Hôm nay,  

Trung Quốc Trở Lại Libya

25/08/201100:00:00(Xem: 7430)
Trung Quốc Trở Lại Libya

Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng RFA

...họ oanh liệt chứng minh sự phá sản của trò ‘Đồng thuận Bắc Kinh’ và mất cả chì lẫn chài...

Trong mấy ngày qua, khi tình hình giao tranh bùng nổ gay gắt tại thủ đô Tripoli và vùng phụ cận của Libya thì giới kinh tế lại chú ý đến thái độ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đó là việc Bắc Kinh lật đật kêu gọi lực lượng nổi dậy phải tôn trọng quyền lợi đầu tư của Trung Quốc tại Libya. Chưa ai biết là sau khi chế độ của lãnh tụ Moammar Gaddafi cáo chung thì việc tái thiết quốc gia và xây dựng dân chủ sẽ tiến hành trong điều kiện gian nan như thế nào, nhưng lại tò mò về sự tráo trở của Trung Quốc khi xứ này tìm mọi cách cản trở việc quốc tế can thiệp vào Libya. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về chuyện này qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Ông có vẻ không ngạc nhiên về việc lãnh đạo Bắc Kinh đổi giọng khi chế độ của lãnh tụ độc tài Moammar Gaddafi có thể tan rã và vừa nói đến việc tái thiết Libya vừa kêu gọi Hội đồng Quốc gia Lâm thời của phe nổi dậy tôn trọng quyền lợi đầu tư của mình tại Libya. Phải chăng đây chỉ là thái độ hai mặt khá truyền thống của lãnh đạo Bắc Kinh" Theo dõi tình hình Trung Quốc từ lâu, ông nghĩ sao về chuyện này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là quốc gia nào cũng cần tìm mối lợi cho mình qua việc hợp tác kinh tế với xứ khác, đó là một chuyện bình thường. Nhưng vì vậy mà trở thành đồng lõa với tội ác thì đấy là vấn đề. Rồi sau đó lại trở mặt thì đấy là một đặc tính của lãnh đạo Bắc Kinh.
- Ta nhớ lại thì Trung Quốc đầu tư rất mạnh vào hạ tầng cơ sở của xứ Libya, một quốc gia rộng lớn, có ít dân mà nhiều dầu hỏa. Năm ngoái, Trung Quốc đã mua của Libya một nhật lượng dầu thô là 150 nghìn thùng một ngày và trù tính mở rộng nguồn cung cấp này cho những năm sau. Bắc Kinh đã có 75 doanh nghiệp làm ăn bên đó và gửi qua xứ này một đội ngũ công nhân viên lên tới 36 nghìn người. Khi chế độ độc tài Moammar Gaddafi xoay ra đàn áp người dân kể từ Tháng Hai và bị quốc tế lên án thì Bắc Kinh nấp sau nguyên tắc cố hữu của họ, là "không can thiệp vào nội bộ nước khác" mà thực tế là để khỏi làm mất lòng chế độ Gaddafi và gìn giữ tài sản đầu tư của các tập đoàn dầu khí ở nơi đây.
- Khi các nước Tây phương vận động thế giới can thiệp vì lý do nhân đạo để ngăn ngừa việc dân chúng bị tàn sát, Trung Quốc vẫn tiếp tục hợp tác với Tripoli và thực tế còn cản trở Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ban hành nghị quyết về hồ sơ này. Qua Tháng Ba, Bắc Kinh đành bỏ phiếu trắng khi việc đàn áp đã gây phẫn nộ trong dư luận thế giới, và khi ấy chỉ tìm cách bảo vệ quyền lợi riêng tại Libya và còn tiếp tục lên án việc quốc tế can thiệp vào Libya.
- Qua gần sáu tháng giao tranh giữa chế độ Gaddafi cùng phe nổi dậy có nỗ lực yểm trợ của Minh ước NATO, Bắc Kinh cũng chẳng quan tâm hay đóng góp gì cho việc cứu giúp nạn dân. Gần đây, khi chế độ Gaddafi bị suy yếu thì Bắc Kinh mới giang tay kia ra để bắt cá, là tiếp xúc với tổ chức lãnh đạo phe nổi dậy là Hội đồng Quốc gia Lâm thời. Bây giờ thì họ mới công khai nói chuyện hợp tác với chính quyền mới sau này, cũng vẫn chỉ để bảo vệ quyền lợi thôi.
