Hôm nay,  

Ông Đạo Chuối

08/01/201600:01:00(Xem: 10192)

Ông Đạo Chuối

Truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm

 

1. Ông Đạo Chuối ngồi xuống ghế, cẩn thận phủi hai bàn chưn vô nhau trước khi đứng dậy bước vô chiếu, xếp bằng. Ông từ tốn đốt ba cây nhang, xá tả hữu và chính diện mỗi phía ba xá rồi cắm vô lư hương nhỏ trước mặt. Tay trái ông giơ lên ngực làm dấu bắt ấn, tay mặt nhè nhẹ gõ ba tiếng chuông, trầm tư theo dõi âm thanh chuông vang vọng, lơ đảng ngó ngọn khói lững lờ tỏa lên không trung. Chừng nhang tàn một phần thì ông nhắm mắt lại, định trí cho tâm vắng không. Những câu kinh hay lời di huấn của sư phụ cũng không có mặt lúc nầy. Thế giới thực tại đã biến khỏi tâm ông. Tiếng ồn ào tụi nít nhỏ trửng giởn trước sân am, tiếng lũ thanh niên hư hỏng lớn họng bàn tán về cái tên Đạo Chuối để rồi cười cợt đều không vô trong trí. Ông nhập định mỗi ngày tàn hết hai tuần nhang cho buổi Ngọ thời và lúc xế chiều sau khi thỉnh chuông thu không. Xong buổi tọa thiền ông mới làm những công việc khác, mỗi ngày như vậy không bao giờ thay đổi. Con chó vện luôn luôn nằm ngoài chiếu lim dim ngủ nhưng hỉnh mũi dõi từng động tỉnh của chủ.

Trưa nay sau buổi tọa thiền, ông bước ra khỏi chiếu, xếp lại cái gối cũ dùng làm bồ đoàn để vô góc dưới chưn bàn thờ Phật, bước ra tiếp khách.

Khách là một người phụ nữ trạc chừng ba mươi, mặt mày thanh tú, nét buồn và sự lam lũ để lại trên dung nhan đó những lằn cằn cỗi ở đuôi mắt không che lấp được  một nhan sắc ngày xưa. Đứa bé gái chừng mười tuổi, con gái của khách, áo quần tuy tươm tất nhưng đã cũ, cái áo hơi chật và cái quần ngắn lòi mắt cá, lẩn quẩn nắm vạt áo mẹ không rời mà mắt ngó chăm chăm vô nải chuối sứ mập tròn  Ông đạo chưng cúng ở một cái bàn nhỏ thấp chỗ ông tham thiền. Ông vói tay lấy đưa nguyên nải cho đứa nhỏ. Nó e ấp nhận bằng hết hai tay, ôm vô sát trong lòng như sợ người cho đổi ý. Người mẹ có vẽ như không bằng lòng cử chỉ của con nhưng không rầy, chỉ cám ơn nho nhỏ giùm con.

Đứa nhỏ vui mừng ra mặt rồi ngước mắt lên ngó mẹ, trong khi một tay vuốt vuốt những trái chuối tròn mập, bóng loáng:

‘Má, má! Hết nải chuối nầy là của con hả má?’

Ông đạo vuốt đầu đứa nhỏ, nói:

‘Phải, đó là của con. Khi con về, sư hiến cho con thêm mấy nải nửa, chỉ sợ con xách đi không nổi thôi! Hôm nay mười tư rồi. Mai là ngày vọng, ông thay chuối khác.’

