Hôm nay,  

Đường Về Tây Trúc

25/05/201600:00:00(Xem: 6477)

Bao nhiêu năm ao ước cho đến hôm nay tôi mới có duyên lành được hành hương về Tây Trúc - Tây Trúc hay Thiên Trúc là tên gọi trước đây của xứ Ấn Độ. Trong phái đoàn tôi đi có nhóm Sợi Nắng và các Phật tử đến từ Canada cũng như Hoa Kỳ. Về chư Tăng thì có thầy Tánh Tuệ - nhà thơ Như Nhiên. Thầy là người từng sống và học tập ở Ấn Độ suốt bảy năm nên thầy nắm rất rõ về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán... của người Ấn Độ. Cũng chính vì thâm niên như vậy nên nước da thầy rám nắng và người ta thường gọi thầy với cái tên rất gần gũi là "thầy cà-ri". Ngoài ra, phái đoàn còn có thêm sư cô An Phụng và sư cô Huệ Lạc đang theo học tiến sĩ ở New Delhi tình nguyện dẫn phái đoàn gồm 30 người đi Tứ Động Tâm và những thắng tích ở Ấn Độ. Chuyến bay đáp xuống phi trường New Delhi là chúng tôi được 2 sư cô và hai người của company Siddhartha International chào đón bằng những vòng hoa rất là Ấn Độ. Tôi cùng phái đoàn hân hoan lên xe bus về khách sạn và check in vào lúc 2 giờ sáng.

Ngủ được chừng 2 tiếng, mọi người đã lục đục thức dậy vì ngủ không được, bởi múi giờ Ấn Độ khác với giờ Mỹ - Mỹ ban ngày, Ấn Độ ban đêm. Tôi tắm rửa, đánh răng và xuống nhà ăn thì đã thấy mọi người hơn một nửa phái đoàn đã ở đó. Ăn sáng xong, 7 giờ là lên xe đi thăm viện bảo tàng lớn nhất ở New Delhi, nơi có Xá-lợi xương vai, ngực và hông của đức Phật được các nhà khảo cổ học đã tìm ra và đã thử DNA xác nhận đây là xương của đức Phật Thích Ca. Vua Thái Lan vì cung kính đức Phật nên đã đúc một bảo tháp bằng vàng thật nguyên khối cao khoảng nửa mét tặng cho viện bảo tàng để an trí Xá-lợi của Phật vào trong đó. Tôi cùng quý thầy, quý sư cô nhiễu quanh chiêm ngưỡng Xá-lợi 3 vòng, sau đó có buổi tụng kinh và ngồi thiền ngay trước tháp vàng thờ Xá-lợi Phật. Tôi cảm giác mình được may mắn như đứa con đã bao năm lưu lạc nay được trở về nhà và gặp lại bóng dáng người cha thân thương của mình. Quỳ trước Xá-lợi của Phật tôi đã để cảm xúc tuôn tràn qua mấy câu thơ sau:

Con quỳ đảnh lễ Từ-ân
Thế Tôn Xá-lợi kim thân của ngài
Dù cho nắng gió vàng phai
Dù cho mưa bão miệt mài tháng năm
Chúng con son sắc một lòng
Niềm tin bất diệt vào dòng pháp âm
Như Lai ơi, con về thăm
Nghe hương giác ngộ chảy quanh tế bào.

blank
Hình ảnh Đường Về Tây Trúc.

Sau khi đảnh lễ Xá-lợi Phật, chúng tôi đến một ngôi đền lớn nhất ở đây của đạo Hindu, đó là đền Asadam. Ngôi đền này chỉ mới xây khoảng 1 thập niên trở lại đây nhưng rất nguy nga tráng lệ, kinh phí lên tới hàng tỷ Mỹ kim. Cái hay của họ là những hoạt cảnh được dàn dựng một cách sống động bằng tượng sáp dựa trên lịch sử văn hoá, tôn giáo của đất nước Ấn Độ mấy nghìn năm qua, trong đó có lịch sử của đức Phật Thích Ca. Chúng tôi thật ngạc nhiên và khâm phục sự thông minh của họ. Thông minh là bởi, hễ ai đến Ấn Độ và đi vào ngôi đền này là đã biết căn bản về nền văn hóa lịch sử đáng tự hào của họ.

