Hôm nay,  

Chấp Nhận Cuộc Đời

22/07/201400:00:00(Xem: 9676)

Phàm ở đời có ai mà không muốn sướng, muốn có hạnh phúc dâu…

* * *

Phỏng theo tác phẩm The Five Things We Cannot Change: And the Happiness We Find by Embracing Them.Tác giả David Richo,PH.D,M.F.T.

Ông ta là một nhà tâm lý học nổi tiếng và đồng thời là giáo sư tại Esalen Institute,California.

Bản dịch Pháp ngữ: Les cinq choses qu’on ne peut pas changer dans la vie et le secret pour être enfin heureux.

“Năm điều không thể thay đổi được trong đời… và phải chấp nhận chúng mới có được hạnh phúc”

Tại sao có biết bao nhiêu người, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng vẫn không đạt được một cuộc sống an vui và hạnh phúc?

Lý do là tại gì họ đã phung phí biết bao là năng lực để cố thay đổi những gì không thể thay đổi được!

Nên biết rằng có năm điều bất di bất dịch chúng ta có muốn thay đổi cũng không được, chỉ vô ích mà thôi. Đó là:

1- Tất cả mọi việc, mọi sự vật trên cỏi đời nầy đều biến đổi và phải có ngày chấm dứt. (Everything changes and ends).

2- Mọi sự việc không phải luôn luôn diễn tiến đúng như kế hoạch (Things do not always go according to plan).

3- Cuộc sống không phải lúc nào cũng được công bằng (Life is not always fair).

4- Khổ đau là một phần trong cuộc sống (pain is part of life).

5- Con người không phải lúc nào cũng yêu thương và trung thành với nhau (people are not loving and loyal all the time).

David Richo giúp chúng ta hiểu rằng không phải lúc nào cuộc sống cũng đều tốt đẹp hết cho đến khi chúng ta hiểu rõ năm sự thật nêu trên.

Ông ta khuyên mọi người hãy thành thật và nên thực tế hơn.

Phải biết chấp nhận tình huống, hoàn cảnh không như ý mới mong có được sự thanh tịnh và hạnh phúc lâu dài.

Trong phần hai của tác phẩm, tác giả cho biết bằng cách nào chúng ta có thể dung bồi chữ vâng vô điều kiện (unconditional yes) trong cuộc sống, tập mở rộng cõi lòng kể cả việc chấp nhận mọi hoàn cảnh khó khăn của chính mình.

Pha trộn tâm lý học Tây phương với tâm linh đông phương (eastern spirituality) David Richo giúp chúng ta khai tâm,vui sống lên kể cả trong hoàn cảnh hãi hùng, đớn đau và thất vọng - để cuối cùng khám phá ra được món quà to lớn nhứt trong dời mình, đó là hạnh phúc.

Các nhà tâm lý học Pháp giải thích.

Phỏng theo tạp chí Psychologies No 307-Mai 2011

1- Sự việc xảy ra không như ý mình mong muốn

Carole Sédillot, giảng dạy tâm lý học thuộc trường phái Jung. Bà là tác giả “ Jeu et Enjeu de la psyché”

*Tại sao mình khổ?

Xin việc làm thất bại, xin thuyên chuyển nhiệm sở bị từ chối, có một đứa con hư đốn, không ra gì như… Không tự làm chủ được cuộc đời rất dễ đưa mình đến tâm trạng sầu não.

Đối với văn hóa Tây phương, đời sống phải gắn liền vào sự thành đạt về vật chất. Theo tâm lý học trường phái Jung thì chính sự thiếu ý thức về mối dây liên hệ giữa con người và vũ trụ là nguồn gốc của khổ đau.

Tình trạng bấn loạn tinh thần của chúng ta vì dự án bị đổ vỡ, càng trở nên trầm trọng thêm hơn bởi nỗi cô đơn không ngừng xâm chiếm tâm hồn ta.

