Hôm nay,  

Tứ Vô Lượng Tâm

09/06/201500:00:00(Xem: 6073)

Đại từ Đại bi thương chúng sanh
Đại hỷ Đại xả cứu muôn loài

Sau khi duy trì chánh niệm một thời gian, hành giả có thể chứng đắc hai giai đoạn Hỷ và Xả. Dùng con mắt từ bi để nhìn và đối xử với chúng sinh mới là mục đích rốt ráo của việc tu hành. Giới sát là giới quan trọng nhất trong các giới cấm trong Phật giáo, kể cả sát hại vi sinh vật trong nước và côn trùng dù là con sâu cái kiến. Chúng ta thấy quý vị tỳ kheo rón rén để khỏi đạp côn trùng khi đi khất thực và Thiền hành vào mùa mưa. Hai câu kệ trên cho thấy hướng nhập thế của Phật Giáo, tu không phải để mà tu, mà để phục vụ chúng sinh và muôn loài. Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Tâm Phật là tâm từ bi và trí tuệ. Không những chỉ nói tới nhân quyền, mà Phật còn mở rộng tới chúng sinh quyền (all beings)

Từ là chân tâm và bi để đối xử với các đối tượng khác bên ngoài. Trong quyển Cơ sở Khoa học của Thiền Chánh niệm (TCN) tôi có nhắc đến các thử nghiệm cho thấy những người thực hành chánh niệm khích động phần Limbic của não bộ giúp hành giả phát triển đồng cảm (Empathy), bước đầu của từ bi, nhiều hơn những người không thực hành. Những huyền thoại chúng ta hay nghe như các nhà sư ngồi Thiền trong rừng, các thú dữ và chim chóc đến đậu quanh mình nghe kinh một cách thân thiết. Thú vật có cảm thấy được hạnh từ bi của quý hành giả đắc đạo không?

Từ và Bi

Từ thường được dịch ra là Compassion và Bi là Loving Kindness. Một hình ảnh minh họa giữa sự khác biệt giữa Từ và Bi là Trái Tim Mặt Trời (The Sun is my Heart) trong khi Bi là ánh sáng chiếu rọi đến tất cả mọi vật ở địa cầu. Từ là nguồn năng lực yêu thương trong khi Bi là áp dụng vào cách ứng xử xã hội. Bi bắt đầu từ Đồng Cảm (Empathy). Đồng cảm nghĩa là hiểu biết, hay thông cảm với hành động của người khác, nhất là ý định và tình cảm của họ. Đồng cảm biểu hiện lòng độ lượng vì nhiều khi chúng ta không chấp nhận một vài hành động của một người nhưng vẫn hiểu tại sao họ làm như thế.

Loài người cổ đại xuất hiện chừng 2.6 triệu năm bắt đầu làm dụng cụ trong thời đá cũ và đá mới giúp não lớn gấp ba lần nhưng chức năng tăng 10 lần, như phát triển khả năng giao tiếp và ứng xử xã hội, tình cảm, ngôn ngữ và nhận thức. Cho đến khi con người hiện đại định cư từ kinh tế săn bắn đến kinh tế nông nghiệp (10 ngàn năm), những tình cảm căn bản của loài người như vị tha, độ lượng, quan tâm đến việc giữ gìn tiếng tốt, công bằng, tha thứ, luân lý và …tôn giáo thành hình và trở thành những giá trị tiêu chuẩn. Các nhà khoa học não bộ gọi giai đoạn này là giai đoạn social brain của não. Giai đoạn văn minh, văn hóa và tôi giáo, con người hiện đại qua hết thời tiền sử hồng hoang.

Đồng cảm là bước bắt đầu những tình cảm khác, là khả năng gần gũi, hiểu động lực, tình cảm bên trong của người khác. Nếu không có đồng cảm chúng ta chỉ sống như một đàn kiến hay đàn ong, sống chung với người khác nhưng mỗi người vẫn chỉ là một ốc đảo cô đơn! Chúng ta có những tình cảm mà các nhà khoa học não bộ gọi là tế bào não phản chiếu (mirror neutrons) giúp chúng ta thông cảm tâm trạng, tình cảm, động lực hành động của người khác.

