Hôm nay,  

Nhận Diện Dân Chủ

08/12/201300:00:00(Xem: 12804)
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại dân chủ, loài người đang mơ uớc, đang hướng tới và mong muốn sống trong dân chủ.

Tại sao dân chủ có sức hút mạnh đến thế, dân chủ là gì và mọi người có hiểu, có tiếp nhận dân chủ cùng ý nghiã với nhau không?

Để tránh bàn luận, tranh luận dẫn đến mâu thuẩn, xung đột vì hiểu từng phần khác nhau về dân chủ, chúng ta cần tìm hiểu, đào sâu dân chủ, nhằm có cái nhìn chung về dân chủ, tạo sức bật cho tiến trình dân chủ hoá Việt Nam.

Theo nghĩa thông thường hoặc theo lý luận khoa học lẫn chuyên ngữ trừu tượng của triết học,dù thế nào đi nữa, cuối cùng vẫn đi đến kết luận chung: dân chủ là dân làm chủ đất nước, làm chủ đời sống của chính mình, khác với quân chủ là quân (vua) làm chủ đất nước, toàn quyền định đoạt đời sống của người dân trong quốc gia, lãnh địa cai trị của vua.

Ngoài ra dân chủ cũng đã được đơn giản hoá cho số đông người dân hiểu như: “chính phủ của dân, do dân, vì dân... nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.” Tất cả khẩu hiệu vừa dẫn, đều không ngoài mục đích nêu rõ quyền làm chủ của người dân, dân làm chủ đất nước trong thời đại dân chủ.

Nhìn về quá khứ từ ngàn xưa hay ngược giòng lịch sử của nhân loại, chúng ta sẽ thấy dân chủ đã được thai nghén, khai sinh ngay từ thời quân chủ còn là mô hình cai trị hữu hiệu trong nhiệm vụ điều hướng xã hội phát triển theo nhịp điệu ổn định, trật tự và điều hoà. Cho đến hôm nay, dân chủ đã đủ lớn để thay thế mô hình cai trị quân chủ đã lỗi thời, không còn phù hợp cho thời hiện đại này nữa.

Trong chiều dài lịch sử quân chủ, những nhà tư tưởng cả đông lẫn tây, đã có những ý niệm dân chủ bàng bạc đâu đó, dù chưa rõ nét qua những ý tưởng như: “Chính quyền muốn được chính danh phải được sự đồng thuận của toàn dân hoặc dân vi quí, xả tắc thứ chi, quân vi khinh...” Rồi ý tưởng dân chủ không dừng lại ở đó, nó không còn là ý niệm lãng đãng trong tầng lớp bị trị. Theo thời gian ý niệm dân chủ tác động tích cực lên tầng lớp thống trị quân chủ, khiến họ phải thay đổi tư duy chính trị, phải cho tầng lớp bị trị tức người dân được đóng góp ý kiến, được tham gia từng phần vào công việc cai trị quốc gia, và quyền tham gia, đóng góp đó, chính là tịnh thần dân chủ.

Việt Nam là một trong số ít nước quân chủ áp dụng tinh thần dân chủ trong mô hình cai trị sớm nhất, điển hình là nhà nước quân chủ trung ương không “cai trị”nhiều đối với nhà nước địa phương, qua hình thức: “Phép vua thua lệ làng.” Đỉnh điểm tinh thần dân chủ của Chính thể quân chủ Việt Nam, được thể hiện rõ trong Hội Nghị Diên Hồng khi toàn dân được hỏi, được đóng góp ý kiến: “Trước nhục nước ta nên hòa hay nên chiến...” trong thời Nhà Trần chống quân xâm lược Nguyên, Mông và thời đó Việt Nam là một nhà nước quân chủ chuyên chế, không phải là quân chủ phong kiến bởi vua chúa Việt Nam không có lệ cắt đất phong tước cho thuộc hạ cai trị riêng và tinh thần dân chủ đã diễn ra trong nhà nước quân chủ chuyên chế là một tiến bộ chính trị vượt bậc đáng kinh ngạc, đáng hãnh diện cho dân tộc Việt Nam.