Rời New Delhi, chúng tôi đáp chuyến bay về Varanasi (Ba-la-nại), nơi đức Phật chuyển đẩy bánh xe chánh pháp lần đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như với bài pháp được xem như nền tảng của Phật giáo: Tứ Diệu Đế trong vườn Nai (Sarnath - Lộc Uyển). Một trong Tứ Động Tâm này đã khiến cho phái đoàn cảm thấy chấn động tâm hồn thực sự, mặc dù ở đây chỉ còn 1 trụ đá của vua A Dục được tu bổ và lác đác những chứng tích rêu phong. Ăn trưa xong, chúng tôi đến thăm Tinh Xá Kỳ Hoàn thuộc nước Xá Vệ (Sravasti - Thành Xá Vệ), Tinh Xá này do ông Cấp-cô-độc và thái tử Kỳ-đà hiến cúng. Đức Phật đã lưu trú và thuyết pháp ở đây suốt 27 năm và độ rất nhiều vị tăng sĩ cũng như cư sĩ. Chúng tôi đã tụng lại bài kinh năm xưa mà đức Phật đã thuyết cho các đệ tử của ngài tại đây, đó là bài kinh "Thực Tập Vô Ngã". Tụng kinh xong, tôi ngồi thiền và quán tưởng về hình ảnh của đức Thế Tôn. Đang suy tư dưới cội Bồ-đề thì bỗng 1 hạt Bồ-đề rơi xuống trước mặt tôi. Chắc là đức Phật nhắc nhở tôi là cần phát huy hơn nữa hạt giống Bồ-đề trong tâm!? Tôi nhặt lấy hạt Bồ-đề và thầm cảm ơn đức Phật. Mọi người xả thiền tiến về Hương Thất đức Phật, nơi đây chỉ còn lại nền nhà bằng gạch đỏ đã ngả màu. Những giọt nước mắt xúc động đã rơi khi quỳ nơi Hương Thất đức Phật. Một số người đã nói trong thổn thức, sụt sùi “Phật ơi, giá như Ngài đang còn ở đây để độ cho con!”.

Tạm chia tay Xá Vệ Thành, chúng tôi lên xe hướng về Nepal, vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), nơi đức Thế Tôn giáng trần đã làm rung chuyển Tam Thiên Đại Thiên thế giới từ năm 623 trước công nguyên cho đến tận bây giờ. Chỗ đức Phật đản sanh nay được xây một ngôi đền bao bọc xung quanh, bên ngoài là một khu vườn rất đẹp có hồ nước, có trụ đá của vua A Dục xây vào khoảng 250 năm sau khi đức Phật nhập diệt và có cây Bồ-đề rất lớn làm nơi toạ thiền hoặc tụng kinh cho các phái đoàn hành hương. Tôi chọn một góc xa xa trong khu vườn để nhìn tổng quát về nơi đã đánh dấu sự ra đời của một bậc toàn tri diệu giác "vô tiền khoáng hậu", bất chợt có một luồn cảm giác rất lạ chảy qua dòng tâm thức. Tôi bỗng nghe văng vẳng tiếng hát mở đầu trong tác phẩm “Ánh Đạo Vàng” của Võ Đình Cường vọng lại, rất gần:

“Nhân loại ơi! Có hay chăng một vị Giác Ngộ mới ra đời?

Chúng sanh ơi! Một đấng Đại từ, Đại bi, Đại trí, Đại đức vừa xuất hiện ở dưới trần!

Ôi hân hoan, hân hoan cho toàn cả mấy tầng trời, vì chúng sanh ơi, một đóa hoa Đàm nở, một ánh sáng lạ chói ngời!

Này ai ơi! Hãy đi về phía nam dãy núi Hy-mã-lạp-sơn, vì chính ở đấy đã ra đời một đức Phật”.