Lý thuyết về Tâm (theory of Mind) (ToM) cho rằng khả năng suy nghĩ thuộc phần PFC. Theo ToM não chỉ phát triển đầy đủ vào giai đoạn thanh thiếu niên hay vào đầu những năm hai mươi tuổi. Tình yêu và mối liên hệ gia đình của con người sâu đậm vì con người là một sinh vật có thời niên thiếu dài nhất so với các sinh vật khác. Dĩ nhiên có những yếu tố khác góp phần vào việc phát triển tình yêu nơi con người như văn hóa, giới tính, tâm lý cá nhân.

Tình yêu lãng mạn hiện diện trong hầu hết các văn hóa và theo ToM bản chất tình yêu dựa trên yếu tố sinh lý và sinh hóa trong cơ thể. Các hóa chất như endorphin, vasopressin và oxytocin phát triển tình yêu và liên hệ. Cặp nam nữ nào giữ tình yêu gắn bó lâu dài thường có lượng Dopamine kích thích não nhiều hơn. Quý vị có thể không hứng thú vì các nhà não bộ lúc nào cũng chỉ nói chuyện vật lý- điện não và hóa chất, nhưng đây là những vật thể có thể định lượng và chứng nghiệm được. Khoa học không chấp nhận hay nghi ngờ những gì không chứng nghiệm được. Quý vị thấy các tế nào não bận rộn nói chuyện với nhau 5 ngàn lần một giây và lúc nào cũng cảnh giác về mức độ hóa chất và hormones để giữ cho thân tâm của quý vị an lành. Nghĩa là não làm việc không nghỉ 24/7 để bảo vệ an sinh của chúng ta.

Từ là lòng thương yêu rộng lớn cho chúng sinh khi họ bị đau khổ, như Bồ tát Quan Thế Âm lắng nghe tiếng kêu than của chúng sinh. Trong khi Bi thể hiện trong những ứng xử đời thường, như mỉm cười chào một người chưa quen, nhường xe cho một người lái xe đang bị kẹt ở làn trong. Chúng ta có thể dịch giản dị là tử tế đối với mọi người, nhưng Bi phản ảnh của tình thương, vì thế hay được ghép chung thành loving-kindness.Và đồng cảm là bước đầu của Bi. Trong nguyên ngữ La Tinh, kind (tử tế) cùng một gia đình với từ ngữ kin (thân bằng quyến thuộc) nghĩa là tử tế với người khác như thân quyến của mình.

Ý định phần lớn ảnh hưởng cách ứng xử của chúng ta. Thiện ý thường phát sinh hành động, ý nghĩ và lời nói tốt đẹp đối vơi người khác, còn ác ý dĩ nhiên thúc đẩy chúng ta có thể có hành vi ngược lại. Một bài thực tập thông thường trong Phật giáo là thực tập tử tế với 4 hạng người khác nhau mà chúng ta thường giao tiếp: một là những người chúng ta cảm thấy dửng dưng, không thương không ghét; hai, những người mà chúng ta không thích, thù ghét; ba, những người thân hay ân nhân; và bốn, chính chúng ta.

Dĩ nhiên tử tế với những người mà chúng ta ghét rất khó. Quý vị có nhớ một câu trong kinh Bát Đại Nhân Giác “rất khó để không ghét những kẻ thù của mình”, nhưng không có nghĩa là không làm được. Thay vì nói ác giả ác báo cầu mong cho kẻ thù gặp tai nạn cho đáng kiếp, quý vị có thể quán chiếu câu trong Kinh Pháp cú “lấy oán báo oán, oán không bao giờ tiêu tan”.

