Hôm nay,  

BÊN TRONG KỸ NGHỆ THUỐC TÂY

14/07/201200:00:00(Xem: 112214)
Dược sĩ Nguyễn Ngọc Lan & Bác sĩ Thú Y Nguyễn Thượng Chánh

Đây là một bài tổng hợp các thông tin từ báo chí ngoại quốc nói về mặt trái của kỹ nghệ dược phẩm. Một vấn đề nhạy cảm, tế nhị và rất dễ đụng chạm… nhưng nói có sách mách có chứng.

Ngày nay, thuốc men dính liền với đời sống của chúng ta, tuy vậy ít có người biết được sự thật bên trong của ngành sản xuất dược phẩm là như thế nào.

Người gõt xin tóm lược cái nhìn gay gắt và bi quan của Giáo Sư Jean Claude St-Onge trong tác phẩm Lenvers De La Pilule: «Les dessous de lindustrie pharmaceutique», Edition Écosociété (2004).

«Jean-Claude St-Onge a fait ses études de philosophie à Montréal, à Edmonton et à Aix-en-Provence. Il détient une maỵtrise en philosophie de l'Université de l'Alberta et un doctorat en socioéconomie de lUniversité de Paris. Il a publié La Condition humaine : Aperçu de quelques conceptions de l'être humain aux Éditions Gặtan Morin, ainsi que plusieurs ouvrages aux Éditions Écosociété dont Limposture néolibérale. Marché, liberté et justice sociale, ADQ, voie sans issue (en collaboration avec Pierre Mouterde), et en octobre 2004 L'envers de la pilule: Les dessous de l'industrie pharmaceutique, qui en est rendu à son cinquième tirage. Il a fait paraỵtre de nombreux articles et des études notamment pour le Bulletin dhistoire politique.»
thuoc_tay_sach_ces_medicaments
Bìa sách Gs Sauveur Bourkris.
**Cần phải xem 2 Vidéos sau đây:

1) Les vendeurs de maladies: comment lindustrie pharmaceutique nous manipule (1h31)

Les vendeurs de maladies, est un reportage (1h31) de l'émission Cash Investigation sur ces laboratoires qui inventent des maladies pour vendre toujours plus de médicaments, une enquête qui rassemble les preuves de tels agissements. (đài Tv fr2 Pháp, TV5 Canada)

http://www.inexplique-endebat.com/article-les-vendeurs-de-maladies-comment-l-industrie-pharmaceutique-nous-manipule-104987341.html

2) Les Médicamenteurs: Enquête sur linfluence pharmaceutique (52 phút)

Les Médicamenteurs, est un documentaire (0h52) présenté dans LEmpire des sciences, une enquête sur les pratiques de lindustrie pharmaceutique et du système de santé français, alors que la France détient le triste record du monde de consommation de médicaments.

http://www.inexplique-endebat.com/article-les-medicamenteurs-enquete-sur-l-influence-pharmaceutique-87815446-comments.html

Giáo sư Jean Claude St-Onge đã phát họa ra một hình ảnh không mấy sáng sủa cho ngành kỹ nghệ thuốc tây hay kỹ nghệ dược phẩm.

Đây là tiếng chuông báo động dư luận về sự làm mưa làm gió của một ngành kỹ nghệ có nhiều quyền lực trên thế giới nầy.

Từ nhiều thập niên qua, mọi người đều phải nhìn nhận rằng, đầu tư trong thị trường chứng khoán về dược phẩm chắc chắn là một lối kinh doanh an toàn và rất có lợi.

Thị trường thuốc tây được ước lượng trên 400 tỉ dollars/năm, và nằm trong tay của 15 tài phiệt quốc tế về kỹ nghệ dược phẩm.

Các nhà bào chế quan trọng nhất có mặt tại Montréal là: AstraZeneca, GSK Bio, Merck Frosst, Boerhinger Ingelheim, Johnson & Johnson, Bristol Myers Squibb, Laboratoire Abbott, Pfizer, Wyeth, vân vân.

Thu hồi và cảnh báo không ngớt gia tăng

Gần đây, những sự thu hồi và cảnh báo một số thuốc thông thường đã làm cho người tiêu thụ hơi hoang mang. Họ hoài nghi về phương pháp xét nghiệm tính chất an toàn của một loại thuốc trước khi nó được cơ quan Santé Canada chính thức chấp thuận cho phép bán ra.

Theo Giáo Sư Jean Claude St-Onge, rất nhiều loại dược phẩm đã cho thấy có vấn đề trước khi chúng được cho phép bán ra!

Các loại thuốc chống viêm sưng anti-inflammatoires non stéroidiens (AINS) là những thuốc được bác sĩ kê toa nhiều nhất để trị viêm khớp, đau lưng, đau lúc hành kinh, vân vân.

Đây là những loại thuốc quá phổ thông, cho nên chúng ta thường có ý nghĩ là chúng rất an toàn. Nhưng thực tế lại khác hẳn!
thuoc_tay_bao_humanite
Báo Humanité Janvier 2010.
Trong những năm 1990, người ta ước đoán là có vào khoảng từ 3.000 đến 4.000 tử vong liên quan đến nhóm thuốc AINS tại Anh Quốc. Cũng trong thời điểm nầy, sự tiêu thụ thuốc AINS tại Hoa Kỳ đã làm cho 70.000 người phải nằm bệnh viện, và trong số đó có 7.000 người chết...

Và AINS lại nằm trong nhóm thuốc thường bị thu hồi nhiều hơn hết!

Các nhóm thuốc khác cũng nằm trong danh sách bị thu hồi là: thuốc kháng sinh, thuốc chống đau nhức (antalgiques) và thuốc trị trầm cảm (antidépresseurs).

