Hôm nay,  

Lịch Sử Lá Cờ Vàng

10/04/201800:00:00(Xem: 12748)

Trần Gia Phụng

 

Chiều Thứ Ba 27-3-2018, tại Hội đồng Thành phố Toronto, 100% nghị viên hiện diện (38/38) đã bỏ phiếu chấp thuận đề nghị thượng kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại Kỳ đài quảng trường Nathan Phillips ở City Hall Toronto ngày Thứ Bảy 28-4-2018 nhân dịp Tưởng niệm Quốc hận 30-04 từ năm nay. 

 

Đề nghị nầy do Thị trưởng John Tory cùng nghị viên Chin Lee đưa ra, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số người Việt tỵ nạn cộng sản chẳng những ở Toronto, mà cả trên toàn Canada và trên toàn thế giới, vì lá cờ nầy là di sản tinh thần thiêng liêng và là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại sau năm 1975.

 

Xin kính mời quý vị đồng hương tham dự đông đảo LỄ CHÀO CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA tại CITY HALL Toronto trong lễ Tưởng niệm Quốc hận vào lúc 12 giờ trưa ngày THỨ BẢY 28-4-2018.  Nhân dịp nầy, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại nguồn gốc lá cờ Việt Nam Cộng Hòa tức CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.

 

*

 

Xin bắt đầu từ năm 1945 là cột mốc quan trọng xoay chiều lịch sử Việt Nam.  Vào năm nầy, trên thế giới, thế chiến thứ hai đi vào tàn cuộc.  Đức thất bại ở  u Châu và đầu hàng vào tháng 5-1945, trong khi Nhật vẫn còn chiến đấu ở Á Châu.

 

Riêng tại Việt Nam, Nhật Bản mở cuộc hành quân Meigo ngày 9-3-1945, đảo chánh Pháp tại Đông Dương.  Nhật tuyên bố trao trảo độc lập lại cho Việt Nam.  Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) công bố bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945.  Nhà vua mời học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ.  Chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt ngày 17-4-1945, gồm các bộ theo lối Tây phương, nhưng đặc biệt không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng hay bộ An ninh.

 

Một trong những việc làm đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim là chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ theo hình quẻ “ly”, một trong tám quẻ của bát quái.  Quẻ “ly” gồm ba sọc song song, trong đó hai sọc ngoài (ở hai bên) là hai sọc thẳng, còn sọc ở giữa cách khoảng với nhau.

 

Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945.  Quân đội Nhật tại Đông Dương phải hạ khí giới và rút vào trong các đồn bót của mình để chờ quân đội Đồng minh đến giải giới. 

 

Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Binh hay bộ Quốc phòng để giữ gìn trật tự an ninh.  Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh (VM), lúc đó gồm khoảng 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris Éditions du Seuil, 1952, tr. 182) liền lợi dụng cơ hội thuận tiện, nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và đánh điện yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

 

Vua Bảo Đại được đại sứ Nhật ở Huế hứa giúp đỡ, dùng lực lượng Nhật còn lại ở Đông Dương, để dẹp tan VM, nhưng lo ngại nội chiến xảy ra, người ngoài sẽ lợi dụng, nên nhà vua không chấp nhận đề nghị của đại sứ Nhật, mà đồng ý thoái vị ngày 25-8-1945. 

 

Lúc đó vua Bảo Đại cũng như đa số dân chúng Việt Nam chưa biết Hồ Chí Minh là cộng sản, và nếu có biết, cũng chưa hiểu bản chất của đảng Cộng Sản.  Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945, gồm đa số là đảng viên cộng sản.  Chính phủ nầy chọn Cờ đỏ sao vàng là cờ của mặt trận Việt Minh làm quốc kỳ.

 

Khi nắm được quyền lực, Hồ Chí Minh, Mặt trận VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) gia tăng việc khủng bố, giết hại, thủ tiêu hàng trăm ngàn người không đồng chính kiến ở tất cả các cấp, từ trung ương xuống tới địa phương, làng xã trên toàn cõi Việt Nam.  Làm như thế, Việt Minh gọi là giết tiềm lực, nghĩa là giết tất cả những thành phần có tiềm năng gây nguy hiểm cho Việt Minh về sau.

 

Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, Trung Hoa và Anh dẫn quân vào giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương.  Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng cầm quyền) giải giới ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh giải giới ở nam vĩ tuyến 16 (ngang Tam Kỳ, Quảng Nam).

 

Khi quân Trung Hoa vào Việt Nam, các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) lâu nay ở Trung Hoa, cũng về theo.  Tại miền Nam, khi quân Anh đến Sài Gòn, quân Pháp cũng đi theo, tái chiếm miền Nam và kiếm cách tiến quân ra Bắc. 

 

Lúc đó, Hồ Chí Minh và VM rất bối rối, vì phải đối phó với nhiều thế lực cùng một lúc:  Quân Pháp, quân Trung Hoa (Quốc Dân Đảng), Việt Quốc, Việt Cách.  Hồ Chí Minh nhượng bộ, tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11-11-1945 (thực tế là lui vào hoạt động bí mật), thành lập chính phủ Liên hiệp ngày 1-1-1946, tổ chức tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam ngày 6-1-1946, tức giả vờ hòa giải hòa hợp nhằm yên lòng những đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc.

 

Mặt khác, để rảnh tay đối phó với tất cả những thành phần đối lập không cộng sản ở trong nước, Hồ Chí Minh và VM liền ký thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện quân đội Pháp ở Việt Nam.