Các nhà khoa học não bộ đã thi hành những thực nghiệm và thấy là những người duy trì sân hận và ác ý dễ mắc bệnh tim mạch. Những người thù dai giống như tự uống thuốc độc chờ ngày thuốc phát tác (Hanson, p 167). Nhớ câu ca dao hữu thân hữu khổ còn sống và yêu thì phải chấp nhận cơn đau thể chất và tình cảm, không ai tránh được. Chúng ta cảm nhận cơn đau này, nhưng để chúng tự nhiên trôi đi. Chúng hiện rồi biến, như mây trôi đi trong bầu trời, xem chúng như nhũng con ngỗng trời bay qua đi không để lại dấu tích.

Trong khi giao tiếp, trong đầu chúng ta thường phân biệt rõ ràng “chúng ta” (we, us) và “họ” (them, they). Cố gắng mở rộng vòng đai chúng ta để bao gồm “họ”, tất cả những người đang sống chúng trên hành tinh xanh với chúng ta và nếu có thể tất cà chúng sinh vô tình khác, như thú vật, cây cỏ, đất đá, sông núi. Nhiều người nghĩ đây là một điều quá lý tưởng, nếu không muốn nói là không tưởng. Việc thực hiện được những điều này quá khó, nếu không muốn nói là bất khả. Triết lý và tôn giáo như Phật giáo thường đưa ra lý tưởng, ngôi sao dẫn đường trong đêm tối tăm, nhưng muốn tới đích phải bước đầu tiên.

Trong thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản quá khích ca ngợi tham lam là tốt, mánh mung là công bằng, hơn lúc nào hết đạo đức Phật có thể đóng vai trò chủ yếu trong việc ngăn chận một xã hội đầy ngạ quỷ, thiếu nhân tính và nhân tình. Quý vị có thể tập đối xử tử tế với người bạn đời thân quyến, hay bạn bè. Tôi nhớ một câu chuyện do Nhất Hạnh kể về một người chồng lái xe, trong óc nghĩ về mọi chuyện khác, trừ bà vợ bên cạnh. Quý vị thử duy trì chánh niệm trên người bạn đời, mà Jon Kabat Zinn nói là để mình be seen, hay như Nhất Hạnh nói là “I am here for you. Sống tỉnh thức bên nhau không có tốn kém gì, nhưng nuôi dưỡng tình nghĩa lâu bền, thay vì sống bên nhau trong thất niệm như hai người xa lạ. Những chuyện tử tế nho nhỏ đó là thực ra là đại bi. Từ là lý tưởng và bi là những phương cách thực hiện lý tưởng.


Quý vị có thể áp dụng Đại bi ngay khi quyết định chọn thức ăn, ít thịt cá lại, rau cỏ nhiều hơn, vừa khỏe mạnh, vừa thể hiện lòng Đại bi, dù chúng ta không thể nào giữ giới sát tuyệt đối. Mấy năm trước tôi có nghe một vị tôn túc tuyên bố một câu xanh dờn là giết kẻ ác không phạm tội sát sinh (!) Chắc vị tôn túc này muốn nhắc tới chuyện một vị bồ tát sát nhất miêu cứu vạn thử. Trong câu chuyện đó ít tai chịu nhắc tới đoạn cuối: vị Bồ Tát đó phải trả nghiệp cho việc giết một con mèo. Tôi vốn mang ơn và từng làm việc với nhiều tôn túc bên nhà nên tình thần kính trọng Tăng chúng tất cao, nhưng khi nghe những lới phát ngôn kiểu đó trong lòng không khỏi ngao ngán. Đâu phải sự tình cờ mà thời mạt pháp xảy ra!

Trích lời về từ và bi của những vị tôn túc trong hàng ngũ tăng già nhiều vô số kể. Tôi xin trích dẫn một nhận xét của một nhà khoa học có lẽ không ai không nghe danh, Albert Einstein:

A human being is a part of the whole, called by us “Universe”, a part limited in time and space. He experiences himself, his thoughts, his feeling, as something separated from the rest- a kind of optical delusion of his consciousness. This delusion is a kind of prison for us, restricting us to our personal desires and to effections for a few nearest to us. Our task must be to free ourselves from this prison by widening our circle of compassion to embrace all living creatures…Nobody is able to achieve this completely, but striving for such achievement is in itself a part of liberation anf foundation for inner security. (Jon Kabat-Zinn, trong The Minds Own Physician, p. 55). Einstein xứng đáng được gọi là Rinpoche! Đây là chỗ gặp gỡ giữa Khoa học và Đạo học. Hay nói như Arnold Toynbee, cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Đông và Tây trong quá trình tổng hợp một nền văn minh ngoạn mục trong thời đại chúng ta.

