Hôm nay,  

Chiến Tranh Việt Minh-pháp?

4/29/201809:07:00(View: 6890)

CHIẾN TRANH VIỆT MINH-PHÁP?

 
Trần Gia Phụng

 

Sau khi sách Chiến tranh 1946-1954, từ chiến tranh Việt Minh-Pháp đến chiến tranh ý thức hệ Quốc-Cộng được nhà xuất bản Tự Lực phát hành tại California vào tháng 3-2018 và quảng cáo trên Internet, có độc giả ở xa e-mail hỏi người viết tại sao lại gọi chiến tranh 1946-1954 là chiến tranh Việt Minh-Pháp? 

 

Lý do câu hỏi nầy có thể vì trước đây, người ta thường quen gọi chiến tranh 1946-1954 là “Chiến tranh Việt-Pháp”, hay là “Cuộc kháng chiến chống Pháp”.  Nếu gọi như thế, có nghĩa là xem cuộc chiến nầy xảy ra giữa toàn dân Việt với người Pháp.  Trong thực tế, chiến tranh xảy ra tối 19-12-1946 không phải giữa toàn dân Việt với người Pháp, mà là giữa mặt trận Việt Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) với người Pháp.  Việt Minh và đảng CSĐD chỉ là một thành phần nhỏ trong toàn dân Việt mà thôi, nên không thể gọi là chiến tranh Việt-Pháp.  Lý do chiến tranh chứng thực điều nầy.

 

1.-  LÝ DO CHIẾN TRANH

 

Tháng 8-1945, Việt Minh và đảng CSĐD cướp chính quyền, thành lập nhà nước cộng sản đầu tiên ở Á Châu là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH).  Khi làm lễ ra mắt ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, Hồ Chí Minh hô hào cương quyết chống Pháp đến cùng, nguyên văn như sau: “Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp.” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Thông Tấn, 2005, tr. 26.) 

 

Tuy nhiên, khi quân Pháp nhờ quân Anh giúp sức, tái chiếm Nam kỳ, và thỏa thuận với người Trung Hoa tiến quân ra Bắc kỳ, Hồ Chí Minh cùng Việt Minh và đảng CSĐD không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp, ký liên tiếp hai hiệp ước ngày 6-3-1946 tại Hà Nội (Hiệp định Sơ bộ), và ngày 14-9-1946 tại Paris (Pháp) (Tạm ước tức Modus Vivendi), hợp thức hóa sự hiện diện người Pháp tại Việt Nam.  Hành động nầy hoàn toàn trái với lời Hồ Chí Minh thề ngày 2-9-1945.

 

Quân đội Pháp càng ngày càng gia tăng áp lực, uy hiếp Việt Minh.  Sáng 18-12-1946, tại Hà Nội, một chiếc xe của Pháp bị tự vệ Việt Minh tấn công trước trụ sở bộ Tài chính và bộ Giao thông.  Pháp gởi cho Việt Minh một thư báo tin Pháp sẽ chiếm trụ sở hai bộ đó, và yêu cầu Việt Minh dẹp bỏ những chướng ngại vật trong thành phố; nếu không Pháp sẽ tự mình khai thông đường sá.  Việt Minh xem đây là tối hậu thư thứ nhứt. (Stein Tonnesson, Vietnam 1946 – How the War Began, University of California Press, 2010, tr. 198.)

 

Cùng ngày 18-12-1946, thiếu tá Pháp Jean Julien gởi cho Việt Minh một thư khác, phàn nàn rằng cảnh sát Việt Minh không chu toàn nhiệm vu, và cho biết nếu việc nầy tiếp tục, Pháp sẽ đảm trách giữ gìn an ninh Hà Nội từ ngày 20-12-1946. Việt Minh xem đây là tối hậu thư thứ hai. (Stein Tonnesson, sđd. tr. 198.)

 

Cũng trong ngày 18-12-1946, Hoàng Hữu Nam tức Phan Bôi, thứ trưởng bộ Nội vụ Việt Minh, họp công chức Hà Nội, ra lệnh tản cư khỏi thủ đô. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn 1965, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 30.)  Dân chúng phải tản cư toàn diện.  Dân quân du kích đến từng nhà, gõ cửa kiểm soát hằng ngày, thúc giục dân chúng phải di tản. (Vân Dung Nguyên, Du lotus au sapin, Québec: Les Éditions GID, 2016, tt. 60-61.)