- Câu cuối cùng của chuyện này là chế độ độc tài tại Syria mà vẫn tồn tại sau khi tàn sát người dân thì cũng do Trung Quốc dùng lá phiếu phủ quyết để cản trở Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Y hệt như vậy, Bắc Kinh sẽ bảo vệ đến cùng các chế độ độc tài ở Miến Điện hay Iran cũng vì sự toa rập cố hữu với tội ác, cho đến khi lại bẽn lẽn trở mặt.
Vũ Hoàng: Chúng ta có thể hiểu được thái độ hai mặt đó của Trung Quốc không, khi mà nhu cầu tái thiết xứ Libya sau cuộc nội chiến vừa qua có thể mở ra nhiều cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp Trung Quốc" Nói cho cùng thì lãnh đạo xứ nào mà chẳng nghĩ đến quyền lợi tối thượng của quốc gia"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Câu hỏi ấy rất chí lý và đáng đặt ra khi người ta gặp hoàn cảnh nội chiến tại một xứ khác. Cụ thể là phải chọn lựa giữa hai phe. Mà nếu chọn lầm thì sẽ gặp phản ứng bất lợi sau này. Nhưng ngoài mối lợi cụ thể thì một quốc gia còn phải tôn trọng đạo lý phổ cập của loài người văn minh là nhân quyền nữa. Chuyện ấy mới dẫn ta đến các vấn đề thiết thực khác.
- Thứ nhất, Bắc Kinh đã chọn sai đối tác khi cố gắng bênh vực chế độ Gaddafi tới cùng và nay phải mở chiến dịch vận động ngoại giao để xây dựng quan hệ tốt hơn với chế độ sẽ thành hình sau này. Thứ hai, chính là vì cứ đứng ngoài mà tưởng là khôn ngoan theo kiểu ngư ông chờ đợi trai cò mổ nhau để đắc lợi, Bắc Kinh sẽ lúng túng khi chưa hiểu ra là lực lượng nổi dậy gồm có những phe nào, thực tế có ảnh hưởng ở đâu và kiểm soát được khu vực nào trong hạ tầng năng lượng hay vận chuyển của xứ Libya. Chúng ta trở lại một quy luật phổ biến trong kinh doanh hay kinh tế, là đầu tư thì phải chấp nhận rủi ro.
- Thứ ba, và đây là vấn đề trường kỳ cho thấy thực lực của quốc gia. Trung Quốc là kẻ đến sau và gặp hoàn cảnh gọi là "trâu chậm uống nước đục" khi chưa xây dựng được quan hệ và nhất là kho kiến thức về các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu chính yếu trên thế giới. Họ chỉ len vào các nước độc tài lạc hậu và hợp tác với các chính quyền hung đồ để bóc lột người dân và gặp rất nhiều bất trắc khi dân chúng nổi dậy.
Vũ Hoàng: Thưa ông, hậu quả cụ thể về kinh tế của những nhược điểm ấy là gì cho Bắc Kinh"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cụ thể thì các nước Tây phương như Ý, Pháp, Anh hay Đức đều có quan hệ làm ăn và kiến thức lâu đời về các trung tâm năng lượng Libya. Nhưng họ đã lấy rủi ro là có thể mất hết khi kết án chế độ Gaddafi và thi hành nghị quyết của Liên hiệp quốc. Một xứ khác trong khu vực là Qatar còn lấy rủi ro lớn hơn khi trực tiếp đưa quân vào yểm trợ phe nổi dậy. Vì vậy, khách quan mà nói thì chính quyền lãnh đạo Libya sau này sẽ ưu tiên hợp tác với các quốc gia đó. Vả lại, họ cũng cần đến kiến thức chuyên môn của họ cho việc tái thiết sau này.