Người mẹ nói nhỏ, giọng nhẹ nhàng như lúc cám ơn hồi nảy:

‘Xin sư phụ đừng nuông chìu bé quá, chúng đệ tử không dám tham lam lộc Phật đâu.’ Vừa nói người đàn bà vừa ngó xuống đất trước mặt. Ông Đạo cảm thấy người đối diện quan sát bàn chưn trần của mình liền giải thích:

‘Sư quan niệm rằng nhân sinh sống ở giửa Trời và Đất, nối kết Đất với Trời nên phải để thân mình tiếp xúc trực tiếp với Đất Trời. Chưn Người không nên mang giày dép, đầu Người không cần đội nón. Do đó khi làm lễ Phật cũng như lúc đọc kinh cầu siêu… sư đều không mang hài, cũng chẳng đội mão tì lư… Những thứ đó người đời mới bày đặt ra sau nầy thôi.’

Câu nói đưa đến vấn đề tế nhị nên không khí ngưng động một lúc khá lâu.

Con chó chùa đứng dậy hực hực. Một vài đứa nhỏ thập thò trước cửa am. Tiếng một đứa mét tấn ơn:

‘Ông Đạo Chuối ơi, thằng Thìn nó nhảy vô bốn cái lu mái chứa nước mưa của ông đạo nó tắm, nó kỳ cọ trong đó. Ông ra gõ óc nó đi. Nó không sợ tụi con!’

Ông Đạo Chuối từ tốn khoát tay cho mấy đứa nhỏ tản ra, rồi quay lại phân trần với khách:

‘Chuyện các cháu nhỏ phá phách là một trong những thử thách cho người tu hành. Cần chế ngự sự giận dữ. Mưa năm nay hơi thiểu, trận mưa nào sư cũng lấy máng xối hứng mà có bấy nhiêu. Đứa nhỏ tắm trong đó thì coi như nó muốn tắm nước Trời, nước Phật, sau nầy thì sư cũng dùng nước đó mà ăn uống thôi. Không nên quan trọng chuyện nhỏ mọn. Không cần phải giận, phải la. Tu hành cần nhứt là chế ngự con Quỷ Tam Bành!’

 Người đàn bà rụt rè:

‘Đệ tử tới đây thú thiệt không phải để viếng am mà tới để thú tội, nhờ sư phụ giải tội và cho đệ tử quy y.’

Ông Đạo ngó thẳng vô mắt khách:

‘Đạo hữu ngồi xuống ghế kia. Câu chuyện bộ còn dài ha!’ Tiếng ha ông xuống giọng vừa có vẽ quê mùa đặc biệt của vùng Thất Sơn vừa có vẽ thân mật với người đối diện.

Người đàn bà lấy nải chuối đứa bé đương ôm để xuống ghế, bẻ hai trái đưa cho con, kêu nó bước ra trước cửa ăn chuối để má nói chuyện. Chị ta chưa biết nhập đề chuyện riêng của mình như thế nào nên mở đầu bằng câu vô thưởng vô phạt:

‘Chuối xứ của sư phụ trồng được đất quá, coi ngon ớn. Đó chắc là thứ chuối danh tiếng của xứ nầy nên người ta mới kêu là chuối xứ, xứ Thất Sơn vùng mình.’

Ông Đạo Chuối mỉn cười thân thiện, nhẹ nhàng:

‘Ờ.. ờ… thì cây trái bông huê thơm ngon mới được quí chuộng. Xưa những thổ sản quí người Xiêm La đem cống sứ cho vua Đại Nam Quốc nên chúng ta ngày nay mới có chuối sứ, bông sứ. Nhiều khi người ta kêu rõ ràng hơn bằng chữ xiêm như chuối xiêm, dừa xiêm, mảng cầu xiêm, vịt xiêm, tre xiêm…… Nói chung, những thứ sứ, thứ xiêm mới có ở xứ ta chừng một trăm năm nay thôi. Hồi trước bà nội của sư nói những thứ đó rất quí, đã ít có mà lại ngon.  Mà nói về chuối thì mé sau vườn sư trồng ối thôi đủ thứ: nào là chuối cao, chuối cơm, chuối lá trắng, chuối lá đen, chuối hột, chuối ngà, chuối và tiên, chuối mật, chuối và lùn, chuối sen, chuối nanh heo.. chỉ có chuối nước là sư chưa kiếm được giống. Vùng Thất Sơn mình núi non, đá nhiều, ít sông rạch nên chuối nước rất hiếm.’

