Hôm nay,  

Giải Thích Mạn Đà La

05/12/201300:00:00(Xem: 4481)
Thầy Thích Hằng Trường
(Bài giảng do Xuân Dung ghi lại)

Xin chào các bác và các anh chị,

Hôm nay thầy xin nói về đề tài Mạn Đà La. Đây chỉ là phần nhỏ để chúng ta hiểu sơ sơ về mạn đà la.

Chữ mạn đà la ngày xưa được dùng để nói về môt đàn tràng. Đàn là hình vuông, tràng là tràng sở hay trường sở, là một chỗ. Đàn tràng nghĩa là một chỗ vuông vức. Vuông vức là gì? Nghĩa là tâm hội tụ ở trong đó. Ngày xưa mạn đà là chỉ là một hình vẽ, rồi ta chuyên tâm, chú tâm vào hình vẽ đó. Sau này từ từ phát triển ra thành một cái tháp ba chiều. Vẫn là hình vẽ nhưng có thêm đồ đạc, thành ba chiều. Mạn đà la này được người Tây Tạng làm trên cát; nhưng nguời Nhật thì vẽ rất to, có khi bằng cả một bức tường hoặc nằm trên mặt đất rất to. Điều này cho thấy mạn đà la có nhiều hình thức khác nhau. Mạn đa là ba chiều, thí dụ về pháp khí có ngài Quan Âm bồ tát cầm tịnh bình. Tịnh bình cũng là một loại mạn đà la. Mạn đà la này nói lên sự nghiệp của ngài. Gọi là yết ma. Sự nghiệp ngài làm gói ghém trong đó tất cả những gì ngài làm. Có khi mạn đà la là một bức tranh vẽ hình ngài, sự nghiệp của ngài hay những chuyện mà ngài làm. Thành ra các bác thấy hình ngài đứng trên đầu rồng, chứng tỏ ngài đã hoàn toàn ngự trị sự giận dữ. Rồng tượng trưng cho tánh nóng nẩy, thích giận, thích lẫy, hay vung vẩy bên này, đá bên kia, không ai kiểm soát được. Khi ngồi trước hình tượng Quan Âm như vậy, chúng ta hãy nhớ đi ra khỏi sự nóng giận, thích giận thích lẫy, những cơn giận không thể đoán trước được (unpredictable).

Mạn đà la có nhiều loại, nhiều ý nghĩa. Có những cái mà người Nhật, hay Trung Hoa, Tây Tạng vẽ chữ Phạn để khi nhìn ta sẽ chuyên chú vào chữ Phạn đó, từ đó ta tìm ra được chơn tâm của mình. Chữ Phạn đó là chỗ để tập trung. Các bác thấy phía sau thầy có chữ Bi. Đây cũng là một mạn đà la. Là chữ mà người ta tập trung vào đó để đạt tới trạng thái tâm hoàn toàn trống rỗng. Cho nên mạn đà la ở mọi hình dạng, ở bất kỳ hình thức nào mà khiến tâm mình chuyên chú và xuyên qua ngũ ấm (sắc thọ tưởng hành thức).
phap-hoi-di-da-e3cc7279d-b-resized
Hình ảnh Mandala tại Pháp Hội 2012 tại Long Beach Convention Center.

Sắc: là thân xác. Con người mình lúc nào cũng bị kẹt trong thân xác. Thí dụ: lúc nào cũng nghĩ tới ăn uống, bỏ không biết bao nhiêu thì giờ để nấu nướng ngõ hầu ăn cho ngon.

Thọ: là cảm xúc, cảm tình, cảm tưởng. Nhiều khi lúc nào ta cũng thích cảm xúc, là những cảm giác vui, kích thích.

Tưởng: là sự suy nghĩ, cảm tưởng, quan niệm, là những suy nghĩ trong đầu mình.

Hành: là những tập quán, những thói quen hàng ngày của mình. Tại sao ta làm việc này mà không làm việc kia, tại sao ta nghĩ chuyện này mà không nghĩ chuyện kia; tại sao lúc trẻ ta có những thói quen này, nhưng khi về già lại có những thói quen kia.

Thức: là khả năng nhận tri, nhận thức. Khả năng con mắt mình nhìn biết, lỗ mũi ngửi, lưỡi nếm được mà tại sao con mắt mình không thể nếm, lưỡi không thể nhìn, mũi không thể nghe, tai không rờ được? Không, mỗi giác quan có một công năng. Thức là sự nhận biết.

Mạn đà la giúp ta đi xuyên qua năm tầng đó (sắc thọ tưởng hành thức) để tới được chỗ gọi là tự tánh quang minh, là sự sáng suốt nội tại. Sự sáng suốt này lúc nào cũng hiển hiện trong tai mắt mũi lưỡi thân, trong tất cả mọi chuyện ta tiếp xúc, nhưng ta lại không để ý. Cho nên lúc nào ta cũng bị kẹt trong tư tưởng, trong cảm xúc, trong thân xác mà không nhớ tới. Mạn đà la là chỗ tập trung tinh thần, tinh lực để xuyên phá qua năm tầng đó.