Trở lại với dân chủ chúng ta đang bàn đến, đang nói tới và muốn được sống trong, không phải là ý niệm dân chủ, tinh thần dân chủ vừa diễn giải ở trên. Dân chủ mà chúng ta cùng nhân loại mơ ước, muốn sống trong đó là THỂ CHẾ CHÍNH TRị DÂN CHỦ. Chính thể chế nầy bảo đảm quyền làm chủ đất nước, làm chủ đời sống của người dân được trọn vẹn. Bởi thể chế, hệ thống cai trị nầy, với tam quyền phân lập, hành pháp, tư pháp, lập pháp hoàn toàn độc lập cùng với các quyền tự do khác trong đó có tự do ngôn luận(truyền thông, báo chí tự do) sẽ kiểm soát, điều chỉnh bộ máy cai trị nhanh nhất và ngăn chặn độc tài, ngăn chặn tội ác cách hữu hiệu nhất.

Để tránh phi dânchủ, dân chủ giả hiệu, với những lời nào là dân chủ tập trung, dân chủ mở rộng, dân chủ cơ sở, thật ra là gian manh chính trị, bịp bợm chính trị. Thế cho nên để tránh giả hiệu, chúng ta cần tìm hiểu, cần biết những điều kiện căn bản để nhận diện, thiết chế chính thể dân chủ.

Một thể chế chính trị dân chủ thật sự phải hội đủ các điều kiện sau: hiến pháp, đảng chính trị, bầu cử tự do và truyền thông độc lập.

a) Hiến Pháp, được quốc hội lập hiến soạn thảo, phúc quyết. Bản dự thảo hiến pháp này, phải được trưng cầu dân ý để tạo sự đồng thuận của chính phủ với người dân tức sự thoả thuận bằng văn bản, công nhận tính chính danh giữa giai cấp thống trị với tầng lớp bị trị nghĩa là giữa nhà nước với người dân.

b) Đảng chính trị, phải có ít nhất hai đảng trở lên nhằm thúc đẩy cạnh tranh và để người dân có quyền, có cơ hội chọn lựa đại diện cho mình và thể hiện tính cạnh tranh để tiến bộ.

c) Bầu cử tự do,qua cuộc phổ thông đầu phiếu kín cho các công dân đã thành niên, có giám sát để bảo đảm tính minh bach, công bằng trong sân chơi chính trị, bầu cử tự do.

d) Truyền thông độc lập,tất cả phương tiện truyền thông, báo chí, truyền thanh,truyền hình, báo điện tử dù tư nhân hay nhà nước đều không bị chỉ đạo, phải được thông tin trung thực, đúng sự thật.

Nói chung, để nhận diện chính thể dân chủ: một là phải có hiến pháp thật sự do ý chí, nguyện vọng của tòan dân tạo thành; hai là ít nhất có hai đảng chính trị tự do hoạt động, được pháp luật bảo vệ; ba là tất cả công dân đã thành niên đều đựơc quyền tham gia hoạt đông chính trị, từ gián tiếp đến trực tiếp, trước, trong và sau các cuộc bầu cử tự do; bốn là truyền thông độc lập không bị chi phối bởi bất cứ ai, bất cứ quyền lực nào, ngoài thông tin trung thực, đúng sự thật.

Từ cách nhận diện thể chế chính trị dân chủ, nhìn sang mô hình tổ chức cai tri, hệ thống điều hành bộ máy nhà nước của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cái cách các quan chức nhà nước Việt Nam trình diễn dân chủ, diễn giải dân chủ trước các ống kính truyền thông quốc tế, với dân chúng Việt Nam khiến cho những người Việt Nam có quan tâm đến chính trị, có hiểu biết về dân chủ không khỏi “đỏ mặt”, vì ở thế kỷ 21 vẫn còn có đảng chính trị, đảng cầm quyền loay hoay, múa may dân chủ trước các cơ quan truyền thông quốc tế, với người dân như trong căn phòng không đèn, không dưỡng khí và diễn dân chủ tệ hơn những tên hề mạt hạng, bởi miệng nói dân chủ mà tự tay tát vào mồm mình!