Cảm giác mất mát thúc đẩy chúng ta tái liên lạc lại với giai đoạn thơ ấu của mình trong thời xa xưa… Đó là thời gian không hiểu tại sao người khác hay nói không với mình. Tâm trạng thiếu sự bao bọc và săn sóc trong thời niên thiếu càng nhiều bao nhiều thì chữ không trong cuộc sống hiện tại rất khó được chấp nhận bấy nhiêu.

Ngược lại, nếu chúng ta chấp nhận rằng chính quy luật vũ trụ chi phối tất cả cuộc sống thì sự mong muốn rất con người của mình cho dù có to lớn đến đâu cũng trở thành tương đối mà thôi.

* Chấp nhận bằng cách nào?

Tự xét coi sự thất bại có phải hoàn toàn do yếu tố bên ngoài hay không? Có phải đó là hậu quả của một hành động hay một sự lựa chọn nông cạn, thiếu suy xét của chính mình không?

Hành động tự phê bình (Autocritique) giúp chúng ta làm chủ được cuộc đời và có những quyết định đúng hơn trong tương lai.

Mình có thiếu sót điều gì hay không? Tại sao dự án bị trở ngại, không thực hiện được khiến mình phải thất vọng? Đó là những thiếu sót gì? Mình mong đợi được hài lòng về phương diện gì? Muốn được nổi tiếng? Củng cố mối dây tình cảm hay cải thiện vật chất?

Khi đã xác định thật sự mình muốn được hài lòng về phương diện nào thì lúc đó mới có thể nghĩ đến những phương cách khác khả dĩ giúp mình đạt được ước vọng.

blank
Bìa sách.

2- Người đời không phải lúc nào cũng yêu thương và trung thành với nhau.

Dominique Picard-Giáo sư tâm lý học xã hội tại Université Paris 13. Đồng tác giả với Edmond Marc trong tác phẩm “Des Conflits Relationnels” (2008)

*Tại sao mình khổ?

Thương và được thương là cảm giác được đời chấp nhận và khi đó mình mới thật sự hiện hữu trong kiếp sống. Nếu thiếu ánh mắt thương yêu từ người khác, như từ bạn bè, vợ, chồng, gia đình, đồng nghiệp… chúng ta sẽ cảm thấy mất mát đi sự sống và bản sắc của mình sẽ bị xáo trộn.

Ngày nay, đòi hỏi được yêu thương có thể xem như đồng nghĩa với đòi hỏi một sự xác nhận bản sắc của chúng ta.Nếu thất bại, đó có nghĩa là cuộc đời đã thoát ra khỏi tầm tay của mình. Sự vô ơn bạc nghĩa (déloyauté) dẫn đến sự phủ nhận cái tôi (négation de soi); bị phản bội, có nghĩa là lòng tin cậy, quyền hạn và nhu cầu của mình bị người ta coi thường và tản lờ đi. Sự phản bội mặc nhiên xóa bỏ giao ước có qua có lại giữa hai người với nhau: tôi cho và tôi nhận lại những gì tương xứng với cái tôi đã cho.

Trong trường hợp gây cấn như: ngoại tình, bị sa thải, bị bạn bè phản bội, không phải chỉ có niềm tin của mình vào người khác bị ảnh hưởng nhưng niềm tin của chính mình cũng bị tổn thương không ít (tôi có làm gì để bị đối xử tàn tệ như thế nầy?).

* Chấp nhận bằng cách nào?