Nepal là một đất nước nhỏ giáp ranh Ấn Độ, tuy nghèo nhưng đi đâu chúng tôi cũng thấy có những cái cỗng cao ở giữa đường, phía trên đều có tượng Phật Thích Ca. Trước khi rời Nepal, chúng tôi đã phát quà cho hơn 500 người lớn cũng như em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn ở đây. Nhìn những em nhỏ nước da đen nhẻm với bộ áo quần xộc xệch cầm trên tay phần quà miệng mỉm cười làm chúng tôi cũng cảm thấy thương họ hơn bao giờ hết.

Bỏ lại Lumbini, chuyến xe đưa chúng tôi đến Kushinagar, nơi đức Phật đã nhập vào vô dư Niết Bàn dưới cây Ta La song thọ. Thầy Tánh Tuệ và quý sư cô đã chuẩn bị sẵn một tấm y màu vàng rất lớn và những cành hoa để dâng lên cúng Phật. Chúng tôi cầm mỗi người mỗi góc theo hình chữ nhật của tấm y vừa đi vừa niệm Phật từ ngoài vào trong Bảo tháp. Khi nhìn thấy hình ảnh đức Phật nhập Niết Bàn thì hầu như tất cả mọi người trong phái đoàn đều không cầm được nước mắt. Tôi phóng tâm về quá khứ và tưởng tượng thời điểm khi đức Phật nhập diệt, chắc hàng đệ tử của ngài cũng ngậm ngùi gấp trăm ngàn lần bây giờ.

Gạt dòng nước mắt ngậm ngùi, đoàn hành hương hướng về Vệ Xá Ly (Vaishali), nơi có giảng đường Trùng Cát mà ngày xưa đức Phật tiếp nhận phụ nữ vào hàng ngũ xuất gia của Phật. Ở đây, quý thầy giao cho quý sư cô hướng dẫn tụng kinh, ngồi thiền để nhớ về sự đóng lớn lao một thời của bà di mẫu Kiều Đàm Di và Ni chúng. Theo như lời chia sẻ của thầy Tánh Tuệ là, với văn hoá "trọng nam khinh nữ" thời bấy giờ mà đức Phật nhận nữ giới vào hàng Chúng Trung Tôn là một sự kiện chấn động toàn đất nước Ấn Độ. Chính đức Phật đã 3 lần từ chối, nhưng nhờ A Nan cầu thỉnh nhiều lần nên đức Thế Tôn mới thâu nhận sau khi đưa ra Bát Kỉnh Pháp. Và cũng chính nhờ Bát Kỉnh Pháp mà Ni giới có được đức hạnh trang nghiêm, giới quy nghiêm mật, được chư Tăng che chở từ thời đức Phật cho đến thời nay.


x
Hình ảnh Đường Về Tây Trúc.

Vẫy tay chào Vaishali, chúng tôi hướng về Kỳ Xà Quật khi trời vừa nhá nhem tối, mọi người cơm nước xong là ngủ để chuẩn bị cho sáng ngày mai lên Núi Linh Thứu. Phái đoàn được đánh thức vào lúc 5 giờ sáng để chuẩn bị leo núi, vì nếu đi trễ sau khi mặt trời lên cao thì rất nóng. Tưởng rằng chúng tôi đi vậy là sớm, ai dè lên đó còn phải xếp hàng sau hai ba phái đoàn từ nước khác nữa. Theo như lời kể của mấy người trên đó thì mỗi ngày từ sáng tới tối có cả mấy chục phái đoàn chứ không riêng gì những phái đoàn buổi sáng như chúng tôi. Tôi có thầy bạn hiệu là Pháp Tịnh học ở Ấn Độ, mỗi khi được nghỉ lễ thầy đều về đây tụng kinh Pháp hoa hằng đêm. Tôi hỏi: "Tối như vậy sao thấy đường mà tụng?". Thầy trả lời: "Dùng đèn bin!". Nói vậy để thấy được tấm lòng của người xuất gia cũng như tại gia lúc nào cũng hướng về Đức Phật với niềm tin bất diệt. Phái đoàn Miến Điện xong là đến phái đoàn chúng tôi, mọi người thỉnh 1 tượng Phật nho nhỏ ra cùng với hoa trái và chúng tôi bắt đầu thời kinh sáng. Sau khi tụng kinh xong, chúng tôi ngồi thiền khoảng 15 phút. Mặt trời trên đỉnh Linh Thứu màu đỏ xẩm, không như những nơi khác mà chúng tôi đã từng thấy. Ánh nắng xuyên qua làn mây toả ánh sáng rực rỡ xuống đỉnh Linh Thứu, kết hợp lời kinh tiếng mõ trong cảnh rừng u tịch, chúng tôi cảm giác như có sự hiện diện của đức Phật cùng với hàng trăm đệ tử thánh chúng của Ngài trên đỉnh Linh Thứu. Một luồn cảm xúc dâng tràn trong tim tôi, tôi cảm tác:

