Hôm nay,  

Giáng Sinh 2013

13/11/201300:00:00(Xem: 6416)
Mừng một biến cố lịch sử xẩy ra trên hai ngàn năm trước, nhưng vẫn như mới xẩy ra hôm nào trong thời đại của chúng ta. Thật vậy, mỗi độ Giáng Sinh về, nhất là ở vùng trời Âu này, khi ta có dịp đi ngang qua một giáo đường, hay chính ngày lễ lớn, có dịp cùng với bạn hữu đi dự lễ Giáng Sinh vào tối 24-12, bạn sẽ được chứng kiến một cảnh ngộ rất thời thượng, một con người được sinh ra không phải ở trong một căn hộ ấm áp có gường, có nệm, có lò sưởi với những tiện nghi, mà là một hài nhì sinh ra trong cảnh nghèo hèn thiếu thốn mọi thứ, còn nơi sinh là hang của chuồng bò, lừa trú lạnh ban đêm ở nơi cánh đồng vắng nước Israel thủa trên hai ngàn năm trước. Vì các phòng trọ không còn chỗ trống. Xin mời bạn theo tôi tìm lại lai lịch biến cố này qua Thánh Sử Luca đoạn I từ câu 18 đến 25.

“Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính thư vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc này đã xẩy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dậy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su”.

Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi.

Chúng ta nên đọc tiếp một đoạn nữa của Luca 2, từ câu 1 đến câu 6.

“Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người. Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn đắt Ít-ra-en dân ta sẽ ra đời”.

Qua hai đoạn tin mừng chúng ta đã biết được biến cố về lễ Giáng Sinh, một vị Thiên Chúa bởi trời mà xuống trần gian, trong hoàn cảnh gia đình ông Giu-se và bà Maria, một gia đình nghèo, ông thì làm nghề thợ mộc, bà thì lo việc nội trợ trong nhà. Nhân có cuộc làm lại sổ hộ khẩu của nhà Vua Hê-rô-đê thời bấy giờ, mà ông bà ở nơi khác, phải về quê hương của mình để khai sổ hộ khẩu; đường đi thì xa, không có xe cộ như thời bây giờ, phải đi bộ, mà bà thì có mang gần đến ngày sinh, nên ông phải cho bà ngồi trên lưng lừa và dong lừa đi. Về đến quê hương thì chiều đã xuống, các nhà trọ cho mướn để qua đêm đã không còn chỗ, ông bà đành phải ra ngoài cánh đồng vắng tìm đến nơi trú thân của loài vật về đêm để ở tạm. Nào ngờ, giờ sinh đã đến với bà trong hoàn cảnh ở giữa đồng vắng, không đèn, không hàng xóm, không một phương tiện liên lạc như điện thoại, và thời đó cũng không có xe cứu thương như thời nay.

Nhưng khi bà vừa hạ sinh hài nhi thì có tiếng hát của Thiên Thần ca mừng rằng:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người Chúa thương”.

Lại có những người chăn giữ đàn vật ở đâu dó cũng đến tụ lại qùy gối bái chào hài nhi và những con vật trú qua đêm ở căn chòi lá cũng bu lại thở hơi ấm làm cho hài nhi bớt lạnh giá trong cảnh đêm đông.

Thiên Chúa từ trời cao khi muốn xuống thế làm người, đã chọn sinh ra trong cảnh ngộ thật nghèo khó. Nghèo khó đến nỗi không còn chỗ trọ, để trú chân qua đêm. Cũng có thể vì Ngài mặc lấy thân phận rất nghèo, cứ trông vẻ bề ngoài một người đàn ông dẫn theo bà vợ có bầu không biết sẽ sinh giờ nào, tìm quan trọ thì chủ quán ai cũng ngại, chưa kể những chủ quán giầu có, họ chỉ muốn cho mướn, cho trọ những người giầu, có tiền. Chính vì cái cảnh nghèo đó mà ông bà bị từ chối, nên đã phải tìm ra ngoài đồng, tìm vào trú chân trong những lán lá người ta che mưa gió cho loài vật trú qua đêm.

