Hôm nay,  

Khóc Như Mưa

26/12/201100:00:00(Xem: 12629)
Bùi Tín Viết Riêng Cho VOA, Thứ Sáu, 23 Tháng 12 Năm 2011: Khóc Như Mưa

Bùi Tín
Ông Kim Jong Il chết trên chuyến xe lửa đặc biệt vì cơn đau tim. Cậu con thứ ba Kim Jong Un mới 27 tuổi lên nối ngôi. Theo tiếng Việt, ông «Ủn” nối ngôi ông «Ỉn». Quả thật, hai cha con đều nặng cân, ủn ỉn …
Đây là kiểu cha truyền con nối 3 đời liền trong một triều đình phong kiến cộng sản. Ông, cha và con đều là chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, tổng tư lệnh quân đội.
Đài truyền hình Bình Nhưỡng liên tiếp truyền cảnh người Triều Tiên, già trẻ lớn bé khóc còn hơn cha chết. Người ta khóc thảm thiết, gào thét, gục xuống đất, nức nở, mồm méo xệch, cứ như đua nhau xem ai khóc to nhất, đau đớn nhất, chân thật nhất.
Trên thế giới nhiều báo chí nhận xét, bình luận, hỏi vì sao người Bắc Triều Tiên khóc tập thể thảm thiết đến thế, có thật tự đáy lòng không? Sao lại như một cơn lên đồng lớn, một căn bệnh tâm thần nặng lây lan cực nhanh, khó hiểu cho người ngoài cuộc, người nước ngoài.
Nhớ lại khi ông Hồ Chí Minh chết, dân miền Bắc cũng khóc tập thể thê thảm như thế.
Tố Hữu mô tả: «Người tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...»;
Và khi ông Staline chết, Tố Hữu cũng khóc:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.
Lại còn:
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao!
Vì sao như vậy? Khóc thật hay khóc giả? Bình thường hay lâm bệnh thần kinh? Khác gì những người làm nghề khóc thuê khóc mướn? Cố gào thét lên, cố rặn ra mà khóc ư?
Để góp phần giải đáp những câu hỏi ấy, tôi kể lại dưới đây một vài kinh nghiệm, tai nghe mắt thấy, trên đất Bắc Triều Tiên, từ hồi năm 1987, khi dự Hội nghị các nước không liên kết trong 1 tuần lễ ở Bình Nhưỡng, rồi đi thăm một số địa phương như khu phi quân sự Bàn Môn Điếm, đập nước lớn phía đông và vùng sông Áp Lục.
Phụ nữ Bắc Triều Tiên ở bất cứ đâu khi có mang đến tháng thứ 8 là đại diện chính quyền địa phương, cấp khu phố hay quận, huyện đến thăm tại nhà, làm lễ trao tặng thư và quà của «Lãnh tụ Vĩ đại» gồm có một thùng tã lót, khăn bông, nôi bằng mây hay nhựa, với lời chúc mẹ tròn con vuông.
Đến tuổi nhập học, trước buổi học vỡ lòng đầu tiên khi nhập trường,cũng như mỗi lần khai giảng, đều làm lễ đón nhận quà khai giảng của «Lãnh tụ Vĩ đại», gồm có bút, sách vở, cặp sách và 2 bộ đồng phục bằng vải tốt, lụa màu cho mỗi học sinh và sinh viên.
Khi vào đội Thiếu niên và vào Đoàn Thanh niên Kim Il Sung, các em đều tham dự lễ đón nhận khăn quàng xanh và đỏ do «Lãnh tụ Vĩ đại» ban tặng.
Hệ thống Bảo tàng Kim Il Sung và Phòng Lưu niệm Kim Il Sung là hệ thống to lớn, rộng khắp nhất, gây ấn tướng nhất trên đất Bắc Triều Tiên. Mỗi nhà máy, mỗi xí nghiệp lớn nhỏ, mỗi trường học từ tiểu học đến đại học, mỗi bộ, viện nghiên cứu, mỗi bệnh viện đều có bảo tàng, cho đến mỗi nhà trẻ cũng có phòng lưu niệm ghi rất rõ, rất cụ thể công ơn của «Lãnh tụ Vĩ đại». Tại đó có ảnh phóng cực lớn, tranh, một loạt sách trước tác của ông Kim, mang chữ ký đích thân ông Kim đề tặng và ký tên. Ông Kim đến đâu, đi qua cổng nào, qua con đường nào, ngồi vào chiếc ghế nào, cầm chiếc micrô nào, uống nước ở chén nước, cốc nước nào, cầm chiếc bút nào, nói những gì, gợi ý những gì, nhận xét gì, chỉ thị những gì… thực hiện ra sao, đều ghi rất kỹ, tỷ mỷ trong bảo tàng và phòng lưu niệm. Có nơi như Đại học Kim Il Sung, ông Kim đến 8 lần, đều ghi tỷ mỷ những nội dung và tác động của mỗi lần đến thăm.