Cần phải phân biệt nỗi thất vọng và sự bất nghĩa trong một mối giao tiếp (bạn bè, vợ chồng, gia đình.) với sự phản bội có liên hệ với đệ tam nhân (tiers) bên ngoài (bị cho nghỉ việc vì lý do kinh tế, lường gạt…). Một mối giao tiếp luôn luôn cần phải được nhiều người cùng chung sức xây dựng nên. Để có thể tiến bước và tránh vấp ngã như trong quá khứ, chúng ta phải tự hỏi xem coi mối giao tiếp có thật sự được nuôi dưỡng trong một bối cảnh tốt đẹp không? Tìm hiểu coi mình đã làm được những gì chớ không phải do lỗi lầm của mình. Tôi đã cống hiến được những gì (quá nhiều, quá ít). Tôi chờ đợi gì ở người kia? Tôi có đủ sức để thỏa mãn nhu cầu bản thân không?

Công việc tự phê trên cần thực hiện chung với gia đình hay nhờ vào sự cố vấn của các nhà chuyên môn về tâm lý học.

Trong trường hợp một sự phản bội không tiên liệu, điều quan trọng là chúng ta cần phải tái đầu tư lại trong những mối dây liên hệ và hoạt động an toàn đồng thời chúng cũng mang đến cho ta niềm vui sướng..

Chỉ có sự tái lập lại lòng tự trọng (estime de soi) và sự hổ trợ của người thương mới có thể làm giảm bớt cơn khủng hoảng tinh thần đồng thời hàn gắn lại được vết thương lòng mà thôi.

3- Khổ đau là một phần của đời sống

Stéphanie Hahusseau, chuyên khoa tâm thần và tâm lý học trị liệu (psychiatre –psychothérapeute et spécialiste des émotions). Bà là tác giả “ Comment ne pas se gâcher la vie” (2010)

*Tại sao mình khổ?

Đổ vỡ hạnh phúc gia đình, tai nạn, bệnh trầm kha… Thấm nhuần đức tin Thiên Chúa Giáo, cho dù mang mặc cảm có tội chúng ta cũng vẫn cố chịu đựng một cách vô thức (inconsciemment) và xem những khổ đau như là một “hình phạt” đối với mình… Sự liên hệ nầy rất thường hay thấy xảy ra ở các bệnh nhân. Bên cạnh sự đau đớn về thể xác họ còn phải mang thêm gánh nặng của mặc cảm tội lỗi nữa.

Đây không có nghĩa là việc thăm dò huớng “tại sao?”, một việc làm vô ích, nhưng nếu bằng mọi giá chúng ta chỉ khư khư cố tìm một nguyên nhân duy nhất thì thế nào cũng sẽ chuốc lấy thất bại mà thôi.

Nguồn gốc của khổ đau rất đa dạng không khác gì tác động của nó. Chúng thay đổi tùy theo môi trường cảm xúc (Environnement émotionnel) trong đó chúng ta lớn lên. Nếu chúng ta có may mắn được cha mẹ giúp đỡ trong việc phát triển cảm xúc” (culture de l’émotion) như: cảm nhận, đặt thành tên, và chấp nhận thì sau nầy cũng có khổ đau, nhưng có thể vượt qua được dễ dàng và chúng sẽ dần dần tan biến đi.

Ngược lại, nếu các cảm xúc ban đầu không được đón nhận đàng hoàng, bị dồn nén (refoulé), thì các thử thách (épreuves) trong tương lai sẽ trở nên trầm trọng thêm hơn.

*Chấp nhận bằng cách nào?

Nếu không thể nào tránh khỏi sự đau khổ thì chúng ta cần nên tìm hiểu những nguyên nhân tạo nên chúng. Có nguyên nhân bắt chúng ta đóng vai trò nạn nhân ( tôi không đủ sức), giam chúng ta trong một kịch bản lập di lập lại (thí dụ: chuyện tình thường có kết cuộc xấu), hay làm cho chúng ta bị xê dịch (décalage) ra khỏi những gì mình cảm nhận thật sự (tôi khóc vì bị người ta bỏ rơi, nhưng tôi có thật sự bị suy sụp không?). Đây là một mâu thuẩn về cảm xúc (dissonnance émotionnelle).