 

Sáng 19-12-1946, tướng Louis Morlière, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc kỳ, gởi thư cho Hoàng Hữu Nam, buộc Việt Minh tước khí giới quân Tự vệ ở Hà Nội, chấm dứt bạo động, đình chỉ việc chuẩn bị chiến tranh và để cho Pháp bảo vệ an ninh thành phố Hà Nội.  Đồng thời, Morlière còn đề nghị với Hoàng Hữu Nam triệu tập cuộc họp khẩn cấp để tìm biện pháp tránh xung đột.  Việt Minh cho đây là tối hậu thư thứ ba. (Stein Tonnesson, sđd. tr. 204.) 

 

Nếu quân đội Pháp nắm giữ an ninh Hà Nội, nghĩa là kiểm soát luôn lực lượng võ trang Việt Minh, thì sinh mệnh của chính phủ Hồ Chí Minh, các lãnh đạo Việt Minh, các lãnh đạo đảng CSĐD hoàn toàn nằm trong tay quân đội Pháp.  Việt Minh không thể chấp nhận điều nầy.  Vì vậy, một mặt Việt Minh chuẩn bị chiến tranh, một mặt Hồ Chí Minh họp Trung ương đảng CSĐD lấy quyết định.

 

Để Pháp khỏi nghi ngờ về những chuẩn bị của Việt Minh, Hoàng Hữu Nam trả lời rằng vấn đề sẽ được cứu xét trong phiên họp hằng tuần vào ngày hôm sau, thứ Sáu 20-12-1946.  Hồ Chí Minh viết thư ngắn cho đại diện Pháp là Jean Sainteny yêu cầu Sainteny thương thuyết với Hoàng Minh Giám, thứ trưởng Ngoại giao Việt Minh.  Sainteny hẹn gặp Giám cũng vào ngày hôm sau là thứ Sáu 20-12-1946.  Võ Nguyên Giáp còn cố gắng thuyết phục tư lệnh quân Pháp ở Bắc kỳ là Louis Morlière rằng để làm cho tình hình bớt căng thẳng, quân Pháp phải tỏ thiện chí bằng cách bỏ lệnh cấm trại, cho lính nghỉ ngơi. 

 

Morlière đồng ý.  Tuy nhiên, lúc 5 giờ chiều ngày 19-12, Louis Morlière nhận được tin tình báo cho biết Việt Minh sẽ tấn công tối hôm đó.  Morlière liền đổi kế hoạch, ra lệnh duy trì lệnh cấm trại, không cho quân Pháp ra khỏi căn cứ, tập trung thường dân Pháp vào những khu vực gần căn cứ Pháp để dễ bảo vệ, và chuẩn bị đối phó với tình hình. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964, California: Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 30.)  

 

Trong lúc đó, Hồ Chí Minh triệu tập Trung ương đảng CSĐD họp trong hai ngày 18 và 19-12-1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông.  Đảng CSĐD đã được Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán ngày 11-11-1945 và thay bằng Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư [Mác-xít] do Trường Chinh Đặng Xuân Khu làm tổng thư ký.  Tuy nhiên, theo lời Hồ Chí Minh “dù là bí mật, đảng [CSĐD] vẫn lãnh đạo chính nghĩa và nhân dân.” (Hồ Chí Minh toàn tập [tập 6], xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 161.)

 

Không thể để bị Pháp bắt, và cũng không thể âm thầm bỏ trốn khỏi Hà Nội một cách nhục nhã, Trung ương đảng CSĐD quyết định tấn công Pháp, dùng chiêu bài toàn quốc kháng chiến chống Pháp, bảo vệ độc lập, để giới lãnh đạo Việt Minh và đảng CSĐD có cơ hội thoát thân một cách hợp lý khỏi Hà Nội mà không bị dân chúng chê trách.  Vì vậy, Trung ương đảng CSĐD quyết định phát động cuộc chiến chống Pháp trên toàn quốc.

 

Khi kiếm cách nghị hòa với Pháp, Việt Minh giao cho ban Thường trực Quốc hội gởi điện văn ngày 30-11-1946, yêu cầu Quốc hội Pháp can thiệp để dàn xếp cuộc xung đột Việt Pháp.  Trái lại, khi quyết định phát động chiến tranh với Pháp, Hồ Chí Minh không hỏi ý kiến Quốc hội, trên danh nghĩa là cơ quan quyền lực tối cao của người Việt lúc đó, hay ban Thường trực Quốc hội, đại diện cho Quốc hội, gồm những người luôn luôn có mặt tại Hà Nội, mà chỉ hỏi ý kiến Trung ương đảng CSĐD.