Ta chống gậy về Linh Sơn một bận
Nghe âm vang lời Phật dạy năm nào
Kinh Diệu Pháp, kinh Kim Cang, Bát Nhã
Mặt trời lên vắng bặt dấu chiêm bao!

Trưa hôm đó, sau khi ăn cơm xong là chúng tôi lên xe hướng về Bodh Gaya - Bồ Đề Đạo Tràng. Tại đây, chúng tôi đã đi thăm Khổ Hạnh Lâm. Chuyến xe đưa chúng tôi đến chân núi. Từ chân núi lên đến hang đá khoảng chừng 1 cây số, ai muốn đi bộ thì đi, ai muốn đi xe ôm cũng có luôn. Đặt biệt, có loại dịch vụ mà tôi chưa từng thấy trên thế giới, tôi tạm gọi đó là dịch vụ “đẩy lưng”, tức là có một người đi phía sau dùng tay đẩy ở sau lưng khi lên dốc, mà đa số là các em nhỏ làm dịch vụ này. Tôi trẻ, nên chọn phương pháp đi bộ, nhưng cũng bị một “anh dịch vụ” khoảng 8 tuổi tự nguyện đẩy lên tận hang đá, nơi đức Phật tu khổ hạnh, tất nhiên tôi cũng không nỡ để “anh dịch vụ” thiệt thòi.

Hiện ra trước mắt tôi là vách đá cheo leo, dựng đứng, nhưng người ta đã làm một bậc cấp để đi lên cái hang nhỏ rộng khoảng chừng 4 mét vuông. Chính nơi này, đức Phật đã tu mấy năm và chỉ ăn mỗi ngày 1 hạt mè. Nghĩ đến đó, đôi chân tôi bất chợt quỳ xuống, hai tay chắp tại, cúi đầu đảnh lễ sát đất.

Rời Khổ Hạnh Lâm, chúng tôi trở về thăm ngôi làng có nàng Sujata đã dâng bát cháo sữa cho đức Phật, khi ngài đuối sức bên dòng sông Ni Liên Thuyền. Dòng sông Ni Liên Thuyền không biết hồi còn đức Phật nó có nước quanh năm hay không, nhưng bây giờ dòng sông đó chỉ có nước mấy tháng mùa đông mưa lũ, còn những tháng khác thì không có nước, chỉ có cát bồi.

Về Bồ Đề Đạo Tràng, cả phái đoàn bắt đầu lễ dâng y cúng dường tôn tượng đức Phật ở ngay chính giữa tháp Giác Ngộ. Sau phần dâng y là các Khóa lễ như tụng kinh sáng, thuyết pháp, ngồi thiền suốt cả ngày cùng với hàng ngàn người đến từ khắp nơi trên thế giới.

Ngoài ra, chúng tôi có phát khoảng 600 phần quà gồm: Bột, đường, gạo, dầu, áo sari…cho một ngôi làng gần Bồ Đề Đạo Tràng. Để thực hiện buổi từ thiện này cũng mất rất nhiều công sức, thời gian và phải nhờ thêm 2 người Ấn Độ bên đó vào tận ngôi làng từ ngày hôm qua để phát 600 phiếu trước cho người nghèo khó thực sự. Hôm đó cả phái đoàn toát cả mồ hôi hột, phần vì trời nắng, phần vì sự chen lấn của cả hơn 600 người.