Để đo lường mức độ khổ đau, chúng ta phải đào sâu vào những cảm nhận của thể xác mình hầu nhận diện chúng một cách rõ ràng hơn và sau đó đặt thành tên. Phưong các nầy giúp xua đuổi những tư tưởng sai lạc và những cảm xúc ký sinh (émotions parasites).

Cuối cùng, rất cần thiết phải tìm nỗi đau đầu tiên của mình để hiểu rõ hơn nỗi đau hiện tại. Ngày nay tôi rất đau khổ bị chồng bỏ. Vậy tôi cảm nhận bị bỏ rơi lần đâu tiên trong đời là lúc nào?

Đối mặt với thử thách ban đầu (épreuve originelle) trong quá kứ mình đã vượt qua được hết. Nhận thức nầy sẽ giúp cho mình thoát qua thử thách hiện tại một cách dễ dàng hơn.

4- Cuộc sống không phải lúc nào cũng được công bằng

Patrice Gourrier, linh mục và nhà tâm lý học lâm sàng (psychologue clinicien). Ông là tác giả của “Curé, qui es tu?”

*Tại sao mình khổ?

Những nỗi bất công trong đời nhắc nhở cho chúng ta biết một sự thật chua cay là không phải mình sống mẫu mực trong sự chơn thật và đúng phép là luôn luôn được thiên hạ đáp lễ tốt đẹp đâu.

Ba nguyên nhân có thể giải thích tâm trạng bất công. Trước hết là sự bất khoan dung (intolérance) kế đến là nỗi bực tức (frustration), sau cùng là nỗi ám ảnh lạc thú cá nhân (hédoniste).

Không thể thỏa mãn được sự mong muốn của mình là bất công. Đôi lúc chúng ta còn phải chịu đựng một hoàn cảnh bất công khách quan và chính tình trạng nầy làm cho chúng ta trở nên bất lực, đồng thời ý nghĩa của thử thách còn vượt ra ngoài trí não (tại sao mình phải chịu sự ra đi của người thân thương? Tại sao mình bị cho nghỉ việc sau bao nhiêu năm đóng góp công sức cho người ta).


Cuối cùng là sự bất công mà tha nhân, người thân gần hay xa phải gánh chịu cũng có thể là nguồn gốc của sự khổ ải đối với mình. Trong trường hợp nầy lý tưởng cá nhân (idéal) và giá trị đạo đức (code de valeurs morales) của mình đều bị tổn thương. Chúng ta cảm thấy bị va chạm và không thể nào chấp nhận được.

*Chấp nhận bằng cách nào?

Bắt đầu bằng việc cho thay thế chữ “chấp nhận” (accepter) ra thành chữ “quan tâm đến” (prendre en compte).Sau đó là tra vấn tâm trạng bất công mình đang phải chịu: cảm thấy bất công không có nghĩa là nó có thật, là chính đáng hay trách nhiệm của mình được miễn trừ… Chịu đựng sự ra đi của một người thân là một biến cố đau thương và bất công đối với chúng ta. Không có một nhà tâm lý nào có thể làm giảm đi được thởi gian phiền muộn và giận dữ nơi chúng ta được nhưng họ có thể giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu đôi chút.

Trong các bất công khác, liên hệ đến mối giao tiếp xã hội và hiện sinh (existentielle), chúng ta cần tự hỏi: “Để đáp lại sự bất công, tôi có thể làm những gì đúng, nghĩa là tốt cho chính tôi?). Làm như thế mình sẽ không bị kẹt trong nỗi niềm đắng cay hay mang ý tưởng trả thù. Nhưng quan trọng hơn hết là việc nhận diện những cảm xúc do sự bất công sản sinh ra. Chúng ta thường không biết sự độc hại của chúng trên lòng tự trọng.

Nạn nhân thay gì tự bào chữa, họ lại đòi hỏi quyền hạn phải được tôn trọng và khi làm như vậy họ cảm thấy nhục nhã và có tội.

