Hôm nay,  

Vụ Wikileaks Và Màn Tháo Chạy

02/08/201000:00:00(Xem: 11133)

Vụ WikiLeaks và Màn Tháo Chạy

Nguyễn Xuân Nghĩa

Dùng dằng chưa nỡ rời tay, Bỗng WikiLeaks đánh ngay một đòn...

Trang website WikiLeaks đã phối hợp với ba nhật báo The New York Times tại Mỹ, tờ The Guardian tại Anh và tờ Der Spiegel để cùng một ngày Chủ Nhật 25, tung ra hơn 91.000 tài liệu mật của bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về nhiều diễn biến xảy ra trong cuộc chiến A Phú Hãn từ năm 2004 đến đầu năm 2010. Dĩ nhiên là chính quyền Hoa Kỳ phản đối việc tiết lộ này, nhưng đến nay chưa hề phủ nhận tính chất xác thực - hay không - của các tài liệu.
Tuy nhiên, dù là xác thực thì các tài liệu vẫn chưa thể trình bày toàn bộ cuộc chiến mà chỉ đưa ra một số dữ kiện, có khi là cục bộ hay chiến thuật, mà thôi. Xuyên qua những gì đã được tiết lộ, ta thấy rằng một số nhận thức chung về cuộc chiến APH - xin viết tắt cho gọn về chiến trường Afghanistan - đã được kiểm chứng.
Thứ nhất, lực lượng Taliban vẫn mạnh và có khả năng dùng hỏa tiễn cầm tay - hệ thống phòng không được vác trên vai ("Man-Portable Air Defense Systems", viết tắt là MANPADS). Điều ấy có thể gây khó cho các trực thăng của Hoa Kỳ và Liên quân NATO. Nhưng thực tế, nếu đếm lại số trực thăng bị rớt vì mọi lý do, kể cả hỏa lực địch, thì tổn thất này không tăng mà còn giảm. Dù sao, chuyện tổn thất ấy không phủ nhận được khả năng tung hoành của Taliban, với loại hỏa tiễn SA-7 có thể còn lại từ thời chiến tranh chống Liên Xô 1979-1989.
Từ đó, mình suy đoán ra khả năng tiếp vận và bảo vệ các hậu cứ của Taliban vì lực lượng này chưa thể chế tạo ra loại võ khí ấy. Nhưng chi tiết về MANPADS cũng cho thấy Taliban chưa có loại hoả tiễn tân kỳ hơn, với ống nhắm bằng hồng ngoại tuyến chẳng hạn. Vì vậy, thuần về quân sự, Taliban chưa thể đảo ngược được tình hình chiến sự. Nhưng vấn đề không phải là quân sự.
Thứ hai, Taliban có khả năng tiếp vận nên mới sử dụng hỏa tiễn cầm tay, và vẫn có hậu cứ nằm đâu đó trong lãnh thổ Pakistan. Vấn đề hậu cứ ấy được các tài liệu do Wikileaks tiết lộ xác nhận: Một mặt, Pakistan không cho Hoa Kỳ truy đuổi Taliban hay al-Qaeda trong lãnh thổ của mình, mặt khác, nhiều tướng lãnh trong cơ quan mật vụ ISI vẫn lặng lẽ yềm trợ Taliban. Thiếu tướng Hamid Gul - cầm đầu mật vụ ISI từ 1987 đến 1989 - là một trong các nhân vật đó.
Chi tiết ấy có thể là một tin nóng cho truyền thông, nhưng không là sự lạ cho lãnh đạo Hoa Kỳ.
Những ai theo dõi chiến sự APH cũng đều nghĩ như vậy. Bây giờ, tình trạng phản phé của chính quyền Pakistan tại Islamabad mới được công khai hóa. Chúng ta cần xem lại lập trường của các phe trong cuộc, may ra thì suy đoán ra hậu quả của vụ WiliLeaks...
Muốn như vậy thì phải nhìn vào tấm lịch và tờ bản đồ... từ xa.
Trong chiến tranh Xô viết tại APH, từ 1979 đến 1989, Hoa Kỳ thời Jimmy Carter thực tế tham dự gián tiếp khi yểm trợ phong trào kháng chiến của các lực lượng Hồi giáo chống lại Hồng quân Liên Xô. Hậu cứ yểm trợ xuất phát từ Pakistan và đường dây tiếp vận là do mật vụ ISI lập ra. Từ phong trào Thánh chiến Jihad, sau này nhiều nhóm chuyển qua hoạt động khủng bố: Mỹ đã nuôi ong tay áo!
Sau khi Liên Xô tháo chạy, Hoa Kỳ dừng tay và bán cái chuyện APH cho Pakistan. Trong thời nội chiến hậu Xô-viết tại APH, Pakistan góp phần yểm trợ cho lực lượng Taliban qua đường dây ISI và sự bố trí của Tướng Hamid Gul, khi ấy đã rời ISI để khỏi mang tiếng! Mối quan hệ ấy nay vẫn còn sau khi Taliban chiếm chính quyền năm 1996 - nhờ Pakistan - rồi bị Hoa Kỳ đánh bật khỏi Kabul năm 2001, sau vụ khủng bố 9-11.
Nhìn từ quan điểm quyền lợi của Pakistan, APH có giá trị chiến lược vì nhiều lý do.
Đầu tiên là vì sắc dân Pashtun rất đông trên khu vực biên giới giữa hai nước. Thứ nữa là nếu APH có lực lượng chống Paksitan thì Islamabad lâm thế kẹt giữa sức ép ở miền Tây - từ APH - với mối đe dọa từ miền Đông - từ Ấn Độ. Vì vậy, Islamabad phải kiểm soát được tình hình APH và một chiến lược cho mục tiêu ấy là duy trì quan hệ "thân hữu" với Taliban đã được xây dựng và nuôi dưỡng từ xưa.


