Hôm nay,  

Nguy Cơ Đại Dịch

16/11/200500:00:00(Xem: 12910)
-Kể từ Thứ Ba 15, Sài Gòn chính thức cấm nuôi gia cầm, trong khi ấy, lãnh tụ các nước họp APEC tại Busan, Nam Hàn, cuối tuần này cũng chuẩn bị phối hợp đối phó nguy cơ đại dịch cúm gà toàn cầu.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, đa số dư luận lại coi thường mối họa này, có thể vì không được thông tin đầy đủ, hoặc đã bị bão hòa với loại thông tin họ cho là xa vời vô hại. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ đề cập tới nguy cơ đại dịch ấy qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong tiết mục chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trên diễn đàn này trong hai chương trình liên tiếp ngày mùng ba và mùng 10 tháng Hai năm ngoái, chúng ta đã có dịp trao đổi về dịch cúm gà, với một số dự đoán về những gì có thể xảy ra. Gần hai năm sau, mối nguy đó không thuyên giảm như chính quyền Việt Nam đã thông báo lúc ấy, mà còn gia tăng. Và đến nay, Việt Nam có số tử vong cao nhất trong các nước đã gặp dịch bệnh này. Vì vậy, trong chương trình tuần này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ trở lại hồ sơ mà nhiều quốc gia cho là nguy kịch đó.

Thưa vâng, trong các chương trình khi ấy, và trước đó, khi phân tách hậu quả của dịch viêm phổi cấp tính, gọi là dịch Sars, chúng ta có đề cập đến một bài toán kinh tế và nan giải của vấn đề là "quản lý thông tin". Có khi xuất phát từ giống chim, các loài chim thiên di hay thủy cầm, dịch cúm này có thể lan từ giống cầm qua người và biến thể để lan từ người qua người. Lúc ấy, ta sẽ có đại dịch, là điều cả thế giới đang lo sợ mà nhiều người Việt vẫn dửng dưng.

Đây là trách nhiệm về quản lý thông tin của bộ máy hành chính nhà nước. Lần này, so với dịch SARS thì ít có nạn ém nhẹm thông tin, nhưng các chỉ thị của Hà Nội đã không được các nơi chấp hành đồng bộ, trong khi dân chúng lại không biết sợ vì thấy nhà nước báo động rồi lại thôi. Ngày nay, khi thấy từ Thủ tướng tới các bộ và cơ quan gọi nhau đi thanh tra dịch cúm, người dân cho là lãnh đạo lại bày trò sốt sắng, có khi để đòi quốc tế viện trợ, chứ chắc là tình hình cũng chưa đến nỗi nào…

Hỏi: Nhưng vì sao ông cho là dân chúng chưa thấy lo ngại với nguy cơ này"

Vì nhiều người cho rằng một dịch bệnh chỉ khiến hơn bốn chục triệu người chết trong vòng ba năm qua thì cũng chẳng đáng làm ầm ĩ. Chúng ta có thấy điều ấy qua bản tin hôm 14 vừa qua của VNExpress. Nhiều người tại miền Bắc có vẻ thờ ơ với nguy cơ dịch bệnh này, có thể là bị bão hòa về thông tin, tức là nghe mãi rồi chán, trong khi cả thế giới đang chuẩn bị đối phó.

Hỏi: Thế giới vô cùng lo lắng vì nguy cơ dịch bệnh này và có những chuẩn bị, xin ông cho biết như thế nào và so sánh với Việt Nam thì ra sao.

Thưa vâng, tuần qua, các tổ chức chuyên môn về y tế, lương thực và sức khỏe của gia súc đã họp tại Geneve và đề nghị ngân sách một tỷ rưỡi Mỹ kim trong ba năm để ngăn ngừa dịch bệnh và cấp cứu nạn nhân. Trước đó một tuần, hôm mùng một tháng này, Tổng thống Hoa Kỳ đã công bố Chiến lược Quốc gia Chống Dịch bệnh và xin Quốc hội chuẩn chi ngân khoản bảy tỷ mốt cho kế hoạch ấy, trong đó có hơn 250 triệu để phát hiện và chặn đứng dịch bệnh trên toàn cầu trước khi tai họa xảy ra. Ngân hàng Thế giới cũng dự báo là nếu đại dịch xảy ra, kinh tế thế giới sẽ bị mất khoảng 800 tỷ Mỹ kim so với tổng sản lượng của toàn cầu cho một năm là hơn 40 ngàn tỷ, đây là chưa nói đến thiệt hại về nhân mạng. Nói chung, thế giới càng hiểu biết thì càng thấy lo, vì hiểu rằng cho đến nay, khoa học y tế chưa có cách chống lại dịch bệnh này; trái lại, càng không biết thì mình càng dễ mắc hoạ khi thiên hạ đã có chuẩn bị mà mình thì không. Hoàn cảnh ấy thật ra rất đáng lo cho Việt Nam.