Họ nghĩ rằng họ bị bạc đãi vì họ không đủ tài sức (ne pas être à la hauteur). Bởi vậy, một nỗi bất công lúc nào cũng cần phải được xác định rõ ràng và “ phân tích” kỹ càng.

Ôm giữ nỗi bất công chẳng khác gì giữ một quả bom nổ chậm trong người.

blank
Bìa sách.

5- Tất cả đều biến đổi và chết đi

Alain Delourme,bác sĩ tâm lý học lâm sàng, (docteur en psychologie, psychologue clinicien et psychothérapeute formé à la psychanalyse et aux thérapies psycho-corporelles, individuelles et groupales).

Đồng tác giả với Alexie de Lorea trong tá c phâẩ m“ Savoir dire oui pour construire sa vie”

*Tại sao mình khổ?

Đời sống là một sự đổi mới không ngừng. Vâng, nhưng…mỗi người chúng ta đều muốn được vĩnh cửu (éternel) trong hoàn cảnh và trong mối giao tiếp đem lại cho bản thân sự vui sướng (plaisir) và an bình (sécurité).

Khi mục tiêu nói trên đạt đến mức quân bình thì chúng ta cố tìm mọi cách để giữ lấy nó vì không ai chịu chấp nhận ý nghĩ hữu hạn (finitude) của đời mình. Thế mà, chúng ta đều biết con cái lớn lên, đều đi xa, thân xác chúng ta phải chịu sự thay đổi…

Có nhiều cách tạo ra ảo tưởng vĩnh cửu chẳng hạn như bám víu vào dấu hiệu bên ngoài của tuổi trẻ, tích tụ của cải vật chất, tìm mọi phương cách để ngừa bệnh tật, chối từ mọi sự tiến hóa (évolution), theo đuổi một nếp sống vô cùng tích cực (hyperactivité) để trốn chạy khỏi tâm trạng mình phải đối mặt với chính mình ( fuir les face à face avec soi).

Mỗi người trong chúng ta đều khác nhau trước những đổi thay. Nếu thời niên thiếu phải sống trong sự lo âu và thảm kịch thì lúc trưởng thành tâm trạng lo sợ càng phải nhiều thêm. Trong trường hợp ngược lại (A contrario), những kinh nghiệm đầu đời có thể kích thích chúng ta sau nầy. Chúng giúp mình sức chịu đựng và dễ chấp nhận khổ đau hơn…

*Chấp nhận bằng cách nào?

Quan sát quanh mình và ghi nhận khía cạnh tích cực của hiện tượng tiến hóa bắt buộc (inéluctabilité de l’évolution) trong thiên nhiên, trong chính con người chúng ta để hiểu rằng không bao giờ “có được một cái gì mà không mất mát một cái khác” và nên biết rằng đời sống tự nó mang nặng tính chất chu kỳ (la vie est intrinsequement cyclique).

Trong viễn ảnh đó, việc thực hành thiền chánh niệm (méditation de la pleine conscience) hoặc quán chiếu (pauses contemplatives) có thể làm xoa dịu cảm xúc và giúp chúng ta ý thức rằng tất cả đổi thay không phải là một mối đe dọa, nhưng đó là một diều kiện của đời sống.

Cuối cùng, nếu rằng đây là một sự bị bắt buộc chớ không phải một sự chọn lựa thì cần phải đặt trong một bối cảnh năng động kép (double dynamique).

-Bằng cách xác định và đón nhận cảm xúc dấy lên (sợ hãi, buồn bã, tức giận), sau đó tự hỏi xem coi có thể còn có những cơ hội nào nữa không.

Trong giai đoạn nầy, sự giúp đỡ của một dệ tam nhân( bạn bè, gia đình, đồng nghiệp) có thể soi sáng thêm vấn đề. Chuyện rất đúng trong trường hợp phải chịu đựng sự mất mát tình cảm (perte affective).