Canada đứng hạng thứ 7 về thị trường thuốc men trên thế giới.

Mỗi năm, kỹ nghệ dược phẩm đã sử dụng trên 1.300 người như cobayes để tests cho các loại thuốc mới.

Cũng theo Giáo sư St-Onge, đây chẳng qua là một lối khuyến mại trá hình, nhằm mục đích khuyến khích bác sĩ kê toa cho một loại thuốc mới, dĩ nhiên là bác sĩ sẽ được đền ơn hậu hĩ bằng nhiều cách...

Và sau đó là người bệnh sẽ phải tiêu thụ loại thuốc nầy trong nhiều năm liền kế tiếp.

Nhưng phần lớn thì các tests thường chỉ được thực hiện trên lớp người trẻ tuổi, là lớp người mà các phản ứng phụ bất lợi của thuốc khó có thể xảy ra.

Còn phụ nữ trong lớp tuổi sinh sản cũng như trẻ em nhỏ tuổi và các cụ già, tuy rằng họ là lớp người sẽ phải sử dụng thuốc nói trên trong tương lai, nhưng họ lại bị…loại ra khỏi nhóm cobayes thí nghiệm (vì trong thực tế, các phản ứng phụ lại thường hay xảy ra ở những lớp người vừa kể trên).

Tất cả các tests lâm sàng (essais cliniques) thường được sắp xếp và tổ chức sao cho có kết quả thuận lợi như sự mong đợi của kỹ nghệ dược phẩm.

Tạp chí New England Journal of Medicine cho biết, trong quá khứ có nhiều trường hợp mà kết quả thí nghiệm lâm sàng đã được sắp xếp xào nấu lại từ trước để có thể cho ra một kết quả như ý muốn của các nhà sản xuất.

Nói trắng ra, là phải làm nổi bật hoặc tô đậm lên những đặc điểm tốt của món thuốc, và lờ đi những phản ứng phụ bất lợi, hoặc bỏ đi những kết quả xấu có được từ các kết quả của thử nghiệm lâm sàng.

Vì tiền hay vì sức khỏe của nhân loại?

Tại Québec, công ty Anapharm, một chi nhánh của SFBC International, chuyên đảm trách tất cả các giai đoạn thử thuốc trước khi đệ nạp hồ sơ lên Santé Canada để được duyệt xét và tung món thuốc đó ra thị trường.

Anapharm thường đăng quảng cáo tuyển dụng tìm người vào nhóm thử thuốc, hay nói rõ ra là làm cobayes cho họ, lẽ dĩ nhiên là những người nầy đều được nhận tiền thù lao, ít thì đôi ba trăm đô, còn nhiều thì có thể lên đến 3.000 – 4.000$ cho một vụ... Giá càng cao thì mức độ nguy hiểm cho sức khỏe càng nhiều. Có nguy hiểm hay không? Thì chỉ có các nhà chuyên môn của Anapharm mới biết được mà thôi.

Trong quá khứ cũng đã từng xảy ra vài tai nạn cho cobayes rồi.

Anapharm thì cam đoan và bảo đảm các phương pháp thí nghiệm của họ rất khoa học, rất an toàn và chả cần phải lo lắng chi cả.

Đây là điều cũng dễ hiểu mà thôi!

Anapharm làm việc cho kỹ nghệ dược phẩm. Tất cả các quy trình, nghi thức thí nghiệm, tests lâm sàng đều do Anapharm qui hoạch, và phải thực hiện như thế nào để cho có được kết quả “hoàn hảo” như sự mong đợi của công ty dược phẩm sẽ sản xuất ra món thuốc đó.

Tout ce que l'on ne vous dit pas sur les médicaments (tất cả những gì người ta không nói cho bạn nghe về duợc phẩm)

http://www.lexpress.fr/actualite/sciences/sante/tout-ce-que-l-on-ne-vous-dit-pas-sur-les-medicaments_764792.htm

Sauveur Boukris est médecin généraliste.

Enseignant à Paris, il participe à de nombreuses émissions de radio et de télévision sur les questions de santé. Il est l'auteur de plusieurs livres médicaux dont "Santé: la démolition programmée" aux Editions du Cherche Midi.

Câu chuyện về thuốc Vioxx và Paxil

*/ Vioxx, thuốc chống đau nhức thuộc nhóm AINS được nhà bào chế Merck tung ra thị trường năm 1999 để mong cạnh tranh với thuốc Celebrex của Pfizer.

Trong lúc làm thí nghiệm lâm sàng, Vioxx cho thấy có nhiều phản ứng phụ rất quan trọng ở một số nhỏ bệnh nhân, nhưng người ta vẫn cứ lờ đi.

Với một ngân sách khuyến mãi trên 500 triệu dollars, Vioxx được quảng cáo như là một sản phẩm cách mạng.

Hậu quả là có từ 88.000 đến 130.000 bệnh nhân sử dụng Vioxx bị vấn đề về tim, trong số nầy có từ 30% - 40% có thể nguy đến tính mạng.

Vioxx sau đó bị cấm bán từ năm 2004!

*/ Paxil, thuốc trị trầm cảm của nhà bào chế Glaxo.

Tạp chí Journal de lAssociation Médicale Canadienne đã có được một tài liệu nội bộ của Glaxo, là chỉ thị nhân viên trách nhiệm của họ phải cất giữ nghiêm nhặt các tài liệu đã nghiên cứu cho thấy Paxil chẳng có ích lợi gì cho giới thiếu niên cả.

Được biết có trên 3 triệu trẻ em sử dụng Paxil tại Canada!