 

Tuy hiến pháp ngày 9-11-1946 bị bãi bỏ ngày 14-11-1946 tức năm ngày sau khi được quốc hội thông qua, và hiến pháp nầy không được ban hành, nhưng lúc đó ban Thường trực Quốc hội đã được bầu lên và có mặt thường xuyên ở Hà Nội.  Ban Thường trực có nhiệm vụ liên lạc với chính phủ để góp ý và phê bình, quy định việc thi hành hiến pháp, liên lạc với đại biểu quốc hội khi cần thiết, cùng với chính phủ quyết định tuyên chiến, đình chiến hay ký hiệp ước.

 

Hồ Chí Minh không tham khảo ý kiến ban Thường trực Quốc hội, mà Hồ Chi Minh chỉ hội ý riêng với Trung ương đảng CSĐD, rồi quyết định tấn công Pháp.  Điều nầy có nghĩa là không phải Quốc hội Việt Nam hay ban Thường trực Quốc hội Việt Nam, tức không phải là đại biểu nhân dân Việt Nam quyết định chiến tranh với Pháp, mà Hồ Chí Minh cùng với Trung ương đảng CSĐD tự ý quyết định tấn công Pháp tối 19-12-1946.

 

Cần chú ý là khi quân Pháp nhờ người Anh giúp đỡ tái chiếm Nam kỳ từ tháng 9-1945, rồi lại đưa quân ra Trung và Bắc kỳ, tổ quốc Việt Nam đã thực sư lâm nguy từ lúc đó.  Dầu vậy, Việt Minh không kêu gọi toàn dân chống Pháp, mà Việt Minh kiếm cách thương thuyết với Pháp để tồn tại, duy trì quyền bính.  Nay không còn thương thuyết với Pháp được nữa, hết cách thỏa thuận với Pháp, Việt Minh mới quyết định đánh Pháp, là vì Việt Minh lâm nguy chứ không phải là tổ quốc lâm nguy. 

 

Như thế rõ ràng đây là chiến tranh giữa Việt Minh với Pháp, nhưng ngày hôm sau, 20-12-1946, trên đài Phát thanh Bạch Mai, Hồ Chí Minh đưa ra chiêu bài độc lập dân tộc, kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Pháp, đổ gánh nặng chiến tranh lên vai dân tộc Việt Nam. Do chiêu bài nầy mà nhiều người đứng lên đáp lời sông núi, lên đường theo Việt Minh chống Pháp.

 

2.-  THÀNH PHẦN TOÀN DÂN

 

Dựa vào lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, các sách lịch sử do cộng sản xuất bản, gọi cuộc chiến tranh bùng nổ tối 19-12-1946 giữa Việt Minh với Pháp là cuộc chiến chống Pháp của toàn dân Việt Nam.  Vậy toàn dân lúc đó là những ai và thái độ chính trị như thế nào?

 

Trước đây, xã hội Việt Nam được chia thành bốn hạng “sĩ nông công thương”.  Qua thời Pháp thuộc, sự phân hạng trên không còn thích hợp, vì trong xã hội mới, văn hóa thay đổi, chính trị thay đổi, kinh tế thay đổi, quan hệ sản xuất thay đổi.  Vì vậy, tốt hơn ở đây xin dựa vào nơi sinh sống, để chia toàn dân thành dân thành thị và dân nông thôn, dân miền núi.

 

THÀNH THỊ

 

Về chính tri, dân thành thị thời đó gồm bốn nhóm: Đầu tiên là giới quan lại triều đình, công chức thời Pháp thuộc và công chức thời chính phủ Trần Trọng Kim.  Có người bị Việt Minh gọi là “Việt gian”, “tay sai thực dân Pháp”.  Nhóm nầy tản cư để tránh lửa đạn

 

Nhóm thứ hai gồm những người không có lập trường chính trị rõ ràng, không thân và cũng không chống bên nào, chỉ muốn yên ổn làm ăn sinh sống.  Khi chiến tranh xảy ra, họ tản cư về các vùng nông thôn bình yên, tránh chiến tranh.

 

Khi Pháp đẩy lui Việt Minh, thì hai nhóm nầy quay về thành thị, tiếp tục làm ăn sinh sống dưới quyền của người Pháp như trước đây, không chú ý đến chuyện chính trị.  Như vậy, hai nhóm trên không tham gia cuộc chiến Việt Minh-Pháp.