Khi ta xuyên phá qua, đức Phật nói “khi con xuyên phá qua năm bức màn đó, con sẽ gặp ta và ta đã phát nguyện là sẽ gặp con ở đó”. Mạn đà la là chỗ đức Phật ngự trị, đức Phật hiện ra. Đức Phật không có ngũ ấm. Ngài không có sắc thọ tưởng hành thức. Ngài đã ra ngoài và đã giải thoát rồi. Ngoài ra đức Phật cũng không ở trong ngũ đại nữa, nhưng ngài dùng phương thức này để cho mình biết rằng nếu ta đi xuyên qua ngũ ấm hay ngũ đại thì ngài sẽ ở đó. Ngài ở đó tức là ta đã xuyên qua. Ta đã xuyên qua tức là ngài ở đó. Hai việc này là một.
phap-hoi-di-da-c77d-b-resized
Hình ảnh Mandala tại Pháp Hội 2012 tại Long Beach Convention Center.

Nếu mình chưa xuyên qua, ngài sẽ nói “không can chi, ta sẽ hiển hiện, ta sẽ phóng quang. Mạn đà la là chỗ mình sẽ tới và mình sẽ cảm nhận được hào quang của chư Phật. Các bác có thể hỏi: ”Thưa thầy, hào quang nằm đâu sao con không thấy?” Thưa bác, là sự sáng suốt nội tại. Thí dụ ta chấp vào chuyện ăn uống, khi ngồi trong mạn đà la tự nhiên sẽ nhận ra là ta ham ăn lắm, hãy bỏ đi. Tư tưởng biết mình ham ăn và phải bỏ đi. Tư tưởng đó chính là Phật. Mình đã thấy vị Phật của mình rồi, thưa các bác. Hoặc lúc nào mình cũng ham thích sự kích thích (excitement), lúc nào cũng nghĩ ta phải làm việc này, làm việc kia. Bây giờ ngồi trong mạn đà la trì chú, tự nhiên ta nhận ra là mình có một điểm mù lúc nào cũng theo đuổi sự kích thích. Sự nhận biết đó không phải là thức mà là sự giác ngộ. Giác ngộ chính là vị Phật mà chúng ta phải gặp trong mạn đà la. Vị Phật ở đây không còn là một hình tướng mà là sự sáng suốt, nhận ra điểm mù, thấy được mình.

Tại sao trong mạn đà la hay tu tập mạn đà la có sự hiện diện của chư Phật? Bởi vì mỗi người vô ngồi sẽ cảm nhận được sự sáng suốt của mình, thấy được cái giới hạn, sự hạn hẹp của mình, và ra khỏi sự hạn hẹp đó.

Đó là ý nghĩa triết học, triết lý cũng như phương thức của triết lý tu hành của mạn đà la. Khi vào trong mạn đà la Di Đà, chữ A Di Đà có nghĩa là vô lượng quang, có nghĩa là sức mạnh hào quang trong tự tâm mình sẽ hiển hiện ra, sự sáng suốt trong nội tâm mình sẽ hiển hiện ra, vô lượng quang minh tức A Di Đà sẽ hiện ra trong ta. Phật là giác ngộ, cho nên ta sẽ giác, sẽ thấy, sẽ nhận ra hào quang ở trong tâm của mình khi ta vào trong mạn đà la Di Đà hay đàn tràng Di Đà. Đó là sự hy vọng cũng như là triết lý hay cốt lõi của tu mạn đà la: nhận diện được bản năng thành Phật của mình ngay tại đây, ngay bây giờ.
phap-hoi-di-da-0a686323-b-resized
Hình ảnh Mandala tại Pháp Hội 2012 tại Long Beach Convention Center.

Do đó, khi vào tu tập, các bác hãy nhớ lắng lòng xuống, hãy trì chú để tâm chúng ta được nhẹ nhàng ngõ hầu nhận tri được ông Phật nằm ngay trong tâm mình, chớ không phải ngoài xa. Ông Phật đó không thuộc về ngũ ấm. Ông Phật đó, chúng ta gọi là ông Phật giải thoát, nằm ngay đây. Nhìn vào mạn đà la, các bác sẽ thấy ông Phật đó nằm ở vòng tròn trong cùng. Bên ngoài là năm lớp sắc thọ tưởng hành thức, nhưng bên trong có một vòng tròn tượng trưng nói rằng ông Phật lúc nào cũng có trong ta, chúng ta phải nhìn cho đúng chỗ, phải mở tâm ra, để ông Phật không còn bị cột trói trong năm vòng ngũ ấm nữa.

Thưa các bác, Mạn Đà La này là một phương pháp tu đặc biệt. Ngay thời đức Phật,các ngài đã nói tới Mạn Đà Là này, đàn tràng này. Tu có nghĩa là khai mở trí huệ. Chúng ta có giới định huệ. Huệ ở đây sẽ được nhìn thấy trong Mạn Đà La. Do đó xin mời các bác tới tham gia vào ngày 20, 21 & 22 tháng 12 tại Long Beach Convention Center. Các bác lên website để ghi danh trước. Các bác có thể vào thayhangtruong.com, rồi click vào Pháp Hội Di Đà, các bác sẽ dễ dàng tìm ra phương thức ghi danh. Xin ghi danh trước để việc phục vụ được tốt đẹp hơn. Vì chúng ta có tới 1500 người, các bác có thể lên xin làm thiện nguyện viên, trợ giúp anh em trong Hội Từ Bi Phụng Sự để phụng sự.

Cám ơn các bác đã lắng nghe và rất mong gặp lại các bác trong kỳ Đại Hội này./.

Xin mời nghe giảng tại đây:

http://blog.compassheart.com/?p=3715

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.