- Đầu tư trong một dự án, tạo ra những viễn ảnh mới cũng là một phương cách hữu hiệu để hóa giải nỗi lo sợ của chúng ta trước những diều còn xa lạ.

Lợi ích của chánh niệm theo thiền sư Munindra

“Chúng ta dễ thành công trong mọi sinh hoạt nếu mình làm trong chánh niệm.

Không những chỉ có ích lợi về mức độ tâm linh (spiritual) mà thôi, nhưng chánh niệm cũng còn có ích lợi cả về mặt thể chất (physical level)nữa.

Đây là một tiến trình thanh lọc (purification).Khi tâm ý được tinh khiết, nhiều bệnh tật thuộc tâm thể (psychophysical diseases) sẽ khỏi đi một cách tự nhiên.

Chúng ta hiểu được các cơn tức giận, hận thù, ganh tức của chính mình- tất cả các tâm sở bất thiện (unwholesome factors) xuất hiện trong tâm ý nhưng chúng ta không hiểu tại sao rất nhiều căn bệnh về tâm thể tích tụ một cách vô thức (unconsciously) hoặc do phản xạ từ cảm xúc(reflex action emotionally), có thể được kềm hãm lại, nhưng không thể xem là được loại bỏ hoàn toàn.

Thiền sư Munindra được hỏi có khi nào ngài nóng giận không? Ngài trả lời là đôi khi có.Nhưng khi nóng giận, cáu kỉnh đến thì đều có dấu hiệu báo trước hết. Đó là cảm xúc khó chịu. Khi có dấu hiệu, chúng ta đừng nên để nó thoát ra ngoài miệng bằng lời nói hay bằng hành động. Hảy để nó đi qua.Hảy nhìn nó, nhận diện nó bằng chánh niệm,và thầm nhủ tong tâm: “nóng giận, nóng giận, nóng giận”.

Khi chúng ta tiếp cận và nhận ra được chúng, chúng ta sẽ cảm thấy bớt đi được một số bệnh tật về thể chất và về tinh thần. Chúng ta được dễ chịu, và yêu đời hơn.

Khi chúng ta để tâm đến chúng, chúng ta thấy chúng không có bản chất tỉnh (not static): Đó là một tiến trình, sau đó thì chúng biến đi, nhưng đừng mong đợi chúng đến hay chúng đi. Nếu mong đợi, chúng ta vướng mắccủa mong đợi (expecting mind).

Không bám víu, không kết tội, không hy vọng. Bất cứ việc gì xảy đến cho mình thì hảy nhận nó như thế trong hiện tại, ngay trong giây phút đó, không khen, không ghét. Nếu thương thì mình nuôi dưỡng nó bằng tâm tham (greed), nếu ghét nó thì nuôi dưỡng bằng tâm sân hận (hatred). Cả hai cách đều làm cho tâm bị mất quân bình(unbalanced), không lành mạnh (unhealthy), không tốt (unsound).

Vật thể (object) tự nó không tốt cũng không xấu. Chính tâm ý mình gán cho nó một màu sắc-nói nó tốt hay xấu. Chúng ta bị ảnh hưởng bởi lý lẽ đó và có phản ứng. Hảy nhẹ nhàn, bình thản trước mọi sự việc khi nó xảy đến.Giữ cho tâm ý được quân bình. Chúng ta đang noi theo con đường Trung đạo (middle path). Hảy hoàn toàn tỉnh giác (fully alert)

Những cảm giác khó chịu, cảm giác xấu rất nổi bật trong ta.Ngược lại khi mình có được cảm giác tốt, dễ chịu thì mình hay ít quan tâm đến chúng. Mình không thích cảm giác khó chịu, bực bội nên kết tội chúng.

Chúng ta cần đào xâu trong cảm giác xấu. Chúng ta cần phải hiểu chúng là gì.