Ngừng một lúc để lấy hơi, ông Đạo chuối tiếp:

‘Thất Sơn hòn dọc dãi ngang, sư chọn chỗ nầy của núi Két để lập am là vì có hòn đá tảng làm thế ỷ dốc với lại có một khu đất rộng tiện lợi cho việc trồng chuối. Núi Sam đắc địa hơn nhưng không thuộc về Bảy Núi lại quá ồn ào, hỗn tạp…’

Người đàn bà hờ hững nghe cho có lễ phép, trí chị ta nghĩ về nguyên nhơn của danh từ Đạo Chuối. Ông đạo đã rành về chuối lại thích ăn chuối thì thiên hạ kêu bằng Đạo Chuối là phải. Nghĩ tới đây chị bắt tức cười mà cố nhín.  

Đợi ông đạo ngừng hơi để thở, chị rụt rè:

‘… Thưa về chuyện của đệ tử… Chuyện xảy ra cũng hơn mười năm nay rồi. Làm khổ lòng đệ tử từ đó tới giờ.’

Hơi cụt hứng một chút, nhưng ông Đạo vẫn bình tỉnh trong việc chuyển đề tài:

‘Đạo hữu cứ kể những gì có thể kể được, không cần đi vô chi tiết. Tội lỗi của ai thì người đó mang trên vai suốt đời dầu thiên hạ biết hay không. Sức nặng đó tạo thành lòng dằn vật u buồn, bằng những quyết định dại dột hay những xui khiến không may…’

‘Vâng, sư phụ nói rất đúng, nhiều khi con muốn nhảy liều xuống giếng, xuống sông, nhưng nghĩ bỏ lại con thơ dại trên đời thì tạo thêm nghiệp nặng khác nên nuốt nước mắt mà sống qua ngày. Thêm nữa, đời con luôn gặp điều bất hạnh.’

Ông Đạo Chuối rót đầy một tách nước, đẩy ra trước mặt người đàn bà đương rươm rướm mắt.

‘Nước trà sư dùng mỗi ngày là nước đậu nành rang. Có công dụng tan đờm, giải nhiệt và tạm thời giải luôn những muộn phiền.’

‘Đệ tử cám ơn sư phụ,’ tiếng cám ơn phát ra trong nghẹn ngào dầu người nói cố gắng mỉn cười. ‘Lỗi bằng trời nầy do lúc đó đệ tử còn quá non dại, nghe những tiếng ngọt ngào và mấy cử chỉ săn sóc thương yêu nên ngỡ là tình thiệt, mình được người chiều chuộng cũng lấy làm vui và có chút hãnh diện… Rồi chuyện phải tới đã tới. Lửa gần rơm!’

Người phụ nữ thúc thít khóc, đưa ống tay áo lên chậm nhè nhẹ nước mắt:

‘Đệ tử mắc tội ‘Khoai lang nấu trộn khoai mì’, chắc sư phụ biết rồi!’

Người đàn bà ngừng nói hơi lâu, giương cặp mắt đau khổ nhìn ông đạo. Ông tránh mắt của người đối thoại, quay mặt ngó ra ngoài trước cửa am. Vẫn còn những đứa nhỏ trang lứa với bé gái con của người đàn bà đứng ngó nó như ngó một sinh vật lạ mới gặp lần đầu.

‘Thôi đạo hữu không cần nói câu tiếp, sư hiểu rồi.  Về sau người đó đối xử với đạo hữu thế nào?’

‘Thì cũng thói ăn vụng muốn chùi mép nên kiếm cách xua đẩy đệ tử đi, mặc cho số phận của oan khiên đương tạo hình trong thân đệ tử. Bây giờ ông ta làm Hương Quản làng nầy, giàu có lớn, có xe hơi, quyền lực chỉ thua Quan lớn người Pháp chủ quận Tri Tôn mà thôi.’