- Trong khi ấy, Trung Quốc lại ở vào thế yếu về cả ngoại giao lẫn khả năng khai thác nên sẽ đành ngồi chầu rìa và xin thầu các dự án xương xẩu dưới sự canh chừng của các nước khác! Chưa kể là họ không nắm được thực trạng ở tại chỗ, thí dụ như thị tộc nào hay phe nào kiểm soát khu vực nào và có cái thế ban phát quyền lợi ở những đâu. Và nhất là các lực lượng khát khao dân chủ trong phe nổi dậy thì đương nhiên nghi ngờ Trung Quốc. Trong vụ khủng hoảng Libya này, Bắc Kinh đã chứng tỏ mặt thật của họ một cách không thể nào rõ ràng và phũ phàng hơn!
- Nó cũng cho thấy sự lúng túng của Trung Quốc về các mỏ đồng tại xứ Zambia hoặc ngay hiện tại ở Venezuela khi lãnh tụ độc tài là Hugo Chavez lâm trọng bệnh và chưa biết là ai sẽ thay thế và làm sao Bắc Kinh có thể bảo vệ quyền lợi sau khi đã đầu tư tốn kém vào chế độ này"
Vũ Hoàng: Chúng ta bước qua phần thứ hai, thưa ông Nghĩa. Ông đã nhiều lần nhắc tới nhu cầu tái thiết và thực trạng ở tại chỗ của xứ Libya. Nhìn từ giác độ kinh tế thì đâu là những vấn đề của chính quyền mới sau này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ổn định, cứu đói và dập lửa là những ưu tiên của buổi giao thời. Tôi thật là không mấy lạc quan hồ hởi về tình hình sắp tới của Libya và có thể làm nhiều người thất vọng khi nói rằng chưa chắc là phong trào dân chủ sẽ đại thắng và Libya sẽ tiến vào dân chủ nay mai.
Vũ Hoàng: Chúng tôi biết rằng ông cứ hay đưa ra lý luận ngược để cảnh báo chuyện bi quan, nhưng ông có thể giải thích chuyện này cho rõ ràng được không, ít ra cũng để những ai thiết tha đến dân chủ rút tỉa một số bài học.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết là về kinh tế chính trị, chế độ Gaddafi không thể tồn tại từ năm 1969 nếu chỉ cai trị một cách độc đoán do tay chân của gia đình Gaddafi. Chế độ này đã có thời gian chia chác quyền lợi và ảnh hưởng để kiểm soát được tình hình khá lâu như vậy. Trường hợp của xứ Egypt và chế độ Hosni Mubarak cũng thế mà thôi.
- Thứ hai là về sắc tộc, Libya không là một xứ thuần chủng vì bao gồm 140 thị tộc, và ít ra có 30 bộ lạc có ảnh hưởng từ vùng duyên hải vào đến các sa mạc bên trong. Nếu có các bộ lạc tại miền Đông vẫn nghi ngờ chế độ Gaddafi thì cũng có nhiều tộc trưởng khác đã hợp tác với Gaddafi từ khi ông ta tiến hành đảo chính năm 1969 để nắm quyền. Các tộc trưởng này đã tham dự Hội đồng Lãnh đạo Cách mạng trong cuộc đảo chính và từ đó con cháu của họ đã cùng trưởng thành với con cái của Gaddafi trong một thế liên thủ tỏa rộng. Cho nên thế giới sẽ rất lầm khi lạc quan tin rằng chế độ không còn tay chân và chỉ cần dân chúng nổi dậy là tất nhiên sụp đổ.
- Thực tế thì vụ nổi dậy đã bị đàn áp và nếu không có quốc tế can thiệp thì Gaddafi vẫn tồn tại. Bây giờ, chế độ ấy có thể cáo chung nhưng những ai sẽ lãnh đạo sau này và có chủ trương gì thì mình chưa rõ. Trong số bốn chục lãnh tụ của phe nổi dậy, ta chỉ biết được chừng 13 người mà thực lực ra sao và ảnh hưởng thế nào thì người chưa thấy mặt. Ba ngày vừa qua, ta đã thấy Tripoli rung chuyển và tưởng gia đình Gaddafi đã sa lưới trọn ổ. Thực ra thì có lẽ truyền thông quá tin vào cách loan tin lạc quan mà nói đến việc các người con của Gaddafi đã bị bắt hoặc đã ra đầu thú. Sự thể nó rắc rối và gian nan hơn vậy.