*/ Tin mới nhất ngày 2 July/2012 Paxil chấp thuận trả tiền phạt 3 tỷ $ về các tội gian dối liên quan đến các thuốc Paxil, Wellbutrin và Avandia.

2 July 2012

GlaxoSmithKline Plc (GSK) agreed to plead guilty and pay $3 billion to resolve criminal and civil allegations that it illegally promoted prescription drugs and failed to report safety data, the U.S. said.

In what has been referred to as being the largest health care fraud settlement in United States history, the pharmaceutical manufacturer GlaxoSmithKline, LLC, pleaded guilty to the illegal marketing and promoting of certain drugs and failure to report safety data, and has agreed to pay to pay $3 billion in criminal fines.

In a press statement released by the Department of Justice, it was announced that the GlaxoSmithKline (GSK) agreed to plead guilty to a “three-count criminal information”, including paying $1 billion for illegally marketing the drugs Paxil and Wellbutrin for uses that had not been approved by the Food and Drug Administration (FDA), as well as failing to report medical data to the FDA about the drug Avandia.

The Department of Justice also reported that GSK will also pay out $2 billion to resolve civil accusations that the drug manufacturing giant submitted false claims to federal health care programmes for various drugs as a result of GSKs illegal marketing strategies and payments to doctors. (1).
http://www.topsecretwriters.com/2012/07/glaxosmithkline-held-accountable-for-fraud-%E2%80%93-pays-billions-in-settlement/

Video: Công ty GSK(Glaxo) chịu bồi thường 1.1 tỷ $ về vụ Paxil
http://www.droitshumains.ca/nouvelles/paxil-lavocate-qui-fait-trembler-gsk-glaxo/

Comment GSK (Glaxo) a d payer 1.1$ milliards en poursuites, uniquement au sujet du Paxil (Deroxat)

Lavocate Karen Barth Menzies, qui représente des victimes deffets secondaires de médicaments psychiatriques et qui a été depuis 10 ans au coeur de poursuites majeures contre de grosses compagnies pharmaceutiques telles que GlaxoSmithKline, Pfizer et Eli Lilly raconte les détails de laffaire.

Công ty Merck còn bị rắc rối về thuốc Fosamax trị loãng xương (osteoporosis) ở các bà sau thời mãn kinh. Thuốc có thể gây biến chứng mục xương hàm (osteonecrosis).

Les biphosphonates, qui inhibent les ostéoclastes, allègent un grand nombre des conséquences dévastatrices de la maladie osseuse métastatique. Toutefois, ils peuvent jouer un rôle dans lapparition de lostéonécrose des mâchoires

Osteonecrosis of the Maxilla in a Patient witha History of Bisphosphonate Therapy
http://www.cda-adc.ca/jadc/vol-71/issue-2/111.pdf

Video: GENERAL HOSPITAL STAR HAS JAW REMOVED AS A RESULT OF FOSAMAX USE (giải phẫu bỏ hàm vì đã uống thuốc trị loãng xương Fosamax)
http://www.levinlaw.com/practice-areas/fosamax-lawsuit

Vấn đề duyệt xét một loại thuốc mới

Tại Canada, ngược lại với Hoa Kỳ, phương cách duyệt xét (homologation) dược phẩm do Santé Canada thực hiện trong phòng kín với lý do để bảo mật thương mại.

Không một ai có quyền biết được chi tiết của biên bản của ủy ban duyệt xét.

Bí mật hoàn toàn!

Chỉ sau khi một món thuốc được chấp nhận, nhà bào chế mới cho in một tờ chỉ dẫn trong đó có tóm tắt những ích lợi của món thuốc, những điều cấm kỵ, phản ứng phụ, sự nguy hiểm cũng như liều lượng sử dụng, v.v...

Vấn đề khó nghĩ ở đây là một phần ngân sách điều hành của ủy ban duyệt xét dược phẩm của nhà nước đều do kỹ nghệ dược phẩm tài trợ, thí dụ như trong năm 2003-2004 là 40,7 triệu dollars.

Ngoài ra, những nghi vấn về vấn đề lem nhem có thể xảy ra giữa giới chức cao cấp trách nhiệm duyệt xét thuốc và giới kỹ nghệ dược phẩm đôi khi cũng được xầm xì trong dân chúng.

Tại Québec, để khuyến khích và thu hút các nhà kỹ nghệ dược phẩm, chính phủ (tỉnh bang và liên bang) cho giới nầy được hưởng những đặc miễn thuế vụ (crédit dimpôt) rất hậu hĩ... Cứ 100$ bỏ ra đầu tư trong khảo cứu và phát triển thì có 80,50$ được miễn thuế.

Mặc dù có những đặc ân như vậy, nhưng kỹ nghệ dược phẩm vẫn tự cho phép mình cái quyền được tăng giá thuốc cao vút theo ý họ muốn. Giá bán của món thuốc không căn cứ trên sở phí thật sự (coũt réel) của việc khảo cứu, mà được ấn định trên giá trị món thuốc có thể phòng hay trị được một bệnh tật nào đó.

(…le prix des médicaments nest pas déterminé par les coũts réels de la recherche, mais par la valeur quils ont en matière de prévention et de traitement de la maladie...) Raymond Gilmartin, PDG de Merck.

Trong quá khứ, đã có nhiều ủy ban điều tra Canada cho biết là có vài loại thuốc được bán ra với gíá đắt cả vài trăm lần hơn giá vốn sản xuất, chẳng hạn như 1mg Vincristine, một loại thuốc đặc trị cancer máu (leucémie), bán cả chục lần đắt hơn tại Peru so với Amsterdam/Hòa Lan.