‘Hèn gì!’ Trông mặt bé, sư ngờ ngợ vì thấy quen quen!’

Ông Đạo bưng tách nước của mình lên bằng cái dĩa, uống từng ngụm nhỏ như muốn xài chút thời gian suy nghĩ câu gì đó phải nói. Người đàn bà chờ đợi một lời rầy rà sau khi cố gắng thú tội. Không gian trầm lắng, tiếng tụi trẻ la hét tuốt ngoài sân nghe rõ từng âm thanh.

Người đàn bà sửa lại thế ngồi:

‘Thưa sư phụ, đời đệ tử trầm trệ chắc là vì có cái mụt ruồi viên hắc lệ dưới mi mắt mặt. Đệ tử đã lấy vôi ăn trầu phá nó lâu rồi mà xui cũng hoàn xui, chuyện nầy nối tiếp chuyện kia khiến nước mắt đêm đêm cứ tuông….’

‘Thiên hạ thường nói xàm như vậy! Đừng ngớ ngẩn tin mấy chuyện nút ruồi hên xui. Người xưa đặt điều thôi. May rủi hên xui là do hành vi của ta làm, do tâm ta hướng dẫn cái nghiệp của mình. Đừng tin bói toán, phong thủy, chỉ toàn là chuyện dối thế.’

Để tách nước xuống, ông Đạo chậm rãi:

‘Cũng đừng tin luôn chuyện cầu an, cầu siêu nữa! Thế gian còn lậm quá nhiều dị đoan cần bỏ!’

Ngưng một lúc ông tiếp:

‘Chuyện quy y thì để sư chọn ngày. Trong thời gian đó đạo hữu suy nghĩ lại về quyết định của mình.’

‘Dạ!’

‘Quy y không phải là thủ tục nhận pháp danh và nhận phái. Quy y là thời khắc đặc biệt mà một tín hữu trở thành Phật nhi bằng lời hứa với chính mình là giữ cái tâm trong sáng, làm thuần tánh để đến được Chơn Như. Lời hứa đó quan trọng vì có sự chứng giám của đấng thiêng liêng.’

‘Dạ!”

‘Phật nhi là con cái Phật, người quy y chánh thức làm con cái Phật do cái tâm tịnh của mình. Người Phật tử là người hiểu đạo nhưng đứng mé bên bờ đạo làm tín đồ, làm cư sĩ…’

‘Dạ!’

Con chó chùa nảy giờ nằm dưới chưn sư bỗng chồm dậy khừ khừ về phía trước cửa am. Ông nạt nhẹ: ‘Tuệ! Im đi con!’ Con chó nằm xuống im lặng quẩy đuôi nhưng mắt vẫn ngó ra trước sân.

Hai ba đứa con trai ở trần, ướt mem bước tới ngạch cửa mét vọng vô:

‘Ông Đạo Chuối ơi, anh em Thằng Tỵ với thằng Thìn chặt cái quài chuối trổ buồng bữa hổm bẻ mấy trái chuối đóng vóc nói là đem về luộc để ông Đạo Chuối khỏi ăn chuối nữa kìa!’

Những tiếng cười khúc khích và những trận đuổi bắt bùng vỡ tiếp ngay theo câu nói trên.

Người đàn bà nhịn không được, đứng lên tính nói gì đó, ông Đạo khoát tay ra hiệu biểu ngồi xuống, cười cười nhân hậu:

‘Sư nói rồi, phải chế ngự quỷ Tam Bành. Phải biết nhịn. Đó là bước đầu của người đi tu. Tụi nhỏ thèm thì cứ việc bẻ, thiếu cứ việc chặt đem về. Sư còn mấy nải trong liêu cũng đủ ăn cả tháng, tiếc là không có chuối tươi để cúng Phật thôi.’

‘Dạ!”