Chúng tôi về khách sạn cũng là lúc trời nhá nhem tối. Mọi người ăn tối xong và đi ngủ để ngày mai tiếp tục ngày tu tập dưới cội Bồ đề, nơi đức Phật đã thành đạo gần 3 nghìn năm trước. Sáng sớm chúng tôi đã có mặt ở Bồ Đề Đạo Tràng lúc 5 giờ. Những tưởng vậy là sớm nhưng chúng tôi còn trễ hơn loài chim ở đây. Không biết là chúng nó có tụng kinh theo nghi thức của nó hay không mà mỗi ngày chúng bay đến cả hàng triệu con rồi hót vang những âm thanh rất du dương, trầm bỗng. Điều tôi rất lấy làm lạ là chúng bay đến rất đúng giờ, sáng khoảng từ 4 giờ đến 6 giờ, chiều từ 5 giờ đến 7 giờ. Cũng vì nhiều chim quá nên có anh Phật tử trong phái đoàn gặp "tai nạn". Chuyện là anh ấy đang lim dim mắt ngồi thiền thì bỗng một "vật thể lạ" rơi từ một chú chim đang đau bụng nào đó xuống chân anh, anh mừng thầm vì nghĩ rằng chắc là mình ngồi thiền thành tâm quá Phật thương nên cho hạt giống Bồ đề. Đang lâng lâng mỉm cười hạnh phúc với thành quả của mình thì chị vợ ngồi kế bên la lớn: "Anh ơi, chim nó ị trên chân anh kìa!".

Sau thời kinh sáng là thời thuyết pháp. Tôi đang say sưa giảng về bài kinh "Ba Dấu Ấn Thực Tại" thì bỗng một chú chó từ đâu tiến lại gần chỗ tôi ngồi rồi sà vào lòng tôi như đã quen nhau từ kiếp trước. Quý Phật tử đang nghe pháp bỗng ồ lên 1 tiếng rồi đem điện thoại ra chụp hình. Có người nói: "Chắc kiếp trước nó là đệ tử thầy!". Tôi để yên vậy và giảng hết bài pháp. Sau khi giảng xong, tôi quy y gieo duyên cho nó và đặt pháp danh là "Tu Đi", ý là mong nó tu đi để tái sanh làm người gặp Phật pháp mà tu tiếp. Đừng có tu...hú là được, vì vừa tu mà vừa hú thì lâu làm người lắm!

Sáng hôm sau tôi và mọi người chọn một nơi khác để hành lễ, nhưng Tu Đi vẫn tìm ra tôi và lại sà vào lòng. Mọi người được thêm một phen ngạc nhiên nữa.

Ở Bồ Đề Đạo Tràng hàng ngày có cả mấy nghìn người gồm cả tu sĩ lẫn cư sĩ lễ bái và tu tập. Mỗi người tụng kinh mỗi kiểu, hành thiền mỗi kiểu, lạy mỗi kiểu, nhưng rất trang nghiêm và không ai làm phiền ai cả. Tôi rất kính phục họ. Bốn ngày ở Bồ Đề Đạo Tràng tôi cảm thấy thật hạnh phúc và an lạc, tuy mình tu chỉ như hạt cát so với những người họ tu như đá, như núi ở đó. Họ lạy mỗi ngày cả mấy nghìn lạy mà vẫn tỉnh queo. Tôi thực sự ngưỡng mộ họ!

Ấn tượng về Bồ Đề Đạo Tràng, tôi cảm tác:

Sáng nay bên cội Bồ đề
Trời, người hoan hỉ chim về đọc kinh
Ba nghìn năm, một bóng hình
Như Lai còn đó, ân tình còn đây.
Tử sinh cuộc mộng đoạ đầy
Trầm luân kiếp nọ kiếp này từ đâu
Chắp tay con chỉ nguyện cầu
Muôn đời được gặp pháp mầu Thế Tôn.

Mọi người rời Bồ Đề Đạo Tràng trong lưu luyến để đón chuyến tàu đêm về lại New Dehli. Đi ga tàu Ấn Độ, chúng tôi cũng trải nghiệm được nhiều điều thú vị, trong đó có cả điều thú vị không thể nói bằng lời, mà chỉ cảm nhận bằng lỗ mũi!