Cần phải có sự cân bằng giữa tâm và trí, giữa cảm xúc (emotion) và tri thức (intellect), giữa đức tin (faith) và sự khôn ngoan (wisdom). Vậy làm sao thực hiện? Chỉ có sati, hay chánh niệm mới đem lại trạng thái quân bình, sự cân bằng cho cả hai.

Quá cố gắng làm cho chúng ta bồn chồn (restless), quá nhiều tập trung tư tưởng (samadhi, concentration) làm cho chúng ta buồn ngủ. Làm thể nào để biết cần bao nhiêu sức cố gắng, cần bao nhiêu samadhi mới đủ? Đó là nhiệm vụ của chánh niệm.

Khi có chánh niệm, sẽ có được sự quân bình giữa tâm và trí.” (Ngưng trích- Bình thản trong tỉnh thức-Nguyễn Thượng Chánh dịch- Thuvienhoasen)

Kết luận:

Tác phẩm của David Richo cho chúng ta thấy phảng phất nhiều tư tưởng của Phật Giáo.

Đó là lý vô thường, hữu sinh hữu diệt, nghiệp lực, tham ái, chấp ngã, buông xả, không bám víu, tỉnh thức…

*“…Vậy nguyên nhân của khổ chính là tham ái, dục vọng của con người gây ra, khiến con người bám víu vào thân ngũ uẩn cho là của “ta”. Chúng ta quên rằng trong xác thân này từng sát na biến đổi liên tục của định luật vô thường, chúng ta càng bám víu sẽ càng khổ đau…

…Đức Phật dạy chúng ta thấy rõ sự thật của khổ, vô thường là để chúng ta nhìn nhận nó để rồi làm chủ nó, giải quyết vấn đền sinh tử khổ đau. Tất cả khổ đau hiện hữu là do chúng ta luôn ý niệm về cái “ta”, cho nên bất kỳ nơi nào có tham ái nơi ấy có quan niệm về cái “ta” và sự đau khổ…”

(Ngưng trích. Thích Trí Giải- Tham ái qua lăng kính Phật Giáo-Phật Giáo Đại Chúng)

*“…Khổ đau hay duhkha là " những gì khổ nhọc và bất toại nguyện mà con người phải chịu đựng" trong sự sống, trái ngược lại với "những sự cảm nhận hài hòa và trọn vẹn"

Trong bài thuyết giảng đầu tiên tại Ba-la-nại Đức Phật đã nêu ra Bốn Sự Thật Cao quý (Tứ Diệu Đế), và trong Sự Thật thứ nhất Đức Phật nêu lên khái niệm về khổ đau và vô thường, đấy là những gì làm nền tảng cho giáo lý. Dựa trên nền tảng đó Bốn Sự Thật liên kết chặt chẽ và mạch lạc với nhau giúp hình thành toàn bộ Đạo Pháp. Bốn sự thật ấy như sau:

1- Cuộc sống là khổ đau, bởi vì tất cả đều vô thường

2- Nguồn gốc của khổ đau phát sinh từ dục vọng

3- Phương thuốc chữa chạy là đình chỉ mọi dục vọng

3- Có một con đường mang lại sự chấm dứt đó, đấy là con đường gồm tám giới luật (Bát chánh đạo)…”

(Ngưng trích- Hoàng Phong. Lạm bàn về khái niệm khổ đau trong Phật Giáo. Thưviênhoasen)

Tham khảo

- Flavia Mazelin-Salvi Psychologie magazine-Accepter ce que l'on ne peut pas changer
http://www.psychologies.com/Therapies/Developpement-personnel/Epanouissement/Articles-et-Dossiers/Accepter-ce-que-l-on-ne-peut-pas-changer

- Hoàng Phong. Lạm bàn về khái niệm khổ đau trong Phật Giáo
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-7538_5-50_6-2_17-93_14-1_15-1/