 

Không thể để bị tiêu diệt mãi, vì nhu cầu sinh tồn, những người theo khuynh hướng chính trị dân tộc không cộng sản quy tụ chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, và chẳng đặng đừng tạm thời liên kết với Pháp chống lại VM cộng sản.  Năm 1948, đại diện ba miền đất nước cùng về Sài Gòn thành lập Chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam ngày 23-5-1948 do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ chính thức ra mắt ngày 1-6-1948.

 

Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị.  Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại đơn giản, không phức tạp.

 

Ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân công bố lá quốc kỳ mới hình chữ nhật, chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau và cách đều nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. 

 

Ý nghĩa thứ nhất là ba sọc ngang của lá cờ tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng tượng trưng nền tảng của quốc gia Việt Nam.  Nếu lá cờ năm 1945 của Trần Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh có từ thời vua Khải Định (trị vì 1916-1925), thì lá cờ hình thành năm 1948 lại thừa tiếp truyền thống lá cờ của Trần Trọng Kim, về hình thức, màu sắc, và cả về lý tưởng chính trị, đó là lý tưởng quốc gia, đối nghịch hẳn với cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh. 

 

Ý nghĩa thứ hai, lá cờ nầy tượng trưng cho khuynh hướng chính trị mới lúc đó (1948) ở khắp Bắc, Trung và Nam Việt Nam.  Đó là khuynh hướng chính trị dân tộc độc lập, chống lại sự đô hộ của Pháp, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp, để chống Việt Minh cộng sản.  Việt Minh cộng sản nguy hiểm trực tiếp hơn là thực dân Pháp.  Khuynh hướng nầy càng rõ nét khi cựu hoàng Bảo Đại ký hiệp định Élysée ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng.  Hiệp định Élysée chính thức giải kết hiệp ước bảo hộ năm 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam.

 

Ý nghĩa thứ ba là tính tự do dân chủ của chính thể mà lá cờ tượng trưng.  Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức lá cờ.  Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ (đã viết ở trên).  Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẩu vẽ, chứ không phải là lấy lá cờ của một tập đoàn thiểu số rồi áp đặt trên ý dân như cờ đỏ của cộng sản. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp.

 

Vận mệnh của CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ thăng trầm theo vận mệnh của đất nước.  Sau chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, chính phủ Quốc Gia Việt Nam tiếp tục chọn lá Cờ vàng Ba sọc đỏ làm quốc kỳ.  Lá Cờ vàng tung bay trên toàn lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam, từ Nam Quan xuống tới Ca Mau.

 

Khi Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh ngày 7-7-1954, nước Việt Nam bị chia hai do hiệp định Genève ngày 20-7-1954.  Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình hình miền Nam Việt Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống. 

 

Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956.  Trong khi xây dựng hiến pháp, quốc hội cũng đã bàn chuyện tuyển chọn quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẩu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. (Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc từng ngày, California: Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 200.)

 

Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới trên toàn miền Nam.  Có tất cả 350 mẩu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị.  Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẩu quốc kỳ và bài hát  nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 203.)  

 

Như thế, LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ đã được chọn lựa qua nhiều đề nghị, nhiều thảo luận, nhiều ý kiến, nhiều thử thách, chứng tỏ lá cờ nầy mang đầy đủ ý nghĩa nhất để tượng trưng cho chế độ tự do dân chủ trên quê hương của chúng ta.

 

Năm 1975, sau khi cộng sản tạm thời cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người bỏ nước ra đi.  Những người may mắn đến được bế bờ tự do, xây dựng cuộc sống mới. Họ mang theo trong tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương, gia đình, bạn bè, và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam, rồi sau đó của Việt Nam Cộng Hòa.

 

Khi ra nước ngoài, người Việt tiếp tục giữ gìn biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc.  Trong tất cả các buổi sinh hoạt đều có lễ chào cờ địa phương và chào Cờ vàng Ba sọc đỏ.  Từ đó Cờ vàng Ba sọc đỏ trở thành biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại.  Rõ nét nhất là mỗi lần sinh hoạt cộng đồng hay hội họp ở đâu, Ban tổ chức chỉ cần treo một lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ là người Việt biết địa điểm và tìm đến tham dự.

 

Cộng đồng người Việt dần dần lớn mạnh và tạo thành một thế lực cử tri quan trọng.  Nhiều tiểu bang, nhiều thành phố ở Hoa Kỳ chính thức thừa nhận LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là BIỂU TƯỢNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN.

 

Hiện nay, ở hải ngoại, lá cờ của nhà nước cộng sản Việt Nam chỉ được treo tại các tòa đại sứ và các tòa lãnh sự của cộng sản mà thôi.  Ở bên ngoài các cơ sở ngoại giao cộng sản, hoàn toàn không có bóng dáng lá cờ cộng sản. 

 

Trong khi đó, CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, tuy tạm thời không còn chính phủ, lại tung bay rợp trời ở khắp nơi trên thế giới, vòng quanh quả đất.  Dầu phải bôn ba khắp bốn phương trời và không bị ai thúc đẩy hay bắt buộc, đâu đâu người Việt Nam ở hải ngoại cũng tự động giương cao LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.  Hành động tự động đồng bộ của người Việt khắp trên thế giới chứng tỏ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là lá cờ của lòng người, sáng ngời CHÍNH NGHĨA, đời đời bất diệt.

 

Xin kính mời đồng hương Toronto và vùng phụ cần đến tham dự đông đảo lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hòa vào lúc 12 giờ trưa Thứ Bảy 28-4-2018 tại CITY HALL Toronto trong buổi Tưởng niệm Quốc hận năm nay.

 

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 11-4-2018)

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.