Chuyến tàu đưa chúng tôi về khách sạn ở New Dehli vào buổi trưa hôm sau. Chúng tôi về Khách sạn và chuẩn bị cho buổi tiệc trà chia tay tối hôm đó. Thầy Tánh Tuệ chủ trì buổi trà đàm đã mở đầu bằng "bài diễn văn" làm mọi người cười nghiêng ngả với những câu nói dí dỏm của thầy. Tôi cũng góp mấy lời thơ vui. Hôm đó ai cũng được chia sẻ, tâm tình những gì mình chứng kiến, đi qua, cảm nhận về quê hương đất Phật. Sau tiếng cười là những dòng lệ sụt sùi luyến tiếc. Hầu như mọi người trong phái đoàn đều có một suy nghĩ chung là: Ấn Độ ơi, hẹn ngày ta trở lại!

New Dehli, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.
Từ khi Tối Cao Pháp Viện lật đổ Roe v. Wade, chúng ta đều biết câu chuyện không dừng lại ở đó. “Để tiểu bang tự quyết” chỉ là cái cớ. Và Texas, tiểu bang bảo thủ dẫn đầu, vừa chứng minh điều đó bằng một luật mới: trao cho bất kỳ ai quyền săn lùng và kiện những người dính dáng tới thuốc phá thai. Texas vốn đã có một trong những lệnh cấm khắc nghiệt nhất: phá thai bị cấm hoàn toàn, trừ vài ca y tế khẩn cấp. Không ngoại lệ cho thai dị tật chết non. Không ngoại lệ cho hiếp dâm. Không ngoại lệ cho loạn luân. Thế nên, nhiều phụ nữ Texas chỉ còn con đường tìm đến thuốc phá thai qua mạng, thường từ những nhà cung cấp ở ngoài tiểu bang. Luật mới nhắm thẳng vào cánh cửa mong manh ấy.
Suốt 250 năm, người Mỹ đồng ý rằng cai trị bởi một người duy nhất là sai lầm, rằng chính quyền liên bang vốn cồng kềnh, kém hiệu quả. Lẽ ra hai điều ấy đủ để ngăn một cá nhân cai trị bằng mệnh lệnh từ Bạch Ốc. Nhưng Trump đang làm đúng điều đó: đưa quân vào thành phố, áp thuế quan, can thiệp vào ngân hàng trung ương, chen vào quyền sở hữu công ty, gieo nỗi sợ để buộc dân chúng cúi đầu. Quyền lực bao trùm, nhưng không được lòng dân. Tỉ lệ chấp thuận của ông âm 14 điểm, chỉ nhỉnh hơn chút so với Joe Biden sau cuộc tranh luận thảm hại năm ngoái. Khi ấy chẳng ai lo ông Biden “quá mạnh”. Vậy tại sao Trump, dù bị đa số phản đối, vẫn dễ dàng thắng thế?
Có bao giờ bạn nói một điều rõ ràng như ban ngày, rồi nghe người khác nhắc lại với nghĩa hoàn toàn khác? Bạn viết xuống một hàng chữ, tin rằng ý mình còn nguyên, thế mà khi quay lại, nó biến thành điều bạn chưa từng nghĩ đến – kiểu như soi gương mà thấy bóng mình méo mó, không phải bị hiểu lầm, mà bị người ta cố ý dựng chuyện. Chữ nghĩa, rơi vào tay kẻ cố ý xuyên tạc, chẳng khác gì tấm gương vỡ. Mỗi mảnh gương phản chiếu một phần, nhưng người ta vẫn đem mảnh vỡ đó làm bằng chứng cho toàn bộ bức tranh. Một câu, một đoạn, một khẩu hiệu – xé khỏi bối cảnh trở nên lệch lạc – hóa thành thứ vũ khí đâm ngược lại chính ý nghĩa ban đầu. Câu chuyện của đạo diễn Trấn Thành gần đây là một minh họa. Anh chỉ viết đôi dòng thương tiếc chia buồn với sự ra đi của nghệ sĩ đàn bầu Phạm Đức Thành. Vậy thôi. Thế mà lập tức bị chụp mũ, bêu riếu, bị gọi “3 que,” “khát nước,” “Cali con.” Người ta diễn giải đủ kiểu, vẽ ra đủ cáo buộc: từ tội mê văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đến tội phản quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.