Thay tên thuốc đổi tên bệnh

Năm 1987 và 1994, theo tài liệu của Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, có thể ví như là một loại thánh kinh của các bác sĩ tâm thần ở Hoa kỳ, đã cho bổ sung thêm 77 loại bệnh tâm thần mới...

Để có thể làm được việc nầy, họ chỉ cần thay đổi lại định nghĩa của một số bệnh mà thôi!

Ngày nay, chỉ cần có một cảm giác lạ nào đó là bị gán ngay cho một loại bệnh và dĩ nhiên mỗi loại bệnh thì phải có một loại thuốc riêng để trị.

Thí dụ một vài vấn đề và được định bệnh như sau:

-/ Tính e thẹn nhút nhát (timidité) được gán cho là bệnh sợ xã hội, bệnh sợ đông người (phobie sociale);

-/ Cháu bé bị ọc sữa tự nhiên (naturelle régurgitation) đã trở thành bệnh trào ngược thực quản (reflux oesophagien pathologique);

-/ Bị stress buồn chán vì...vé số trật và trở thành bệnh traumatisme du billet perdant;

-/ Lo âu (anxiété);

-/ Hội chứng tiền kinh nguyệt (syndrome prémenstruel);

-/ Tình trạng áp huyết hơi cao một tí (préhypertension);

-/ Tình trạng thoái hóa tự nhiên của não bộ vì tuổi già (sénescence naturelle);

-/ Những bệnh đàn bà thí dụ như: Phụ nữ mãn kinh và hormone trị liệu (ménopause et hormonothérapie) - Viễn ảnh của tình trạng loãng xương (ostéoporose) - Tình trạng lạnh cảm của các bà (dysfonction sexuelle chez les femmes)…


Chỉ riêng vấn đề chót nầy, nếu các bà chỉ cần trả lời yes cho 1 câu trong số các câu hỏi dưới đây thì kể như đã bị bệnh rồi:

Các câu hỏi có thể là: -1) Năm rồi bà có cảm thấy tình trạng mất hứng xảy ra trong thời gian 2 tháng hoặc lâu hơn hay không? -2) Có giảm ham muốn tình dục libido không? -3) Có lo sợ bà không đạt được thành tích với ông xã? -4)Tình trạng lá đa khó trơn difficultés de lubrification? v.v…(Journal of the American Medical Association, 1991).

Giáo sư Jean Claude St-Onge còn cho biết, chỉ có từ 3% đến 8% thuốc mới tung ra thị trường mới thật sự được xem như là một tiến bộ trong vấn đề trị liệu mà thôi.

Các thuốc còn lại thường chỉ là thuốc nhái lại của những thuốc cũ đã có từ trước.

Quảng cáo đáng nghi ngờ

-/ Có quảng cáo về giai đoạn mãn kinh của các bà, cho thấy như là một sự suy giảm hormone cần phải được trị liệu để cải thiện cuộc sống được tốt đẹp hơn và để mình cảm thấy mình là phụ nữ féminine hơn nữa (?)

-/ Có quảng cáo về thuốc an thần anxiolytique, cho thấy một thiếu nữ bước vào ngưỡng cửa đại học với câu: «Tất cả một thế giới mới…lo âu đang mở rộng phía trước» (?)

-/ Có quảng cáo làm cho người tiêu thụ nghĩ rằng, nếu họ mua thuốc nầy thì họ sẽ mua được tuổi trẻ cũng như sắc đẹp và luôn cả sự cường tráng về tình dục nữa (?)

Hình ảnh mặt trái của kỹ nghệ thuốc tây

+ Tự cho rằng mình là người tiên phuông sáng tạo ra thuốc mới. Nhưng thật sự, «thuốc mới» là những copies hơi thay đổi của những thuốc đã có từ trước;

+ Hướng dẫn dư luận để làm lùi bước chính phủ khi quyết định của nhà nước có vẻ bất lợi cho kỹ nghệ dược phẩm;

+ Sẵn sàng chi ra những số tiền khổng lồ để quảng cáo cho một loại thuốc mới;

+ Tung ra những thông tin đáng nghi ngờ nhằm thuyết phục công chúng tiêu thụ thêm thuốc;

+ Khuyến mại một sản phẩm mà họ biết chắc chắn là nó không có hiệu quả (hoặc chỉ có rất ít hiệu quả) so với các thuốc khác;

+ Hủy bỏ các kết quả thí nghiệm gây bất lợi cho họ, bằng không thì cũng tìm cách giảm thiểu tác động của các phản ứng phụ của món thuốc đang được xét nghiệm.

Hù cho thiên hạ sợ: phải chăng là một mánh khóe khuyến mãi?

Edouard Reinach - «Le marketing de la peur»
http://www.lorgane.org/Contenu/Archives/2007/volume-3/les-maladies-modernes/article/le-marketing-de-la-peur

Theo tác giả E.Reinach, thì trước khi sáng chế ra một loại thuốc mới, công ty dược phẩm đã sử dụng nhiều kỹ thuật như làm thay đổi những ngạch mức (seuil) cho phép, tăng cường thêm các thí nghiệm labo, tăng cường thêm các tests xét nghiệm, vân vân.

Mục đích chính là để làm cho người ta thấy mình bệnh và cần phải uống thuốc.

Thí dụ: bên Pháp trước kia hàm lượng cholestérol có thể chấp nhận là 260mg/dl, nay thì họ cho kéo nó xuống còn 200mg/dl.

Các labo cho biết là mỗi một test xét nghiệm như thế hình như đã làm tăng thêm 5% số người trong diện nguy hiểm (à risque) đối với một loại bệnh nào đó, nên số thuốc tiêu thụ nhờ vậy mà cũng được tăng thêm lên.