Ông Đạo Chuối bước vài bước ra khỏi am, ngoắc vài đứa tới gần, nhẹ nhàng nói:

‘Chuối của sư mới đóng vóc, coi mập ú na ú nần vậy mà chưa chín, ăn không được mà nấu thì xảm xì, chỉ có nước làm chuối chát thôi. Nói với Thìn và Tỵ nải nào lỡ chặt thì thôi, đừng chặt nữa!’  Nói xong ông đi vô, ngại rằng đứng lại tụi nhỏ không được tự nhiên.

Ngồi xuống ghế ông tiếp tục:

‘Đạo hữu thấy đó, tu hành luôn luôn có những thử thách. Phải biết nhịn. Nhịn giận, nhịn thua!’

Nói rồi ông Đạo Chuối nói một hơi thiệt mau:

‘Sư phụ của sư lúc chưa hóa, có mấy câu thiệu này hay lắm dùng để làm châm cho Phật nhi:  Ít uống rượu, ăn nhiều cháo, không ăn thịt, ăn nhiều rau, ít mở miệng, nhiều nhắm mắt, năng tắm tửa, ít trau giồi, thiểu chung chạ, đa riêng tư, ít vàng bạc, nhiều sách vở, ít cầu danh, nhiều nhịn nhục, ít ham sang, nhiều làm phước, biết nhịn thua, thương cây cối, không chấp trước…’  

Sợ khách không hiểu mấy chữ hơi xưa, ông giải thích:  ‘Ít trau dồi’ là đừng quá chú trọng đến làm đẹp, có thể quên đi bóng sắc mình, trau dồi bóng sắc mình là nguồn gốc sanh tội lỗi cho mình và cho người.’

Người đàn bà thở dài như thấm ý nguyên nhơn nỗi khổ của mình.

‘Dạ!’

‘Không chấp trước là không chằn chằn theo một quyển kinh nào mà phải thoáng để học những điều mới. Thương cây cối là quý từng gốc cây ngọn cỏ chung quanh. Đó là một phần của đất nước mình, là hồn thiêng ông bà mình trong đó, không phá hoại chúng vì những lợi lộc của mình.’

‘Dạ!’

Ông Đạo Chuối nói tới đây thì nước mắt rưng rưng, gượng cười nhè nhẹ:

‘Tóm lại, cần nhứt là cái tâm, tâm còn động, còn để buồn vui, tham giận mê hướng dẫn mình là điều nên tránh. Tâm phải tịnh.’ Rồi ông ngâm nga:

Viên thục mã thuần mới thoát trần,

Công thành hạnh mãn thấy Chơn Như.’

‘Dạ!

 .

2. Tôi từ giả sư ra về mà trí như mông lung. Nắm tay con tôi thầm nói: Sư giảng dạy nhiều nhưng đệ tử thu nhận không được bao nhiêu vì còn mang nặng nghiệp chướng. ‘Nhìn nhận mình đã làm điều gì sai trái thể hiện lòng thành thật không phải ai cũng làm được. Sai trái càng lớn thì sự thành thật càng bao la và giá trị con người mình càng tăng. Đó là căn bản của đường tu nghĩa là sửa mình, nghĩa là sám hối, chớ không phải tu là tụng kinh, gõ mỏ hay lạy Phật thường xuyên.’  Lời sư nói như xa gần khuyên tôi nên thú tội với dì mình về chuyện đã phạm hơn mười năm trước. Tôi dắc con đi về phía căn nhà mình sống khi tuổi mới lớn, nơi từng rung động con tim vì những cử chỉ săn đón, chăm sóc của ông ta mà không biết mình đương bị dẫn dụ vô cái bẩy nhớp nhúa làm lở dở cuộc đời. Tôi nhớ lúc mình cảm động và đã mềm lòng cho ông ta vuốt tóc khi ông ngâm nga mấy câu thơ ông ăn cắp ở đâu đó tôi tưởng ông đặt ra riêng tặng cho tôi…

     Em ngồi chải tóc đêm sương,

     Tình ai se ngọn gió luồn nhớ qua.