Cảnh giầu và nghèo là hai gia cấp muôn thủa thời nào cũng có. Từ thời lễ Giáng Sinh hơn hai ngàn năm trước, và trước nữa, cũng như cho đến ngày nay. Người giầu chẳng có bao nhiêu, tỷ phú nước nào cũng có nhưng chỉ đếm được bằng con số, không nhiều, số trăm thôi. Nhưng thống trị thế giới lại là giới tỷ phú, có tiền, có quyền, nhưng không phải là không có người nhận ra, nhiều người nghèo cũng biết. Do đó họ muốn đem lại công bình cho thế giới, cho mọi người, nhưng gặp thật nhiều trở ngại và khó khăn. Như một Tổng Thống siêu cường quốc muốn cho người dân có bảo hiểm sức khỏe nhưng chưa làm được, và bao đời tổng Thống nước Mỹ đã muốn làm. Giờ đến lượt tổng thống Obama nhưng cũng còn gặp muôn vàn khó khăn và chống đối, không hiểu rồi ông có thực hiện được hay không.

Là người công giáo, mặc nhiên thông cảm nỗi nghèo của người nghèo hơn những người khác. Nhất là mỗi độ Giáng Sinh về, do đó họ dễ dàng cảm nhận thân phận của người nghèo hơn ai hết, nên họ có mặt tích cực ở môi trường xã hội, chính trị trước những người khác dựa vào học thuyết xã hội công giáo:

“Trên thực tế, người ta có thể hành động, hoặc trong cuộc sống cá nhân, gia đình, hoặc trong cách sinh hoạt cộng đồng. Trong lãnh vực tư, nhiệm vụ căn bản là sống và cư xử theo lời dậy Phúc âm, và đừng lùi bước trước những hy sinh và các đau khổ mà nhân đức Ki-tô giáo đòi hỏi. Hơn nữa, tất cả phải yêu mến Giáo hội như là mẹ chung, tuân lời, đề cao danh dự, bảo vệ quyền lợi và lo sao để những người dưới trách niệm của mình biết kính nể và mến yêu Giáo hội trong tình thảo ngay”. Trong lãnh vực công cộng, người công giáo cũng cần phải tham gia vào công việc hành chánh địa phương một cách khôn ngoan, nhất là nỗ lực thúc giục chính quyền cung ứng một nền giáo dục tôn giáo và đạo đức cho giới trẻ, một điều mà Ki-tô hữu rất cần, và cũng là lợi ích sinh tử của xã hội. Một cách chung, người công giáo nên được khuyến khích để nới rộng hoạt động của mình vượt ra ngoài cả những giới hạn còn chật hẹp này để dấn thân vào các phần vụ quan trọng hơn của đất nước. Chúng tôi nói “một cách chung”, vì ở đây chúng tôi muốn nói đến tất cả các nước. Tuy thế, cũng có khi, vì những lý do quan trọng và chính đáng, tham gia vào chính sự và nhận những chức vụ có thể không thích hợp. Nhưng luật chung, như chúng tôi đã nêu trên đây, từ chối dấn thân vào việc nước có thể đáng trách cứ như là chểnh mảng, thờ ơ với công ích, hơn thế nữa, giáo lý mà người công giáo tuyên xưng lại buộc họ khải ngay chính chu toàn bổn phận ấy. Và nếu họ trốn tránh việc nầy, thì giềng mối đất nước sẽ dễ dàng rơi vào tay những kẻ có những ý kiến không mang lại nhiều hy vọng tốt đẹp cho đất nước. Lúc ấy dù Ki-tô hữu có muốn hay không, thì kẻ thù của Giáo hội sẽ có toàn quyền và người bênh vực Giáo hội thì ở bên lề. Do vậy, người công giáo hẳn có lý do chính đáng để dấn thân vào cuộc sống chính trị; vì họ làm và phải làm chính trị, không phải để tán đồng những điều đáng trách cứ đang hiện hữu có trong các cơ chế chính trị, nhưng để hết sức mình khai triển công ích chân thật ngay trong các định chế nầy bằng cách cố đưa vào trong guồng máy chính quyền nền đạo đức và ảnh hưởng của đạo công giáo, như nhựa sống và như dòng máu cứu độ”.(Trích từ Một cái nhìn mới về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo từ tủ sách Muối Đất Định Hướng xuất bản năm 2000 nơi trang 28 và 29).