Theo David Healy, tiến sĩ tâm lý học thì việc hù thiên hạ làm cho họ sợ bị bệnh là mánh khóe marketing rất hữu hiệu... Đó là trường hợp các bệnh rối loạn tâm thần, như rối loạn lưỡng cực trouble bipolaire, bệnh hưng trầm cảm maniaco dépressive...

Theo Dr Joel Lexchin, kỹ nghệ dược phẩm thường hay cho…xác định lại ranh giới giữa tình trạng bệnh và tình trạng sức khỏe bình thường!

Thí dụ như Labo Pfizer cho định nghĩa lại vấn đề rối loạn cương dương ở các cụ nình ông với mục đích là để bán Viagra... Thằng nhỏ khó dạy, thì đi lấy toa mua Viagra về mà uống (chỉ có 15$/1 viên).

Lifestyle drugs: issues for debate (thuốc phục vụ đời sống: Viagra, thuốc trị mập, trị sói đầu)

Joel Lexchin

Dr. Lexchin is with the Emergency Department at the Toronto Hospital and is an Associate Professor, Department of Family and Community Medicine, University of Toronto, Toronto, Ont.

The past few years have witnessed the release of a number of highly publicized "lifestyle" drugs, such as sildenafil (Viagra ) for male erectile dysfunction and orlistat for obesity. Other products have had their indications extended to include situations that usually come under the rubric "lifestyle"; for example, finasteride may now be prescribed for male pattern baldness. The appearance of these new products and the new uses for established drugs have raised a series of issues for physicians, for the health care system in terms of priorities for drug expenditures and for society in general.

http://www.cmaj.ca/cgi/content/full/164/10/1449

Trớ trêu thay, thuốc mới để trị bệnh mới thì cũng kéo theo phản ứng phụ mới, gây ra một thứ bệnh mới khác, và rồi cũng lại phải cần thêm thuốc trị bệnh mới khác nữa.

Rõ ràng là một cái vòng lẩn quẩn!

Video: Cash investigation, đài TV fr 2: les vendeurs de maladie (extrait): Acomplia-thuốc thần trị hội chứng biến dưỡng (syndrome métabolique): mập bụng, cholestérol, tiểu đường, cao máu…
http://www.dailymotion.com/video/xqen0y_cash-investigation-les-vendeurs-de-maladie-extrait_tv

Le syndrome métabolique, aussi appelé syndrome X, nest pas une maladie en soi. Il désigne plutôt la présence dun ensemble de signes physiologiques qui accroissent le risque dediabète de type 2, de maladies cardiaques et daccident vasculaire cérébral.

Để xác định hội chứng biến dưỡng, bạn cần phải có ba điểm trong số các dấu hiệu sau đây:

- Đường huyết: lúc bụng đói phải bằng hoặc cao hơn 6,1mmol/L;

- Mập bụng: vòng bụng đo nơi rún trên 102cm nếu là đàn ông và trên 88cm nếu là đàn bà;

- Hàm lượng Triglycerides: trong máu lúc bụng đói bằng hay trên 1,7mmol/L;

- Hàm lượng HDL (cholesterol tốt): thấp hơn 1,0 mmol/L ở đàn ông và dưới 1,3 mmol/L ở đàn bà;

- Huyết áp động mạch: bằng hay cao hơn 130/85.

Video: Scandal về thuốc trị tiểu đường Mediator bên Pháp, có 1300 người chết vì phản ứng phụ

Laffaire Médiator: retour sur 18 mois de scandale
http://www.lemonde.fr/sante/article/2012/05/14/l-affaire-mediator-retour-sur-18-mois-de-scandale_1700773_1651302.html
Tao là sếp sòng

Nancy Olivieri, một nữ bác sĩ tài ba chuyên về nhi khoa tại bệnh viện nhi đồng Toronto Canada. Bệnh nhân của bác sĩ là những cháu bé đang nằm điều trị một căn bệnh di truyền thuộc về máu có tên là Thalassémie.

Đó là vào năm 1993. Thuở đó, có một phân tử có tên là défériprone vừa được các nhà bác học tìm ra dùng để trị bệnh Thalassémie. Bác sĩ Olivieri liền ký với công ty dược phẩm Apotex Research Inc. một nghi thức protocole nghiên cứu về loại thuốc vừa nêu trên.

Sau một vài thí nghiệm lâm sàng, bác sĩ thấy kết quả có vẻ khích lệ, nhưng đồng thời bác sĩ Olivieri cũng lo sợ tác dụng phụ của thuốc có thể làm cho gan bị xơ hóa (fibrose hépatique).

Là một nhà khoa học có lương tâm, bác sĩ Olivieri liền báo cáo sự kiện trên cho các các cấp chỉ huy của bà ta...

Lập tức, Apotex Research Inc. chấm dứt ngay hợp đồng nghiên cứu của bác sĩ Olivieri, và họ cho chuyển protocole nghiên cứu được tiếp tục tại một nơi khác mà chẳng màng tới lời cảnh báo của bác sĩ Olivieri...

Apotex Research Inc. còn hăm he sẽ lôi bà ta ra toà nếu bà ta không tôn trọng thỏa ước bảo mật confidentialité đã ký trước đó. Bất chấp lời đe dọa, bác sĩ Olivieri đã đem trình bày kết quả nghiên cứu của mình trước một cuộc hội thảo về y khoa.

Hậu quả là bà ta phải trả một giá rất đắt!