Hỏi: Tuy nhiên, chính quyền Hà Nội cũng đã báo động và còn chuẩn bị huy động công an và quân đội vào chiến dịch diệt trừ cúm gà này. Nghĩa là Việt Nam cũng có dự phòng đấy chứ"

Chính là cách dự phòng ấy mới cho thấy nhiều điều đáng ngại. Khi huy động công an và quân đội thì nhà nước muốn đối phó với người nuôi gà chứ không phải là với con gà. Sở dĩ như vậy là vì người dân không tin nhà nước và không sợ dịch bệnh mà chỉ nghĩ đến nguồn lợi tức của mình là con gà và trái trứng. Ta có một kịch bản bi quan nhất của cách xử lý.

Tại các tỉnh miền Nam, giới chăn nuôi tương đối đã đi vào sản xuất mở rộng với nhiều trại gà vịt có quy mô lớn. Và người dân nói chung có nhiều thông tin và ý thức được thân phận của họ lẫn nên còn chịu khó chấp hành chính sách nhà nước và đành hy sinh bầy gia cầm đang nuôi dù không tin là mình được đền bù xứng đáng. Vì vậy, việc tiêu hủy gia cầm để ngừa dịch dù sao cũng còn có kết quả ở trong Nam, tương đối thôi nhưng cũng có kết quả.

Hỏi: Ông nói vậy là muốn so sánh với tình hình các tỉnh miền Bắc hay sao"

Thưa vâng, tại miền Bắc, việc chăn nuôi và sản xuất vẫn còn manh múm, với quy mô nhỏ trong từng hộ gia đình nên việc thanh tra kiểm soát có khó khăn hơn. Ngoài lý do kinh tế ấy còn một lý do tâm lý đáng kể nữa. Thuộc phe chiến thắng vì có góp phần xương máu cho cuộc chiến vừa qua, lại chịu cực cao hơn vì nghèo hơn, người dân nơi đây không sợ nhà nước. Phản ứng xin tạm gọi là "công thần" và "chai lỳ", thậm chí "ăn vạ" khiến họ không dễ gì tuân hành mệnh lệnh của cán bộ công an. Vì vậy, việc diệt trừ gia cầm để ngừa dịch khó có kết quả. Điều ấy cũng giải thích vì sao người dân nơi ấy cho rằng "chuyện không có gì mà ầm ĩ".

Đây là ta chưa nói đến tệ nạn tham nhũng và cách tổ chức quá thô thiển của chính quyền khi phải đối phó với một dịch bệnh nguy ngập như vậy.

Hỏi: Ông thường hay nói rằng chính quyền này độc tài mà yếu, quản lý rộng mà nông nên ít có khả năng tiếp cận và huy động dân chúng khi gặp thiên tai hay đại họa bất ngờ. Liệu trường hợp ấy có đang xảy ra hay không"

Thưa đúng vậy. Tôi xin đơn cử một thí dụ kinh tế là chiến dịch phát hành trái phiếu đã dẫn đến tệ nạn cưỡng bách tiết kiệm trong các công sở, với lãi suất thấp, để cán bộ lập thành tích báo cáo lên trên. Một thí dụ thứ hai là thuốc chủng Tamiflu. Đây chỉ là thuốc ngừa triệu chứng và làm chậm nhịp phát tác của bệnh cúm gà và việc sản xuất, trong giả thuyết tổ hợp Roche của Thụy Sĩ đồng ý cho Việt Nam sản xuất theo công thức của họ, cũng đòi hỏi nhiều thời gian, thủ tục và kỹ thuật mà Việt Nam chưa kịp nắm vững. Vậy mà giải pháp phòng thủ rất tiêu cực và thụ động này đã có thể gây lạm dụng. Nào là nạn làm thuốc giả, nào là thuốc viện trợ thì đem tuồn ra ngoài để bán chợ đen. Cũng vậy, khi quốc tế viện trợ tài chính để đền bù thiệt hại cho dân nuôi gà vịt thì có người ăn chặn trong bộ máy công quyền, điều ấy khiến dân chúng càng muốn tránh né và không chấp hành chỉ thị của nhà nước.

