Hôm nay,  

Mùa Phượng Nở

04/06/201300:00:00(Xem: 20351)
Phim “Ba mùa” – Three Seasons – của đạo diễn Tony Bùi có đoạn kết với hình ảnh một thiếu nữ trong áo dài trắng tung tăng giữa hàng phượng đang rụng đầy hoa đỏ. Sau bao thăng trầm, nổi trôi cuộc đời, cô gái chỉ có ước mộng đơn sơ là được trở về quãng đời nên thơ đẹp nhất là tuổi của học trò.

Hoa phượng là “Hoa học trò”. Không biết từ lúc nào những cánh hoa đỏ đã được đặt cho một cái tên thật gần gũi, thân thương như thế. Có phải Xuân Diệu là người đầu tiên đã chọn tên đó?

Phượng là bạn của mọi người vì ai cũng có thời cắp sách đến trường, từng nhìn phượng nở mà xao xuyến lòng, từng nhặt cánh hoa ép vào trang lưu bút trao cho bạn bè. Học trò thân thiết với phượng như thân với bạn bè cùng lớp.

Hoa phượng cũng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp của cuộc đời. Thời học cấp 2 có thày dạy văn Trương Quang Gia cho học sinh đọc và bình giảng về “Hoa học trò” của Xuân Diệu.

Lúc đó nhiều học sinh chỉ biết đến Xuân Diệu qua thơ tình, vì đến tuổi mộng mơ nên hay chép vào vở những vần thơ làm rung động tâm hồn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…”

Như nhiều bạn bè cùng lứa tuổi, cho đến nay gần nửa thế kỷ đã qua mà tôi vẫn còn thuộc lòng những dòng thơ một thời được nắn nót trên giấy học trò bằng bút mực tím.

Khi được thày giới thiệu, học sinh mới biết thi sĩ Xuân Diệu còn là một nhà văn. Bài bình giảng của tôi không xuất sắc nhưng sau khi đọc và bình văn, “Hoa học trò” đã để lại trong tôi những cảm nhận khó quên về một loài hoa rực rỡ và đã tạo nhiều nỗi nhớ mênh mang theo tôi vào đời. Phượng qua Xuân Diệu là mầu chói chan của hoa lúc rực nở trong nắng, rồi sắc đỏ nhạt dần chuyển sang mầu xanh của lá báo hiệu ngày hè đã hết.

Những năm cấp 3 tôi học Nguyễn Bá Tòng, cả trường ở Sài Gòn và bên Gia Định. Trường trên đường Bùi Thị Xuân trong sân có mấy cây phượng. Năm lớp 10, giờ ra chơi đứng ngoài hành lang tầng ba bên dãy nam sinh nhìn xuống sân trường với những tà áo trắng bên tàn phượng ôi sao dễ thương.

Năm sau đó ngôi trường này chỉ dành cho nữ sinh nên tôi học lớp 11 và 12 bên đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định. Sân trường ở đây rộng hơn và cũng có trồng hoa phượng, hoa sứ là những cánh hoa tôi hay nhặt, ép vào trang thư gửi cô bạn gái.

Gần cuối niên học, tiết trời tháng Ba, tháng Tư oi ả nóng. Nhìn phượng nở mà lòng lo âu vì hoa càng nhiều và sắc càng rực đỏ cũng là dấu chỉ báo hiệu sắp đến giờ chia tay và ngày thi sắp đến. Hai năm cuối trung học là những năm chúng tôi phải qua các kỳ thi tú tài để rồi đậu thì còn được gần nhau, rớt sẽ phải rời xa sân trường, xa bạn bè. Sau kỳ thi, những hôm đến trước cổng trường Trưng Vương, Gia Long hay Chu Văn An, Chi Lăng trông ngóng niêm yết kết quả, nhìn phượng nở sân trường mà lòng hồi hộp.

Rồi phượng cũng tàn để lại cây chỉ còn xanh mầu lá. Đầu niên học vào lớp vắng đi một số bạn nam sinh vì đến tuổi phải lên đường nhập ngũ tòng quân. Có bạn giã từ áo thư sinh bước vào chiến trường đã không bao giờ trở lại.
buivanphu_20130601_muahoaphuong_h01_hoaphuong_resized
Hoa phượng được gọi là hoa học trò. (ảnh Bùi Văn Phú)

Khi chiến tranh chấm dứt, tôi rời bỏ quê hương ra đi chẳng mang theo được gì ngoài kỷ niệm đẹp nơi sân trường và những tình bạn đã xa thật xa. Ở California, mùa hè có nắng vương chút lạnh, có muôn hoa muôn sắc nhưng không thấy bóng phượng đỏ ở đâu.