Vũ Hoàng: Chúng tôi hiểu ra cách nhìn của ông vì nếu có một số người từ chế độ Gaddafi đào thoát ra ngoài và kêu gọi tự do dân chủ với ngôn ngữ Tây phương, thí dụ như các nhà ngoại giao hay chuyên gia về dầu khí, thì cũng có những lãnh tụ phe nổi dậy có đầy võ khí mà họ đấu tranh cho mục tiêu gì thì chưa chắc thế giới bên ngoài đã biết....
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì vậy mà chúng ta nên e rằng những người khát khao với dân chủ có khi sẽ lại bị hy sinh trong việc tranh đoạt quyền lực giữa cảnh tranh tối tranh sáng hiện nay, chưa nói đến nguy cơ nội chiến hoặc xung đột chủng tộc. Chính là vào lúc này, những ai thiết tha đến tự do và dân chủ nên nhìn vào toàn cảnh và cân nhắc lợi hại cho lâu dài chứ không thụ động chạy theo đám đông mà tưởng rằng mình lãnh đạo cuộc cách mạng.
- Một cách rất cụ thể, và trở lại chuyện lật lọng của Trung Quốc là một xứ vốn dĩ chẳng muốn xây dựng dân chủ ở bên trong lẫn bên ngoài, ta hãy nghĩ đến kỹ nghệ dầu khí và dân chủ.
- Có ba quốc gia Âu châu theo thứ tự là Ý, Pháp và Anh, đã có quan hệ về dầu khí với Libya từ lâu và lại cùng yểm trợ phe nổi dậy ngay từ đầu. Hơn cả Hoa Kỳ, ba xứ này cùng với Qatar nhỏ xíu sẽ góp phần tái thiết và phục hoạt khu vực dầu khí của Libya vì dầu khí là nguồn tài nguyên trọng yếu. Họ đang tìm hiểu về thực trạng tổn thất ở tại chỗ và nói chuyện tái thiết hay cả viện trợ với phe nổi dậy cho sau này. Người ta đừng nên đơn giản cho rằng Ý, Pháp, Anh sẽ lại quay về Libya vì quyền lợi dầu khí mà nên nghĩ theo lối tích cực là chính quyền của các nước này vẫn bị dư luận kiểm soát ở nhà vì nguyên tắc dân chủ. Chính là phản ứng của người dân đã khiến các chính quyền Âu châu này phải quên đi quyền lợi của các tập đoàn dầu khí như ENI của Ý hay Total của Pháp gây sức ép cho Gaddafi. Bây giờ khi họ quay lại trong thế mạnh thì những ai đấu tranh cho dân chủ nên dùng sự thâm nhập ấy để xây dựng nền móng lâu dài cho xứ Libya. Đấy là trường hợp tư bản chủ nghĩa và doanh lợi lại tương đồng với lý tưởng dân chủ!
Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, trong nhiều chương trình trước đây, ông có nhắc đếnn một phạm trù là "Đồng thuận Bắc Kinh" khi Trung Quốc giao hảo và thậm chí còn viện trợ cho các chế độ độc tài mà không đặt điều kiện gì về môi sinh, nhân quyền hoặc điều kiện lao động của người dân bản xứ. So sánh với chính sách đối ngoại có những tiêu chuẩn khắt khe hơn về dân quyền và nhân quyền trong việc hợp tác thì dường như Trung Quốc lại chiếm ưu thế. Lần này, trong vụ khủng hoảng tại Libya thì người ta lại thấy ra cái mặt thật của "Đồng thuận Bắc Kinh", có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng chế độ dân chủ có quyền tự do phơi bày những nhược điểm nhưng nhờ vậy mà cũng có khả năng tự cải thiện. Kinh tế thị trường cũng thế, nó thường xuyên tạo ra thay đổi khiến loài người phải chật vật ứng phó nhưng lại cải thiện được mức sống có tự do của mọi người và tạo ra thịnh vượng. Lãnh đạo Trung Quốc chọn giải pháp dễ dãi và ngắn hạn nên bên trong mới bị nguy cơ động loạn khi kinh tế suy thoái và bên ngoài thì có thể làm thiên hạ sợ chứ không tin. Lần này, họ oanh liệt chứng minh sự phá sản của trò "Đồng thuận Bắc Kinh" và mất cả chì lẫn chài!
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.