Hỏi: Trong khi ấy, vi khuẩn nhiễm bệnh có khi lại biến đổi để chống lại khả năng kháng sinh của người bệnh và nhảy từ người qua người, như người ta đã báo động và dịch bệnh vẫn tiếp tục lây lan"

Cho đến nay, Việt Nam đã học Trung Quốc thi hành việc chủng ngừa gia cầm mà, thứ nhất, không biết là loại thuốc chủng ấy có công hiệu không; thứ hai là sau khi được tiêm chủng, mấy trăm triệu con gà ấy biến thái thế nào, ai ăn loại gà ấy sẽ ra sao, ta cũng chưa rõ. Trước nguy cơ dịch bệnh có thể làm cả triệu người mất mạng, ta chưa biết chính quyền sẽ xử lý ra sao, đã làm được những gì cụ thể, hữu ích. Không thấy các cơ quan hữu trách lập ra trang thông tin trên Internet hay mở chiến dịch giải thích bằng truyền đơn để dân chúng biết rõ lợi hại cho chính mình, nhưng lại thấy tờ Nhân Dân loan tin hôm 14 là xông khói bồ kết thì chống được cúm gia cầm. Thật khó tin là biện pháp ấy sẽ có kết quả mà hình như nhà nước cũng chưa có cuộc nghiên cứu khoa học nào về chuyện này.

Hỏi: Nhìn trên toàn cảnh, và từ bên ngoài, ông nhận xét ra sao về nguy cơ này, cho kinh tế Việt Nam và Đông Á"

Tôi có đôi chút lạc quan khi tin tưởng vào khả năng của loài người trong cuộc chạy đua giữa khoa học và tử thần. Năm 1918, nhân loại đã có dịch cúm Tây Ban Nha khiến đâu đó hơn 40 triệu người thiệt mạng, tức là khoảng 2% dân số thời ấy. Bốn mươi năm sau, đại dịch năm 1957 khiến hai triệu người chết, dù là một con số rất lớn thì cũng chỉ bằng 0,05% dân số toàn cầu thời ấy. Mười năm sau, trận dịch năm 1968 làm mấy trăm ngàn người chết, tức là ít hơn rất nhiều so với hai lần trước. Các nhà khoa học dự đoán là một cơn đại dịch nữa có thể sẽ xảy ra và xảy ra khá sớm. Tuy nhiên, nhân loại đã có tiến bộ, từ năm 1929 còn tìm ra và phổ biến dưới diện thương mại thuốc kháng sinh từ chất penicilin, cho nên tôi thành thật mong là thiệt hại về nhân mạng sẽ không quá cao.

Hỏi: Đó là yếu tố lạc quan, nhưng, thực tế có được như vậy ở mọi nơi hay chăng"

Thưa chúng ta phải nhìn ra một sự thể khách quan là thành tựu của khoa học ấy chỉ có kết quả tại các xã hội có trình độ tổ chức cao, nói chung là tại các nước giàu có, đã phát triển. Khi đại dịch xảy ra, các xứ này có thể giới hạn được tổn thất về cả nhân mạng lẫn kinh tế vì có chuẩn bị và có sẵn một hệ thống y tế và thú y đã phát triển. Các nước nghèo thì không như thế. Ta nhìn ra yếu tố văn hóa chung là "nghèo nên hay mơ", là tập quán coi thường mạng sống nên đánh giá thấp mức hiểm tai của dịch bệnh. Trung Quốc và Việt Nam thuộc loại ấy, lại có thói bưng bít của chế độ cộng sản, nên thiệt hại nhân mạng có thể là số triệu.

Ngoài ra, cũng tại Đông Á, trình độ tổ chức có thể dẫn tới kết quả khác biệt, thí dụ như Nhật Bản và Malaysia đã bị nhiễm, nhưng mau chóng diệt sạch mầm bệnh. Thái Lan là quốc gia xuất khẩu nhiều gia cầm nhất Đông Á, cũng đã bấm bụng tiêu hủy gia cầm để ngừa dịch. Thuần về kinh tế, vốn bén nhạy hơn giới kinh tế về những yếu tố cận kề, các thị trường chứng khoán Á châu đều ý thức được mối nguy đại dịch và nạn suy trầm sản xuất sắp tới nên giới đầu tư chờ đợi một tỷ lệ hiểm tai rất cao, gọi là risk premium vì cúm gà.