Trong 6 năm liền sau đó, không biết có bao nhiêu trận chiến pháp lý đã làm bà ta vô cùng khốn đốn, và đồng thời cũng gây sự chú ý của các nhà khoa học khắp mọi nơi trên thế giới... Đau xót và chua cay nhất là trong cơn hoạn nạn nầy, bác sĩ Olivieri bị cấp chỉ huy hành chánh của bệnh viện Toronto bỏ rơi. Họ từ chối việc bênh vực và bào chữa cho bà. Lý do thầm kín là bệnh viện nhi đồng nầy là một chi nhánh của đại học Toronto, và đại học nổi tiếng nầy thì đang chờ đón để nhận món quà béo bỡ $20 triệu của Apotex Research Inc. để xây cất một giảng đường mới.

Sự hỗ trợ tinh thần duy nhất mà bác sĩ Olivieri nhận được lại đến từ…Hiệp hội các Giáo-Sư Đại Học.

Buồn thay cho số phận của một bác sĩ có lương-tâm!

Một vài con số tại Pháp

(theo tài liệu Le Nouvel Observateur «Big Pharma en 6 chiffres» page 44, no 25 fev-3 mars 2010)

- Đối với kỹ nghệ dược phẩm, mỗi một công dân Pháp tượng trưng cho 284 euros thương vụ về thuốc men;

- 96% thuốc men giới thiệu bởi các công ty dược phẩm năm 2008 không cải thiện được sức khỏe;

- Tại Pháp, 1/5 số nhân viên của kỹ nghệ dược phẩm là những trình dược viên (visiteurs médicaux);

- Mỗi năm, các bác sĩ gia đình (généralistes) tiếp trung bình 333 lần viếng chào hàng của trình dược viên;

- Kỹ nghệ dược phẩm chi tiêu 24,4% thương vụ vào việc khuyến mãi so với 13,4% dùng cho việc khảo cứu;

- Một bác sĩ có thể làm cố vấn cho một nhà bào chế với tính cách hảo ý (gracieusement) hoặc được nhận 600.000 euros tiền thù lao.

Kỹ nghệ thuốc tây và đại dịch cúm toàn cầu A(H1N1)

Kỹ nghệ dược phẩm đã trúng được một vố quá to!

Báo LHumanité tháng Janvier 2010 có đăng bài: Grippe A: «Ils ont organisé la psychose» (Cúm A: Họ đã tạo ra tình trạng tẩu hỏa nhập ma), tố cáo sự cấu kết giữa kỹ nghệ dược phẩm, Tổ chức Y tế Thế giới OMS và các ủy ban chuyên môn về dịch tể học của các cường quốc Âu Mỹ trong biến cố dịch cúm A(H1N1) năm 2009.

Xin các bạn xem link sau đây :
http://jcoutant.over-blog.com/article-grippe-a-ils-ont-organise-la-psychose--42576083.html

Bác sĩ Wolfgang Wodarg là một nhà dịch tể học épidémiologiste, đã được ủy ban Y tế Âu Châu đề cử để làm sáng tỏ vấn đề lem nhem trong việc chủng ngừa cúm A(H1N1) vừa qua.

Ông ta cho biết, đây là một âm mưu có tính toán trước giữa kỹ nghệ dược phẩm và Tổ chức Y tế Thế giới OMS, mà bác sĩ Margaret Chan là Chủ tịch...

Klaur Stohr, giám đốc Bộ phận Dịch tể học của OMS, trong thời điểm dịch cúm gà H5N1, đã đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch dự trù ban bố tình trạng pandemy.

Sau đó, ông ta nhảy qua đầu quân cho công ty dược phẩm Novartis.

OMS có 2 ủy ban cố vấn về dịch cúm heo: Groupe H1N1 và SAGE (Strategic Advisory Group of Experts).

Albert Osterhaus vừa là cố vấn cho bộ Y tế Hòa Lan vừa là thành viên của Group H1N1 thuộc OMS. Chính ông ta là chủ chốt tiên đoán ra những con số tử vong phóng đại trong trường hợp xảy ra pandemy. Được biết ông ta còn nắm 10% cổ phần của nhà bào chế Viroclinics Bioscience, chuyên cung cấp dịch vụ cho các labo sản xuất vaccin cúm.

Đây đúng là một trường hợp conflict of interest (xung khắc về quyền lợi).

Bạn ông ta là M.Eskola, một thành viên SAGE của OMS cũng nhận được tài trợ khảo cứu 6,3 triệu euros từ labo GlaxoSmithKline (nhà sàn xuất vaccin H1N1 Pandemrix).

Trong các ủy ban cố vấn chuyên môn (conseillers experts) về dịch cúm A(H1N1) cho các chánh phủ của nhiều quốc gia, thì cũng lòi ra rất nhiều người có liên hệ mật thiết về quyền lợi với các đại tài phiệt dược phẩm.

Khi dịch cúm heo A(H1N1) vừa mới bộc phát tại Mexico vào tháng năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới đã nghĩ đến kế hoạch chủng ngừa đại trà (vaccination de masse) trên thế giới một khi trường hợp họ bắt buộc phải tuyên bố pandemy.

Từ năm 2006 lúc dịch cúm gà H5N1 đang tung hoành Á Châu, thì Hoa Kỳ đã lo xa nên ký thỏa thuận ngầm với nhiều công ty dược phẩm cho phép họ sản xuất ngay lập tức vaccin cúm khi tình trạng pandemy được OMS ban bố ra.

Báo Nouvel Observateur số 25 février 2010 cho biết vào tháng 5/2009, OMS đã cho sửa lại định nghĩa của pandemy như sau «Đại dịch cúm toàn cầu hay pandemy được xác định khi có sự xuất hiện của loại virus mới mà dân chúng chưa có được miễn nhiễm.»

Theo định nghĩa mới nầy, thì kỳ lạ thay, số tử vong và số người nhiễm bệnh không được OMS quan tâm đến.