Là người tin vào Chúa, phục tùng giáo hội của Ngài qua Đức Giáo Hoàng nên tích cực tham gia vào các việc công ích, không thể thờ ơ nghĩ rằng đã có kẻ khác làm, chúng ta không cần tham gia, không cần làm. Thật vậy, nếu việc như ra ứng cử vào các hội đồng thị xã, ứng cử vào tòa nhà lập pháp như quốc hội hạ viện, thượng viện, người công giáo thờ ơ không tham gia, không có mặt thì làm cách nào góp tiếng nói để sản sinh ra những luật lệ, mà luật lệ trong những quốc gia pháp trị được áp dụng để đem lại công bằng cho hết mọi người, nhất là những người nghèo. Nếu những người công nhân làm việc trong các nhà máy, xưởng thợ mà không có công đoàn để bảo vệ những quyền lợi như có đồng lương đủ nuôi sống gia đình, con cái được cắp sách đến trường, có bảo hiểm sức khỏe, căn hộ đủ ấm vào mùa đông thì làm sao người công nhân có đủ tâm trí tập trung vào sản xuất cho ra những sản phẩm cho nhà máy. Cái nghèo của thời trước Giáng Sinh và của ngày hôm nay cũng không khác nhau.

Nhưng mỗi người là một chủ thể, nhân loại càng đông thì càng có nhiều chủ thể. Do vậy, người tham gia vào guồng máy công quyền, nhất là những người trực tiếp làm ra những luật lệ như dân biểu hạ nghị viện, dân biểu thượng viện, cần phải cân nhắc thật kỹ để giảm thiểu đến mức tối đa những cá nhân không tôn trọng những lợi ích chung liên quan đến tập thể như: trộm cắp, phá hoại những phương tiện sản xuất, nhà máy, họ chỉ mưu cầu lợi ích riêng mà không quan tâm đến lợi ích chung của kẻ khác, của cả một tập thể lớn. Người làm luật phải tìm cách giảm thiểu được những cá nhân thiển cận này để công ích được sáng, hầu căn nhà chung của thế giới không còn cảnh bất công và nghèo khó.

Nhờ sự dấn thân của những người mang tầm nhìn của học thuyết xã hội của giáo hội mà một số rất nhỏ quốc gia trên thế giới, khoảng 10 trong 224 nước hiện giờ trên thế giới, có được những luật căn bản về “an sinh xã hội” như một số nước ở vùng Bắc Âu hay như Hòa Lan, Thụy Sĩ; có một tổ chức xã hội thật lý tưởng đúng như giấc mơ của Liên Hiệp Quốc từng mơ ước là: mỗi người có lương thực hành ngày, có nhà ở và được sưởi ấm về mùa đông, con cái được đến trường, mọi người đều có bảo hiểm sức khỏe, các dịch vụ đều bình đẳng khi đến bác sĩ nhà, khi vào bệnh viện, và khi chết được an táng cách bình thường. Được như vậy, là do mọi người không thờ ơ với việc chung, nhất là thờ ơ với những sinh hoạt chính trị.

Nhìn vào máng cỏ, nơi Hài nhi Giê-su được sinh ra, cảnh khó nghèo của trên hai ngàn năm trước không khác là bao với xã hội hôm nay, cảnh giầu nghèo vẫn còn, một phần cũng do chúng ta còn thờ ơ, vẫn lạnh lùng với người bên cạnh và hơn nữa thật thờ ơ khi không chịu góp sức vào những công tác chung của xã hội, chung lòng với người bên cạnh góp công sức để kiến tạo một xã hội công bằng, huynh đệ và yêu thương./-

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.