Cho đến một ngày đầu hè năm 1983 khi tôi rời Hoa Kỳ qua xứ Togo ở châu Phi. Vừa đến thủ đô Lomé đã thấy phượng nở đỏ bên đường là biết bao kỷ niệm tuổi hoa niên ùa về.

Hè năm đó đem lại nhiều niềm vui vì ở một đất nước xa xôi có phượng nở tôi lại được làm học trò và được làm thày. Tôi là học trò trong lớp Pháp ngữ và văn hoá Togo, là thày dạy thực tập một tháng trước khi về tỉnh nhận công tác. Ở đó có khí hậu nhiệt đới, cảnh nhà tranh vách đất, mái tôn tường gạch, những con đường đất ngập nước sau cơn mưa gợi nhớ nhiều cho tôi về quê hương nguồn cội. Cuối tuần, tôi cùng bạn hay đạp xe chạy vào trung tâm thành phố, đi ngang qua hàng cây quen thuộc của thuở học trò mà lòng xôn xao và bâng khuâng tự hỏi không biết học trò bản xứ có yêu mầu hoa đỏ như tôi, như học trò ở Việt Nam.
buivanphu_20130601_muahoaphuong_h02b_togo_resized
Tác giả dạy lý hóa tại một trường cấp 3 ở Togo, châu Phi. (ảnh Bùi Văn Phú)
Sau thời gian huấn luyện, tháng Chín tôi về nhận nhiệm sở dạy lý hoá tại trường cấp 3 ở Notsé, cách thủ đô Lomé 100 cây số về hướng bắc. Trên đường về tỉnh cũng thấy bên đường còn loáng thoáng sắc phượng đỏ.

Trường tôi dạy nằm tại thị xã Haho, ngay cạnh quốc lộ nối liền nam bắc Togo, mới được chính phủ Đức tài trợ xây cách đây không lâu. Hoa Kỳ giúp gửi đến giáo viên lý hoá là tôi và toán là một anh từ bang Ohio đã ở đó một năm.

Hai năm dạy học nơi xứ xa gợi nhớ nhiều kỷ niệm thời học sinh ở quê nhà vì học trò của tôi cuối năm cũng phải thi Tú tài I và Tú tài II vào những ngày phượng nở, như tôi đã từng trải qua với nhiều cảm xúc khó quên. Không thi đậu không được lên lớp 12 hay vào đại học. Khác chăng là học trò ở đây không phải đối diện với chiến tranh, không lo âu với lệnh động viên.

Khi hết thời hạn công tác, ít tuần trước ngày từ giã đồng nghiệp và học trò tôi đã trồng phượng nơi sân trường như món quà kỷ niệm hai năm dạy học ở đó. Hạt phượng do một người Việt quốc tịch Pháp gửi tặng. Anh Nguyễn Vũ đã làm việc ở Lomé nhiều năm và là giám đốc chương trình thảo mộc của Togo vì thế rất rành về các loại cây nhiệt đới. Biết tôi yêu thích hoa phượng, anh tặng cho hơn chục hạt to bằng ngón út.

Tôi trồng ở trường và cũng đem về trồng ở miền bắc California. Đất bắc Cali lạnh, ươm hạt nẩy mầm nhưng khi đem trồng ngoài sân phượng không sống được. Togo đất đá sa mạc, nắng nóng, ít mưa nên không biết cây phượng tôi trồng gần ba mươi năm trước ở sân trường có sống được và nở hoa vào những tháng hè hay không?

Theo dòng đời trôi, tôi lang thang phiêu bạt, du lịch đó đây và đã thấy phượng ở nhiều nơi: Hồng Kông, Thái Lan, Mexico, Hawaii.

Mỗi khi nhìn phượng nở đỏ lòng lại lâng lâng nỗi nhớ về một thời xa xưa. Nhớ thuở cắp sách đến trường nơi quê nghèo với chiến tranh. Nhớ bạn cũ, trường xưa. Nhớ thày cô. Nhớ mãi những mùa hoa học trò.

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.