Courant mai 2009, l'OMS change sa définition : "Une pandémie de grippe se caractérise par l'apparition d'un nouveau virus de la grippe contre lequel la population humaine n'est pas immunisée." L'allusion au "nombre énorme de morts et de malades" a étrangement disparu.

Faut-il croire les experts? Le Nouvel Observateur Sem du 25 fev au 03 mars 2010
http://hebdo.nouvelobs.com/hebdo/parution/p2364/articles/a419859-.html

Lúc bấy giờ, 12 nước trong đó có Anh Quốc và Trung Quốc là những quốc gia đã cực lực phản đối việc thay đổi định nghĩa pandemy, nhưng OMS cũng lờ đi.

Juillet 2009, bác sĩ Thomas Jefferson, một nhà dịch tể học lỗi lạc của Anh Quốc đã tuyên bố trong tờ tuần báo Đức Der Spiegel:

«Quyết định của OMS được thúc đẩy bởi lý do tiền bạc, và cho thấy có việc xào nấu lại sự kiện nhằm tạo nên tình trạng lo sợ trong dân chúng.

Rất rõ ràng là OMS đã cố tình đơn giản hóa cái định nghĩa pandemy một thời gian không lâu trước khi đại dịch cúm toàn cầu xuất hiện ra. Người ta có cảm tưởng là kỹ nghệ dược phẩm chỉ chờ có ngày đó mà thôi.»

Kết luận

Thực tế cho thấy kỹ nghệ dược phẩm len lỏi và có mặt hầu như ở khắp mọi nơi.

Họ tung tiền không tiếc để tài trợ cho các công trình khảo cứu khoa học, cũng như các buổi hội thảo, các khóa tu nghiệp formations continues hay conférences hoặc séminaires chuyên môn cho các bác sĩ và dược sĩ, đôi khi còn kèm theo quà cáp nầy nọ nữa, vân vân.

Họ có mặt trong các đại học y nha dược, trong các trung tâm khảo cứu, trong các bệnh viện, cũng như trong các phòng mạch và trong các dược phòng...

Họ cấp học bổng, phát giải thưởng bằng hiện kim cho các sinh viên dược khoa ưu tú.

Đôi khi, họ còn cài người vào nắm giữ các chức vụ then chốt trong các guồng máy của chánh phủ như Bộ y tế, Health Canada, FDA, v.v...

Nhưng quan trọng và đáng ngại hơn hết, là họ cũng có mặt luôn cả trong cơ quan trách nhiệm trông coi sức khỏe cho cả nhân loại, đó là Tổ chức Y tế Thế giới OMS thuộc Liên Hiệp Quốc.

Nói tóm lại, chung qui cũng chỉ vì tiền và tiền $$$ mà thôi!

Tham khảo:

- Marie-eve Cormier. Dorer la pilule 13/1/2005
http://www.voir.ca/publishing/article.aspx?zone=1&section=11&article=34414

- Chartrand St Louis. Lenvers de la pilule (JC St Onge) 23/5/2007
http://portailalbert.info/article.php3?id_article=545

- Claire Favre. Les dérivés de lindustrie de la santé (JC St Onge) 29/10/2007
http://portailalbert.info/article.php3?id_article=545

- JC St Onge. Lenvers de la pilule, mythes et réalités 13/6/05
http://portailalbert.info/article.php3?id_article=545

- Dược sĩ Nguyễn Ngọc Lan & Bác sĩ Thú y Nguyễn Thượng Chánh. Thuốc men những điều mà họ không dám nói ra. Vietbáo. Online
http://vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=149923

- Protégez Vous, Mars 2010. LOMS au banc des accusés
http://www.protegez-vous.ca/sante-et-alimentation/grippe-h1n1-scandale/grippe-a-h1n1-critiques-et-doutes.html