     Nhớ cười chúm chím môi hoa,

     Đừng cười to nhé vỡ òa lòng đêm.

                                    (thơ Trầm Vân)

Từ xa tôi thấy dáng dì mình ốm o, già trước tuổi đương khom lưng quét sân. Tôi ứa nước mắt sống nên kéo con đứng lại núp bên hàng cây thốt nốt trên đường. Con bé mở mắt ngạc nhiên khi thấy tôi khóc. Nó từng thấy mẹ nó thút thít trong đêm nhưng chưa từng thấy tôi khóc trên đường bao giờ. Tôi nghĩ là mình không nên làm khổ dì mình thêm nữa. Sự thú nhận lúc nầy, với sự có mặt của con bé giống ông ta  như đúc sẽ là vết dao trí mạng kéo dì ngã xuống, cái chết chắc chắn sẽ tới không lâu sau đó.
.

Thôi thì tôi xin phụ lời sư dạy. Tôi phụ luôn lòng thành thật sám hối của tôi. Tôi sẽ mang mặc cảm tội lỗi thêm một thời gian nữa, chờ hoàn cảnh thích hợp hơn. Cũng không thể kiếm ông ta cho con mình biết mặt. Thà con bé sống hồn nhiên tưởng cha mình đã chết còn hơn cho nó biết có một người cha bẩn thỉu. Tôi ngó trước mặt thấy tấm bảng lớn:

     ‘Mẫu quốc cần sự anh hùng của bạn tòng chinh diệt Phát xít.

     Tòng chinh giúp mẫu quốc là yêu nước Việt Nam.

     Giúp mẫu quốc là trả nợ sự tốt lành của mẫu quốc với nước Việt Nam.’
.

Tôi lợm giọng với những tuyên truyền đi diệt Phát xít kiểu nầy. Nhớ lại lời sư nói rằng người kia đã lớn tiếng kêu gào những câu tương tợ như vậy tôi càng chán chê. ‘Ông ta có lần vô am hỏi mượn hai cái lọng thờ Phật mẫu để che lọng cho quan Công sứ tới viếng làng, sư đã từ chối khéo nói rằng lọng nhỏ mà rách rưới đem ra chỉ làm trò cười thôi… Từ chối nhiều lần ông ta mới chịu bỏ ý định.’ Lúc nghe sư nói như vậy tôi ngờ ngợ. Bây giờ nghĩ lại chuyện đó chắc là có thiệt…’

Tiếng con bé khóc làm tôi mở mắt. Thân thể tôi như đã bị dần bằng những khúc củi tạ. Dòm hai tay mình thấy bầm tím và chảy máu nhiều chỗ trên mặt tôi biết mình đã bị bốn năm người lạ đó tấn công vô cớ rồi bỏ tôi nằm đây. Chắc là bọn tay chân của ông ta không muốn cho tôi về nhà gặp dì tôi. Chắc họ cũng đã biết chuyện tôi và con bé ở trong am sư buổi trưa nay…

Đời không dễ sống, muốn chuộc lỗi cũng không được. Thôi thì tạm dùng những trầy trật của đời mình làm phương tiện đưa mình lên khỏi những thấp hèn của cuộc sống, phải phấn đấu để bước qua những khổ đau nầy nọ. Nghĩ như vậy tôi tôi chập choạng đứng dậy, gượng nhắc chưn đi về phía lộ Tẻ đón xe đi Châu Đốc. Từ giả Tri Tôn, Tịnh Biên! Từ giả vùng Tuổi Thơ! Tôi nói với tôi: Ta ơi, chuyện đau lòng người ta làm cho mình thì nên quăng lại phía sau, sự thất vọng về cuộc đời cũng nên bỏ xuống để cho tâm mình thanh thản. Như vậy là quy y đó Ta ơi!…

3. Đêm thanh vắng, núi Két nằm chìm trong bóng đen, mấy vì sao xa xa không đủ chiếu xuống trần, tạo một cảnh mờ mờ ảo ảo muôn đời của vùng Thất Sơn huyền hoặc như cắt giấy dán lên bầu trời. Ông Đạo Chuối đương ngủ bỗng nghe như có tiếng ai kêu biệt hiệu của mình vọng lại từ thăm thẳm xa. Ông cựa mình tỉnh giấc, tiếng kêu còn vang dội  trong đầu.