.Hỷ và Xả

Equanimity is a perfect, unshakable balance of mind. (Nyanaponika Thera)

Các giai đoạn Hỷ (Bliss), Xả (Equinimity), và Nhất tâm (Singleness of mind) có thể đạt được nếu quý vị duy trì được chánh niệm trong một thời gian dài, như quý tôn túc tu hành trong các sơn lâm cùng cốc trên dãy Hy Mã Lạp Sơn. Các nhà khoa học não bộ theo dõi được các vận hành của các sóng não và các hóa chất đến đây và họ dừng ở đây, vì họ chỉ có thể thử nghiệm đến giai đoạn này, nghĩa là thuộc lảnh vực sắc giới. Khi qua tới lỉnh vực vô sắc giới, họ trích lại kinh Phật mà không bình luận gì thêm. Các hành giả như Matthieu Ricard và các Đại Sư Tây Tạng may ra có thể giúp các nhà khoa học hiểu thêm về kiến thức này. Giản dị là nếu chưa đạt đến mức giác ngộ thì không thể mô tả tâm giác ngộ trong một não giác ngộ như thế nào. Nói theo các dự án nghiên cứu, đây là tầm giới hạn (Scope) của khoa học não bộ trong việc nghiên cứu thực hành tâm linh với tình trạng kiến thức hiện nay. Đó là lương thiện trí thức mà bất cứ một nhà khoa học nào cũng nhớ như kinh nhật tụng.

Xả được dịch sang Anh Ngữ là equanimity, theo ngữ nguyên La tinh có nghĩa là cân bằng não. Equanimity như một công tắc ngắt điện não để chấm dứt đau khổ. Nhưng Xả không phải là lãnh đạm hay vô cảm. Chúng ta vẫn sống trong cơn gió bụi nhưng không bị phiền nhiễu vì bụi đường, vì chúng ta không đeo đuổi bám víu những cảm giác vui thú và không xua đuổi các cảm thọ đau khổ. Chúng ta chỉ nhận biết đây là cảm giác vui thú và cảm giác khó chịu, đau khổ nhưng không giận dữ, bực dọc mà chỉ ghi nhận đây là một cảm giác vui thú hay khó chịu. Đây là một điều bất bình thường vì não bị điều kiện hóa là phải phản ứng với cây gậy và củ cà rốt để sống còn hoặc hưởng thú vui. Xả giúp chúng ta không thất vọng hay thỏa mãn với đời sống. Hiểu biết cuộc đời có trăm lần vui thì cũng có vạn lần buồn, làm chúng ta bình thản hơn.

Sau đây là một câu chuyện mô phỏng từ Nam Hoa Kinh của Trang Tử, minh họa cho thấy phần lớn những biến cố trong đời chúng ta là do hàng ngàn nguyên nhân đưa tới. Một người đang dạo thuyền giữa dòng sông thì thuyền bị lật úp xuống nước. Kịch bản thứ nhất là có người tìm cách lật thuyền để hại mình. Kịch bản thứ hai là thuyền lật chỉ vì một thanh gỗ lớn trôi xuôi theo dòng nước và có trăm ngàn lý do trôi đến đụng thuyền. Những biến cố trong đời chúng ta phần lớn như trong kịch bản thứ hai, do nhiều nguyên nhân đưa đẩy tới. Nghĩa là khi còn sống và còn yêu không ai tránh được những bi kịch đời sống. Các nhà văn và triết gia Tây phương gọi đây là Human Condition. Ca dao gọi là hữu thân hữu khổ. Nhờ biết điều này chúng ta không tự bắn mình thêm mũi tên thứ hai làm tăng thêm nỗi đau cho mũi tên thứ nhất. Xả giúp chúng ta không phản ứng cho các sự kiện này, như một công tắc ngắt điện, chấm dứt đau khổ, ít nhất là trong một giai đoạn. Hiểu biết được điều này có thể giúp chúng ta giữ tâm yên tĩnh trong khi gặp hoạn nạn. Điều này không đồng nghĩa với chuyện chúng ta thụ động chấp nhận số phận, bởi vì nếu có tuệ giác, chúng ta có thể tránh những hoạn nạn trong tương lai.