Nhìn từ Hoa Kỳ thì nhu cầu tiêu diệt khủng bố al-Qaeda sau vụ 9-1 khiến Mỹ phải đẩy Taliban ra khỏi chính quyền, nhưng không muốn và không thể tiêu diệt lực lượng này vì nó đòi hỏi một nỗ lực quân sự rất lớn. Việc đổ quân chiếm đóng APH là bất khả - cạn quân rồi - mà cũng chẳng là ưu tiên lớn vì al-Qaeda đã tản qua Pakistan và trải mỏng cơ sở tại Ethiopia, Yemen, Somalia... Vấn đề còn lại của Hoa Kỳ là... bảo vệ Pakistan khỏi tan rã và võ khí hạch tâm của xứ này khỏi rơi vào tay quân khủng bố.
Vì vậy, quan hệ giữa hai nước là một nghịch lý.
Pakistan bị sức ép và sự khuyến dụ - viện trợ - của Hoa Kỳ để thành đồng minh của Mỹ trên trận tuyến chống khủng bố toàn cầu, trước hết là tại APH. Islamabad cũng biết là Mỹ không thể tiêu diệt được Taliban và sớm muộn gì thì sẽ rút khỏi APH - Chính quyền Obama xác nhận điều ấy trong chiến lược mới, được Tổng thống Mỹ công bố hồi đầu tháng 12 năm ngoái. Nhưng lãnh đạo Islamabad cũng e ngại Hoa Kỳ sẽ yểm trợ Ấn Độ nếu họ không thỏa mãn yêu cầu của Mỹ.
Vì vậy, họ đi hai hàng. Vừa hợp tác về hình thức với Hoa Kỳ, vừa ngấm ngầm duy trì quan hệ tốt với Taliban và... chờ ngày Mỹ rút.
Lãnh đạo quân sự và chính trị Hoa Kỳ không thể không biết điều ấy từ lâu, chứ cũng chẳng chờ WikiLeaks tiết lộ. Khi đó, nếu không thể tiêu diệt Taliban thì sự chọn lựa của Mỹ là gì" Nếu cả APH và Pakistan đều bị đại loạn thì Hoa Kỳ và Ấn Độ có thể làm được gì" Giữa nguy cơ tan rã của APH và của Pakistan, nguy cơ nào là quan trọng hơn cho an ninh và quyền lợi Hoa Kỳ"
Chính là nghịch lý rất hợp lý ấy mới khiến hai "đồng minh" là Hoa Kỳ và Pakistan hợp tác theo kiểu kẻ cắp với bà già.
Hoa Kỳ chỉ cần xoá sạch hậu cứ al-Qaeda tại APH là có thể ra về, và cứ dùng dằng nửa ở nửa đi vì chưa dứt khoát được, trong khi cũng chẳng muốn một cường quốc khác - như Ấn Độ hay Trung Quốc - sẽ nhảy vào thế chỗ của Paskitan tại APH. Pakistan thì cười cười hợp tác nhằm bảo vệ biên giới miền Tây, nhưng chờ ngày Mỹ rút và Taliban quay về làm chủ tại APH. Trong khi chờ đợi thì họ đấm ngực thề thốt là không yểm trợ Taliban và biết rằng Hoa Kỳ cũng không tin.
Bây giờ WikiLeaks phanh phui ra sự thật mà mọi người trong cuộc đều biết nhưng cứ làm như không! Ngần ấy thủ đô tại Trung Á và Nam Á đều bị chấn động. Từ Kabul qua Islamabad tới New Delhi, lãnh đạo các nước phải làm bộ lên tiếng, phàn đối hay phủ nhận, v.v... Nhưng chuyện chính vẫn nằm tại Washington, thủ đô Hoa Kỳ.
Thực tế đã được phơi bày là: Hoa Kỳ không có ý chí quyết thắng tại APH, Chính quyền Obama chuẩn bị tháo chạy, trong khi Taliban vẫn có khả năng tồn tại và kiểm soát được một vùng lãnh thổ rộng lớn, bên cạnh một nước láng giềng đầy thân hữu và thiện chí chờ ngày Mỹ rút. Sự thật ấy khiến Chính quyền Obama hết chỗ chạy vì dư luận từ tả qua hữu, từ phản chiến tới bảo thủ về an ninh, đều nêu vấn đề và gây áp lực.
Và đẩy Hoa Kỳ tới quyết định triệt thoái còn sớm hơn dự tính.
Việc hơn 90 ngàn tài liệu được ai đó thu thập, chuyển hoá và phóng ra cho tổ chức phản chiến WikiLeaks là một nỗ lực công phu và có phối hợp. Chứ không thể là sáng kiến của một cá nhân, như anh binh nhất Bradley Manning 22 tuổi, đang bị điều tra. Hay anh Julian Assange, người Úc 39 tuổi đang trụ ở Thụy Điển và là sáng lập viên WikiLeaks. Nỗ lực có phối hợp ấy nhắm vào mục tiêu gì nếu không phải là thúc đẩy Hoa Kỳ sớm triệt thoái khỏi A Phú Hãn"
Mà ai là đạo diễn thật của đòn tác động tâm lý này"
WikiLeaks tiết lộ nhiều dữ kiện phương hại cho sự an toàn của binh lính Liên quân và dân APH, đấy là một vấn đề. Nhưng nếu việc tiết lộ này lại còn chuẩn bị cho Hoa Kỳ tháo chạy thì... chúng ta hết ý kiến. Kinh hãi và kinh tởm.

Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.