứng khoán Nữu Ước đáp ứng bằng cách rớt ngay 260 điểm trong ngày. Kinh tế đang lủng củng sẽ còn lủng củng dài dài.(18-07-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.