Montreal, 2012

Sự thất thường từ Washington đang khiến bao đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ phải tính kế "tự lực cánh sinh." Từ Âu Châu sang Trung Đông, các nước đã bắt đầu tìm thêm nguồn vũ khí, dựng nên những hệ thống phòng thủ riêng, kết thân cùng những đối tác mới, chẳng còn một lòng một dạ với Hoa Kỳ như thuở trước.
Từ ngày Tô Lâm lên ngôi Tổng Bí Thư Đảng CSVN và sau đó Chủ tịch nước, thì chế độ công an trị ngày càng khắc nghiệt. Người dân phản biện chế độ bị truy tố thường xuyên hơn và gần đây nhất, cái gọi là công an nhân dân còn được cả quyền công khai chui vào gầm giường của mỗi người dân để bảo vệ chế độ nữa.
Với tôi, Trump chính là liều thuốc thử màu hiệu nghiệm nhất để nhìn rõ tư cách trí thức của những thành phần tinh hoa và học thuật Việt Nam. Phẩm chất tinh hoa không cho phép họ đầu hàng trước những trò mỵ dân bịp bợm. Tư cách học thuật không cho phép họ ngã lòng trước những nhà chính trị dân túy. Và tư cách trí thức không cho phép họ ủng hộ một kẻ vô sỉ, vô đạo đức và phản trí thức như viên tổng thống thứ 47 của nước Mỹ!
Từ tháng Hai đến tháng Sáu, Trung Hoa đã cắt giảm phân nửa lượng dầu thô nhập cảng, tức 5,5 triệu thùng mỗi ngày — theo giới chuyên gia, con số này đủ sức kéo giá dầu Brent, chuẩn mực của thị trường thế giới, xuống chừng 30 Mỹ kim hay hơn nữa. Con số ấy còn lớn hơn phân nửa mức sút giảm nhu cầu dầu toàn cầu thời phong tỏa vì đại dịch Vũ Hán, khi ấy nhu cầu thế giới sụt tới 9 triệu thùng/ngày. Và trái với thời đại dịch — khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái — kinh tế Trung Hoa lần này vẫn chạy đều đặn. Nói cách khác, Bắc Kinh giảm mua dầu ngoại quốc không phải vì kinh tế lâm nguy, mà là một sự lựa chọn có tính toán và kiểm soát.
Sự tích diễn ra tại pháp hội ở núi Linh Thứu (Gridhrakuta, Ấn Độ.) - Giữa đại chúng, Đức Phật không thuyết pháp bằng lời mà chỉ im lặng cầm lên một cành hoa sen. Hàng ngàn đệ tử ngơ ngác, không ai hiểu được ý nghĩa ẩn sâu sau hành động ấy. Khi đó, duy nhất Tôn giả Ca Diếp thấu hiểu sâu sắc, và mỉm cười. Một cành hoa đưa lên và thông điệp giác ngộ được đón nhận bằng nụ cười. Không cần nói. Không cần thuyết giảng. Không cần tranh luận. Im lặng, ngắm hoa, và mỉm cười. Ngẫm nghĩ sâu hơn, câu chuyện này có thể áp dụng trong đời trần với nhiều góc cạnh khác nhau. Sự im lặng của Bác Sĩ Anthony Fauci ngày 29/7 vừa qua cũng là một cách áp dụng tư duy này. Chỉ là nó được bao bọc bởi lớp áo pháp lý, Tu Chính Án Thứ 5.
Luận điểm chính của bài viết là, để đáp ứng trước tình hình biến chuyển, Việt Nam đang đi theo một đường hướng mới trong việc xây dựng đất nước, đặc biệt nhất là nêu cao vai trò đóng góp to lớn của nền kinh tế tư nhân, trong khi các doanh nghiệp quốc doanh không thành công trong các nỗ lực tái cấu trúc...
Vào tối ngày 24/7/2026, khách sạn Waldorf Astoria ở Washington, D.C. trở thành rạp xiếc vĩ đại nhất thế giới. White House Correspondents' Dinner (WHCD) lần hai được tạo ra đúng với bản chất của rạp thủ đô: an ninh thắt chặt, trang phục đen trang trọng, và nhân vật chính xuất hiện trong kịch bản ai cũng biết trước. Ngay cả theo những tiêu chuẩn đã quen thuộc nhất, sự xuất hiện và màn trình diễn của Donald Trump tại bữa tiệc WHCD tối thứ Sáu vừa qua vẫn vượt mức kỳ lạ. Chính Trump cũng tự nhận: "Đây không phải là một buổi tối dễ chịu gì, với tất cả những giải thưởng đó. Tôi có được quyền lên tiếng không?" Nối tiếp sau đó là những lời lăng mạ, dối trá, những nỗ lực pha trò thấp kém, nhạt nhẽo, nhạt như món tráng miệng dành cho người ăn
*** Khi bài viết này vừa hoàn thành, Ngũ Giác Đài đã cập nhật lại dữ liệu về thương vong trong chiến tranh, ghi nhận thêm hơn 140 trường hợp bị thương và trả về tên của bốn binh sĩ tử trận do các cuộc tấn công của Iran vào tuần trước. Tuy nhiên, Ngũ Giác Đài không cho họ chết trong chiến dịch Operation Epic Fury – tức cuộc chiến Iran do Trump khởi xướng – mà thay vào đó là một hạng mục mới có tên “Overseas Operations” áp dụng từ ngày 7/7. Sửa chữa cuộc chiến thì khó. Sửa một trang web thì quá dễ.
Khoảng 250 năm trước, không ai có thể đoán được rằng Hiến pháp mới của Mỹ, vốn đang gây tranh cãi gay gắt vào thời điểm đó, sẽ tồn tại trong nhiều thế kỷ. Và chỉ có rất ít người tin rằng các nỗi sợ hãi mà nhiều người phản đối Hiến pháp vào lúc đó có thể sau này trở thành sự thật. Cho đến nay, lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã được xem như một sự xác nhận về thành công to tát mà Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong thời hiện đại đại diện trong lịch sử thế giới. Nhưng kể từ nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump, nhiều phản đối đã được đưa ra trong thế kỷ 18, thế kỷ chống lại Hiến pháp, một lần nữa lại mang tính thời sự một cách đáng ngạc nhiên...
Làm thơ, viết truyện, soạn kịch, soạn nhạc, hay vẽ... chúng ta sáng tác, có thể hoàn toàn không mượn từ người xưa? Hiển nhiên là chúng ta đã học từ rất nhiều vị thầy, từ ca dao, từ truyện cổ tích, từ các vị thầy nơi trường lớp, từ vô lượng các sách chúng ta đã đọc. Tuy nhiên, tới mức nào thì một bài thơ, hay lời một ca khúc có thể bị xem là vi phạm tác quyền dể bị thưa kiện, đường biên hẳn rất là mong manh. Đặc biệt là khi sáng tạo từ những ký ức chúng ta không thể nhớ tới cội nguồn. Các báo Hoa Kỳ hôm 7/7/2026 ghi nhận về phán quyết của thẩm phán Aileen Cannon của tòa liên bang tại Florida đã bác bỏ vụ kiện do nhà thơ Kimberly Marasco, cáo buộc nhạc sĩ Taylor Swift sao chép các chủ đề và ý tưởng của chính bà Marasco để sáng tác những ca khúc như "The Man", "The Great War", "I Can Do It with a Broken Heart" và nhiều bài khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.