Ở mỗi tỉnh, huyện và quận cũng thế. Những thành tựu làm đường mới, xây cầu mới, mở rộng bệnh viện, xây nhà trẻ, trường học, sân vận động, đắp đập, mở rộng diện tích canh tác, thay giống lúa mới… đều ghi công lãnh tụ Kim trong các bảo tàng và nhà lưu niệm Kim Il Sung, cũng như trên sách, báo, trên bia, bảng tuyên truyền ở khắp nơi.
Bức tượng cao nhất thủ đô là tượng đuốc lửa Juche - Tự Chủ - do «Lãnh tụ Vĩ đại» giương cao cho toàn thế giới, ở dưới chân có ghi tên hơn một trăm nước có Câu lạc bộ Juche ở khắp 5 châu, suy tôn ông Kim là lãnh tụ quốc tế chỉ đường cho nhân loại. Bức tượng toàn thân ông Kim cũng là bức tượng bề thế nhất bên sân rộng để hàng ngàn diễn viên có thể nhảy múa dưới chân «Lãnh tụ Vĩ đại».
Trong tâm tưởng, suy nghĩ của người dân Bắc Triều Tiên, từ khi sinh ra đến khi khôn lớn, từ sáng sớm ngủ dậy đến đêm vào giấc ngủ, từ khi ở nhà, đi học, đi làm đâu đâu cũng nghe ra rả về công ơn như trời biển của «Lãnh tụ Vĩ đại». Việc tôn sùng bị điều kiện hóa tuyệt đối đến thế thì khi ông chết, làm sao người ta không khóc thê thảm còn hơn cha mình chết.
Ông Kim Jong Il cũng kế thừa bộ máy tuyên truyền nhồi nhét như thế, cũng là dễ hiểu. Xin chớ hiểu sai rằng họ khóc lóc thảm thê chỉ là giả vờ, là đóng kịch, vì sợ bị đưa đi cải tạo.
Với một số người bị nghi vấn, bị theo dõi, bị ghi vào sổ đen, có thể là thế.
Xin nhớ Bắc Triều Tiên vẫn còn là quốc gia riêng biệt, cô lập với thế giới. Dân thường không ai có hộ chiếu. Nghe đài «địch», xem vô tuyến truyền hình «địch» là tội nặng.
Có những nghịch lý rất kỳ lạ. Dân nghèo nhất, đói nhất, rét nhất, nông thôn có hồi chết la liệt vào rừng đào củ, ăn dun, chuột, dán, châu chấu, lạnh cóng xuống đồng không có ủng, nhưng bộ mặt thủ đô thì tráng lệ, khách sạn cao 104 tầng, vỉa hè sạch bóng hơn cả Singapore, học sinh đi học bằng xe bus, áo quần tơ lụa đủ màu, 6 ngàn nghệ sỹ đồng diễn múa với dàn nhạc 400 cây đàn, đèn chiếu sáng rực, lộng lẫy như cảnh tiên sa.
Trong khách sạn cao cấp, các máy vô tuyến truyền hình Nhật Bản hay Hà Lan đều thay bằng nhãn hiệu Triều Tiên, các xe bus Nhật, Đức, Tiệp Khắc cũng đều mang nhãn Triều Tiên :
Thiên Lý Mã, Juche, Núi Bạch Vân, Thượng Cam Lĩnh …Tôi hỏi thế có vi phạm bản quyền nhà chế tạo không, anh phiên dịch cười nói nhỏ: không đâu, chúng tôi bỏ ngoại tệ ra mua bản quyền rồi. Một kiểu ăn gian ở trong nước, được thuận mua vừa bán, không giống ai.
Thật ra công ơn của lãnh tụ đều là từ ngân sách quốc gia, từ tiền thuế của dân. Tiền mua tã lót, nôi cho trẻ sơ sinh, đến hòm an táng cho người chết đều là của xã hội trả lại cho xã hội, xét cho cùng là «của người phúc ta», nhưng bộ máy tuyên truyền tinh vi ma quái, cực kỳ nham hiểm đã xáo trộn trắng đen, đảo lộn phải trái, biến một chế độ phong kiến cộng sản thối nát cực kỳ lạc hậu thành những vị đại minh quân, những ông hoàng đế thời hiện đại.
Bùi Tín - VOA’s Blog.

Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.