Ông ngồi dậy gõ trán mấy cái cho tỉnh, tính ra sân hít thở chút khí trời buổi sáng thì nghe nóng rát mình như lửa cháy đâu đây. Từ tốn ngồi dậy, ông niệm câu Kinh Cứu Khổ rồi gom góp tập kinh chép lâu nay với mấy quyển do sư phụ truyền lại bỏ vô đãy, bước ra cửa, cũng từ tốn như khi mới biết có lửa cháy am. Lửa đã liếm hết phần sau liêu nơi làm trù phòng, ăn vòng ra gần tới phía trước, đương tạt ngọn vô mấy lu nước bên hè làm bể lu, nước tràn ra cả vũng, sôi bốc hơi hòa cuộn với khói.

Ông Đạo Chuối ngẩn ngơ nhìn nơi tu hành của mình đương từ từ bị bà Hỏa hóa ra tro bụi. Con chó Tuệ sủa sủa như thấy có chuyện gì lạ. Ông ngó về phía đó, một cái xe traction màu đen quen thuộc chạy vút từ phía sau liêu hướng về phía lộ Tẻ thẳng lên Núi Dài, ông thở ra chán chường:

‘Họ không thích mình biết chuyện riêng tư tồi tệ. Họ cũng không muốn mình nói sự thiệt rằng dân chán ngán mẫu quốc tới cần cổ vì sự gian trá độc ác của chúng.’ Ông ngó lên trời theo dõi muôn ngàn tàn lửa bay bay sáng rực trong đêm.

‘Mọi chuyện của mình rồi cũng qua. Tiếc là lòng sân si của họ quá nhiều, đè bẹp họ trong cái nghiệp thù hận vô lí. Tiếc cái am nhỏ nầy đã tạo được nhiều thiện duyên mà nay lại bị hóa.’

Ông Đạo Chuối ngồi chồm hổm xuống, xoa xoa dầu con Tuệ, dặn nó như dặn mình: ‘Từ nay con phải dùng tuệ trí của con nhiều hơn nữa nhe! Am đã mất rồi, mình vân du làm du tăng! Thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh mất mười tư năm hết năm ngàn bốn mươi tám ngày biết bao nhiêu cực nhọc, thoát bao cám dỗ sắc tài…  sư với con chịu từng đó mà xá gì!’
.

4. Từ sau trận cháy am của ông Đạo Chuối, không ai còn thấy ông đâu nữa. Vùng Thất Sơn kỳ bí với núi Két ghi được thêm một chuyện lạ để người trong vùng thỉnh thoảng kể nhau nghe. Hòn đá tảng bự xộn nám đen hơn một nửa ở trên giửa lừng Núi Két vẫn nằm đó trơ gan theo năm tháng như làm chứng tích cho trận cháy am năm nào; toà nhà lớn của ông Hương Quản gây ra nghịch cảnh khoai lang nấu lộn khoai mì vẫn hiện diện trên đường đi vô Núi Dài, với thêm nhiều nhà cửa khang trang của con cháu như chứng tỏ sự nghịch lý của đời. Nghịch lý người thấp cổ bị bách hại không được sáng soi trong khi kẻ ác độc xu thời, trải đời mình bằng nịnh hót, không dám đứng thẳng gối trước nghịch quyền thì hưởng lợi vô vàn. Buồn.
.