Trong khi ấy, nhiều xứ bị rủi ro cao nhất lại vẫn cứ hồn nhiên, theo quy luật các cụ ta gọi là "điếc không sợ súng". Việt Nam thuộc trường hợp ấy. Khi nào thấy du khách hay thân nhân hủy bỏ chuyến bay hoặc không về ăn Tết Bính Tuất nữa, may ra người dân sẽ hiểu và đòi nhà nước phải có tinh thần trách nhiệm cao hơn. Mong rằng điều ấy sớm xảy ra, vì thà sợ hão còn hơn bị thật.

Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.
Đối với triết gia Immanuel Kant, lời nói dối là “cái ác bẩm sinh sâu xa trong bản chất con người” và cần phải tránh xa ngay cả khi đó là vấn đề sống còn1. Trong tác phẩm “Deciphering Lies”, Bettina Stangneth, 2017, viết rằng: “Trong số những lý do khiến người ta nói dối vì điều đó có thể giúp họ che giấu bản thân, ẩn náu và tránh xa những người xâm phạm vùng an toàn của họ.” Stangneth cho biết thêm, “cũng không khôn ngoan khi thả trẻ em ra thế giới mà không biết rằng người khác có thể nói dối chúng.” The Wasghington Post, ban kiểm tra sự thật, cho biết: Trong bốn năm làm tổng thống thứ 45, từ 2017-2021, đến cuối nhiệm kỳ, Trump đã tích lũy 30.573 lời nói dối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống - trung bình khoảng 21 lời tuyên bố sai lầm mỗi ngày. Từ khi thua cuộc tái ứng cử vào tay tổng thống Joe Biden cho đến giờ này, tranh cử với bà Harris, ông Trump càng gia tăng khẩu phần nói dối, phong phú đến mức độ không thể đếm cho chính xác.
Câu chuyện hoang tưởng “di dân ăn thịt chó, mèo” của Donald Trump và JD Vance gây ra nỗi sợ hãi, tạo ra nhiều kích động tiêu cực, vì nó được nói ra trước 81 triệu dân Mỹ, từ một cựu tổng thống. Những lời vô căn cứ tràn đầy định kiến và thù hận đó như một bệ phóng cho con tàu “Kỳ Thị” bay vút vào không gian của thế kỷ 21, thả ra những làn khói độc. Nó như một căn bệnh trầm kha tiềm ẩn lâu ngày, nay đúng thời đúng khắc nên phát tán và lan xa. Nói như thế có nghĩa, con tàu “Kỳ Thị” này, căn bệnh này, vốn đã có từ rất lâu đời. Nó âm ỉ, tích tụ, dồn nén theo thời gian, chực chờ đến ngày bùng nổ. Một tuần qua, người Haiti, là nạn nhân của cơn bùng phát này. Gần nửa thế kỷ trước, và cho đến tận nay, là cộng đồng người gốc Việt.
Sự trỗi dậy của những nhóm cực hữu đang làm sống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, một căn bệnh trầm kha chưa bao giờ thực sự chấm dứt ở Hoa Kỳ. Để thực hiện những chương trình nghị sự của mình, những người theo chủ nghĩa thượng tôn da trắng đã thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật khác nhau. Trong những năm gần đây, nhiều nhà hoạt động đã cảnh báo các nhóm cực hữu đang cố sử dụng nền tảng giáo dục làm công cụ để bảo vệ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Một bài viết trên trang mạng lithub.com của tác giả Jason Stanley đã phân tích sâu sắc về đề tài này.
Nhìn ở bề ngoài thì ông Benjamin Netanyahu, Thủ tướng Do Thái, đang làm cái việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu từng làm với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Năm đó ông Thiệu bị cáo buộc là hành động để đảng Dân Chủ thua đảng Cộng Hòa còn bây giờ thì, xem ra, ông Netanyahu lại đang tháu cáy với nước cờ tương tự tuy nhiên bản chất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Khi còn tại chức, không ít lần, T.T Nguyễn Xuân Phúc đã khiến cho dân tình hoang mang hay bối rối khi nghe những câu chữ rất lạ kỳ: “Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Vĩnh Phúc sẽ vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Long An phải trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Hải Phòng là đầu tàu quan trọng của cả nước’, ‘Bình Dương phải là đầu tàu phát triển kinh tế mạnh nhất của cả nước …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.