(Đón đọc: Điều Kiện Thực Thi Dân Chủ.)

Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.
Đối với triết gia Immanuel Kant, lời nói dối là “cái ác bẩm sinh sâu xa trong bản chất con người” và cần phải tránh xa ngay cả khi đó là vấn đề sống còn1. Trong tác phẩm “Deciphering Lies”, Bettina Stangneth, 2017, viết rằng: “Trong số những lý do khiến người ta nói dối vì điều đó có thể giúp họ che giấu bản thân, ẩn náu và tránh xa những người xâm phạm vùng an toàn của họ.” Stangneth cho biết thêm, “cũng không khôn ngoan khi thả trẻ em ra thế giới mà không biết rằng người khác có thể nói dối chúng.” The Wasghington Post, ban kiểm tra sự thật, cho biết: Trong bốn năm làm tổng thống thứ 45, từ 2017-2021, đến cuối nhiệm kỳ, Trump đã tích lũy 30.573 lời nói dối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống - trung bình khoảng 21 lời tuyên bố sai lầm mỗi ngày. Từ khi thua cuộc tái ứng cử vào tay tổng thống Joe Biden cho đến giờ này, tranh cử với bà Harris, ông Trump càng gia tăng khẩu phần nói dối, phong phú đến mức độ không thể đếm cho chính xác.
Câu chuyện hoang tưởng “di dân ăn thịt chó, mèo” của Donald Trump và JD Vance gây ra nỗi sợ hãi, tạo ra nhiều kích động tiêu cực, vì nó được nói ra trước 81 triệu dân Mỹ, từ một cựu tổng thống. Những lời vô căn cứ tràn đầy định kiến và thù hận đó như một bệ phóng cho con tàu “Kỳ Thị” bay vút vào không gian của thế kỷ 21, thả ra những làn khói độc. Nó như một căn bệnh trầm kha tiềm ẩn lâu ngày, nay đúng thời đúng khắc nên phát tán và lan xa. Nói như thế có nghĩa, con tàu “Kỳ Thị” này, căn bệnh này, vốn đã có từ rất lâu đời. Nó âm ỉ, tích tụ, dồn nén theo thời gian, chực chờ đến ngày bùng nổ. Một tuần qua, người Haiti, là nạn nhân của cơn bùng phát này. Gần nửa thế kỷ trước, và cho đến tận nay, là cộng đồng người gốc Việt.
Sự trỗi dậy của những nhóm cực hữu đang làm sống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, một căn bệnh trầm kha chưa bao giờ thực sự chấm dứt ở Hoa Kỳ. Để thực hiện những chương trình nghị sự của mình, những người theo chủ nghĩa thượng tôn da trắng đã thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật khác nhau. Trong những năm gần đây, nhiều nhà hoạt động đã cảnh báo các nhóm cực hữu đang cố sử dụng nền tảng giáo dục làm công cụ để bảo vệ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Một bài viết trên trang mạng lithub.com của tác giả Jason Stanley đã phân tích sâu sắc về đề tài này.
Nhìn ở bề ngoài thì ông Benjamin Netanyahu, Thủ tướng Do Thái, đang làm cái việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu từng làm với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Năm đó ông Thiệu bị cáo buộc là hành động để đảng Dân Chủ thua đảng Cộng Hòa còn bây giờ thì, xem ra, ông Netanyahu lại đang tháu cáy với nước cờ tương tự tuy nhiên bản chất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Khi còn tại chức, không ít lần, T.T Nguyễn Xuân Phúc đã khiến cho dân tình hoang mang hay bối rối khi nghe những câu chữ rất lạ kỳ: “Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Vĩnh Phúc sẽ vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Long An phải trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Hải Phòng là đầu tàu quan trọng của cả nước’, ‘Bình Dương phải là đầu tàu phát triển kinh tế mạnh nhất của cả nước …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.