- Thích Trí Giải- Tham ái qua lăng kính Phật Giáo
http://www.phatgiaodaichung.com/Bai2011_04/000thamailangkinhpg.htm

Montreal

Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.
Đối với triết gia Immanuel Kant, lời nói dối là “cái ác bẩm sinh sâu xa trong bản chất con người” và cần phải tránh xa ngay cả khi đó là vấn đề sống còn1. Trong tác phẩm “Deciphering Lies”, Bettina Stangneth, 2017, viết rằng: “Trong số những lý do khiến người ta nói dối vì điều đó có thể giúp họ che giấu bản thân, ẩn náu và tránh xa những người xâm phạm vùng an toàn của họ.” Stangneth cho biết thêm, “cũng không khôn ngoan khi thả trẻ em ra thế giới mà không biết rằng người khác có thể nói dối chúng.” The Wasghington Post, ban kiểm tra sự thật, cho biết: Trong bốn năm làm tổng thống thứ 45, từ 2017-2021, đến cuối nhiệm kỳ, Trump đã tích lũy 30.573 lời nói dối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống - trung bình khoảng 21 lời tuyên bố sai lầm mỗi ngày. Từ khi thua cuộc tái ứng cử vào tay tổng thống Joe Biden cho đến giờ này, tranh cử với bà Harris, ông Trump càng gia tăng khẩu phần nói dối, phong phú đến mức độ không thể đếm cho chính xác.
Câu chuyện hoang tưởng “di dân ăn thịt chó, mèo” của Donald Trump và JD Vance gây ra nỗi sợ hãi, tạo ra nhiều kích động tiêu cực, vì nó được nói ra trước 81 triệu dân Mỹ, từ một cựu tổng thống. Những lời vô căn cứ tràn đầy định kiến và thù hận đó như một bệ phóng cho con tàu “Kỳ Thị” bay vút vào không gian của thế kỷ 21, thả ra những làn khói độc. Nó như một căn bệnh trầm kha tiềm ẩn lâu ngày, nay đúng thời đúng khắc nên phát tán và lan xa. Nói như thế có nghĩa, con tàu “Kỳ Thị” này, căn bệnh này, vốn đã có từ rất lâu đời. Nó âm ỉ, tích tụ, dồn nén theo thời gian, chực chờ đến ngày bùng nổ. Một tuần qua, người Haiti, là nạn nhân của cơn bùng phát này. Gần nửa thế kỷ trước, và cho đến tận nay, là cộng đồng người gốc Việt.
Sự trỗi dậy của những nhóm cực hữu đang làm sống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, một căn bệnh trầm kha chưa bao giờ thực sự chấm dứt ở Hoa Kỳ. Để thực hiện những chương trình nghị sự của mình, những người theo chủ nghĩa thượng tôn da trắng đã thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật khác nhau. Trong những năm gần đây, nhiều nhà hoạt động đã cảnh báo các nhóm cực hữu đang cố sử dụng nền tảng giáo dục làm công cụ để bảo vệ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Một bài viết trên trang mạng lithub.com của tác giả Jason Stanley đã phân tích sâu sắc về đề tài này.
Nhìn ở bề ngoài thì ông Benjamin Netanyahu, Thủ tướng Do Thái, đang làm cái việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu từng làm với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Năm đó ông Thiệu bị cáo buộc là hành động để đảng Dân Chủ thua đảng Cộng Hòa còn bây giờ thì, xem ra, ông Netanyahu lại đang tháu cáy với nước cờ tương tự tuy nhiên bản chất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Khi còn tại chức, không ít lần, T.T Nguyễn Xuân Phúc đã khiến cho dân tình hoang mang hay bối rối khi nghe những câu chữ rất lạ kỳ: “Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Vĩnh Phúc sẽ vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Long An phải trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Hải Phòng là đầu tàu quan trọng của cả nước’, ‘Bình Dương phải là đầu tàu phát triển kinh tế mạnh nhất của cả nước …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.