Hiểu biết và quyết định không phản ứng là trách nhiệm của phần Pre Fontal Cortex (PFC). Và ý định giữ tâm trong tình trạng Xả còn có sự góp tay của phần anterior cingulated cortex (ACC). Trong tình trạng Xả, giống như quý vị ngồi trên bờ sông, thấy muôn ngàn cảm thọ trôi qua, nhưng nhờ ngồi trên bờ chúng ta không bị lôi cuốn theo dòng cảm thọ đó. Khi đạt đến mức độ Xả, các hành giả báo cáo là lúc đó họ duy trì chánh niệm dễ dàng, không cần cố gắng nhiều. Duy trì chánh niệm lâu dài giúp chúng ta có thể đạt được Xả và nhưng ngược lại Xả cũng giúp chúng ta càng duy trì chánh niệm lâu dài.

Trong kinh điển quý vị có lẽ đã nghe đến những từ ngữ như cõi vô sắc giới như Thức Vô Biên Xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tuy không bàn luận về Vô Sắc Giới vì không có dữ kiện chứng nghiệm, nhưng các nhà khoa học não bộ có nhắc tới một từ ngữ tương đương, Spacious Awareness, hay Global Workspace of Consciousness, Lúc đó não như một không gian rộng lớn chứa đựng đối tượng và có lẻ đối tượng quấn chặt với ý thức. Lúc đó đối tượng và ý thức là một (Singleness of mind) Lúc đó các tia sóng gamma phóng ra trong não, kích động đồng bộ hàng triệu sóng não khác với tốc độ từ 30 đến 80 lần trong một giây. Hiện tượng này được Davidson báo cáo trong các cuộc thử nghiệm phản xạ giật mình của Matthieu Ricard. (Xem thêm phần phụ lục Cơ sở Khoa học của Thiền Chánh Niệm, tr. 169-183)

Tĩnh lặng liên hệ đến việc kích động hệ thống Đối giao cảm (PNS). Thiền sư Jack Kornfield có nhắc đến lời dạy của Tổ Tăng Xán: “Đại đạo không khó cho những người không còn yêu ghét”. Hay quý vị ráng thực hành theo một câu kệ của Thầy Nhất Hạnh “thở vào Tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười” để sống 24 giờ trong một ngày mới tinh khôi xem sao. Các phương pháp kích động như thư giãn, thở ra một hơi thật dài, thở đan điền, thực hành body scan, đọc thần chú Mani Bát Ni Hồng, niệm hồng danh Phật và các Bồ Tát, thực hành Quán niệm hơi thở … có thể kích động PNS giúp tâm quý vị tĩnh lặng.

Có tám ngọn gió bụi thế gian thường có thể làm Tâm chúng ta lay động: Vui, Khổ, Khen ngợi, Chê trách, Được, Mất, Danh thơm, Tiếng xấu… Đến một lúc nào đó tâm của quý vị vững chãi như núi xanh, thảnh thơi như mây trắng. Hạnh phúc của quý vị không còn tùy thuộc vào những hoàn cảnh bên ngoài như có nhiều tiền trong nhà băng, một chiếc xe mới, quý vị không còn mong chờ một cơn gió mát hay tránh một cơn gió lào nóng bức. Quý vị có thể hiểu thâm sâu sắc thêm những lời Phật dạy như chúng ta không thể tránh được cơn đau, nhưng chúng ta có thể chọn lựa và tránh được nỗi khổ của mũi tên thứ hai.

Quán Như Phạm Văn Minh

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.