Nguyễn Văn Sâm

(Victorville, CA Jan. 07, 2016, mười ngày sau lễ Quy y.) 


.
.

Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.
Đối với triết gia Immanuel Kant, lời nói dối là “cái ác bẩm sinh sâu xa trong bản chất con người” và cần phải tránh xa ngay cả khi đó là vấn đề sống còn1. Trong tác phẩm “Deciphering Lies”, Bettina Stangneth, 2017, viết rằng: “Trong số những lý do khiến người ta nói dối vì điều đó có thể giúp họ che giấu bản thân, ẩn náu và tránh xa những người xâm phạm vùng an toàn của họ.” Stangneth cho biết thêm, “cũng không khôn ngoan khi thả trẻ em ra thế giới mà không biết rằng người khác có thể nói dối chúng.” The Wasghington Post, ban kiểm tra sự thật, cho biết: Trong bốn năm làm tổng thống thứ 45, từ 2017-2021, đến cuối nhiệm kỳ, Trump đã tích lũy 30.573 lời nói dối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống - trung bình khoảng 21 lời tuyên bố sai lầm mỗi ngày. Từ khi thua cuộc tái ứng cử vào tay tổng thống Joe Biden cho đến giờ này, tranh cử với bà Harris, ông Trump càng gia tăng khẩu phần nói dối, phong phú đến mức độ không thể đếm cho chính xác.
Câu chuyện hoang tưởng “di dân ăn thịt chó, mèo” của Donald Trump và JD Vance gây ra nỗi sợ hãi, tạo ra nhiều kích động tiêu cực, vì nó được nói ra trước 81 triệu dân Mỹ, từ một cựu tổng thống. Những lời vô căn cứ tràn đầy định kiến và thù hận đó như một bệ phóng cho con tàu “Kỳ Thị” bay vút vào không gian của thế kỷ 21, thả ra những làn khói độc. Nó như một căn bệnh trầm kha tiềm ẩn lâu ngày, nay đúng thời đúng khắc nên phát tán và lan xa. Nói như thế có nghĩa, con tàu “Kỳ Thị” này, căn bệnh này, vốn đã có từ rất lâu đời. Nó âm ỉ, tích tụ, dồn nén theo thời gian, chực chờ đến ngày bùng nổ. Một tuần qua, người Haiti, là nạn nhân của cơn bùng phát này. Gần nửa thế kỷ trước, và cho đến tận nay, là cộng đồng người gốc Việt.
Sự trỗi dậy của những nhóm cực hữu đang làm sống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, một căn bệnh trầm kha chưa bao giờ thực sự chấm dứt ở Hoa Kỳ. Để thực hiện những chương trình nghị sự của mình, những người theo chủ nghĩa thượng tôn da trắng đã thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật khác nhau. Trong những năm gần đây, nhiều nhà hoạt động đã cảnh báo các nhóm cực hữu đang cố sử dụng nền tảng giáo dục làm công cụ để bảo vệ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Một bài viết trên trang mạng lithub.com của tác giả Jason Stanley đã phân tích sâu sắc về đề tài này.
Nhìn ở bề ngoài thì ông Benjamin Netanyahu, Thủ tướng Do Thái, đang làm cái việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu từng làm với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Năm đó ông Thiệu bị cáo buộc là hành động để đảng Dân Chủ thua đảng Cộng Hòa còn bây giờ thì, xem ra, ông Netanyahu lại đang tháu cáy với nước cờ tương tự tuy nhiên bản chất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Khi còn tại chức, không ít lần, T.T Nguyễn Xuân Phúc đã khiến cho dân tình hoang mang hay bối rối khi nghe những câu chữ rất lạ kỳ: “Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Vĩnh Phúc sẽ vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Long An phải trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Hải Phòng là đầu tàu quan trọng của cả nước’, ‘Bình Dương phải là đầu tàu phát triển kinh tế mạnh nhất của cả nước …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.