 

Nhóm thứ ba ở thành thị là nhóm trí thức tiểu tư sản, có tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm, đứng lên đáp lời sông núi, tham gia kháng chiếng chống Pháp, không nghi ngờ và không hay biết âm mưu và thủ đoạn của Việt Minh và đảng CSĐD.  Nhóm nầy bị Việt Minh cộng sản thanh lọc năm 1949 sau khi Việt Minh bắt đầu khá mạnh nhờ nhận viện trợ của Trung Cộng.

 

Nhóm thứ tư ở thành thị gồm những người có cảm tình và theo Việt Minh, hay đảng viên CSĐD.  Nhóm nầy tuy ít nhưng hăng hái, tích cực, chấp nhận gian khổ, tranh đấu vì lý tưởng chủ nghĩa cộng sản.

 

Khi trở lui Việt Nam, Pháp dùng chiến thuyền đổ quân vào các hải cảng, đánh chiếm trước các thành phố duyên hải.  Từ đó, Pháp mở rộng vùng kiểm soát.  Pháp để yên cho dân chúng sinh sống trong vùng Pháp chiếm đóng nếu không chống Pháp, không làm hại đến an ninh.  Vì vậy, sau khi Pháp ổn định các thành phố, thì nhiều người hồi cư về thành phố, tránh chiến tranh, nhứt là từ năm 1949, khi chính phủ Quốc Gia Việt Nam được thành lập và cũng là lúc Việt minh mở những cuôc thanh trừng nội bộ, loại bỏ những thành phần trí thức tiểu tư sản. 

 

Từ đó, thành phố càng ngày càng đông đúc.  Ví dụ điển hình, trước chiến tranh, Chợ Lớn có 500,000 dân.  Năm 1949, Chợ Lớn có 1,500,000  dân. (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 173.)

 

NÔNG THÔN VÀ MIỀN NÚI

 

Dân nông thôn chiếm đại đa số trong tổng dân số Việt Nam, gồm nhiều thành phần: chủ đất (dịa chủ), nông dân, tá điền (cày thuê), thợ thủ công (mộc, nề, dệt, gốm…), buôn bán nhỏ, làm công (giúp việc).  Nông thôn ít trường học, có vùng không có trường học, nhứt là miền núi, nên trình độ văn hóa trung bình thấp, nhiều người mù chữ, dễ bị tuyên truyền, dụ dỗ.   Đất đai là tài sản của dân nông thôn, không di dời được, nên dân chúng phải bám đất mà sống, ở yên tại chỗ, dù không theo cộng sản cũng bị cộng sản khống chế, nên phải tuân theo lệnh của cộng sản để sống.

 

Nông thôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống: 1) Về kinh tế, nông thôn cung cấp lúa gạo, thực phẩm cho thành phố, kể cả cung cấp thực phẩm nuôi quân và cán bộ Việt Minh.  2) Về quân sự, Việt Minh dùng nông thôn và vùng rừng núi làm hậu cứ, lập hầm bí mật để trốn tranh.  Việt Minh ngụy trang thành nông dân, trà thộn ở nông thôn.  Nông dân là nguồn nhân lực cung cấp lính cho Việt Minh.  Nhờ đi lại với thành phố, nông dân còn cung cấp tin tức tình báo và quân sự cho Việt Minh.  Việt Minh kiểm soát chặt chẽ dân cư nông thôn, đoàn ngũ hóa dân chúng, huấn luyện dân quân, thi hành kế hoạch của Trung Cộng: Lấy nông thôn bao vây thành thị.

 

Quân đội Liên Hiệp Pháp không thể kiểm soát tất cả nông thôn khắp nước, mà chỉ đóng quân trong các căn cứ, ở các thị trấn, rồi mở những cuộc hành quân tảo thanh Việt Minh.  Quân Liên Hiệp Pháp (Pháp, Bắc Phi) khác chủng tộc, khác ngoại hình, dễ bị nhận biết, nên hành quân đến đâu, dân chúng biết ngay.  Dân chúng bắt buộc phải báo tin cho Việt Minh vì nếu không sẽ bị Việt Minh trừng trị ngay.  Khi quân Liên Hiệp Pháp rút về căn cứ, Việt Minh trở lại hoạt động, nhứt là ban đêm.  Việt Minh tổ chức kiểm điểm và xét xử.  Những ai bị tố cáo là “Việt gian”, tiếp tay cho Pháp, sẽ bị tử hình.  Nhờ khủng bố một cách sự tàn ác, Việt Minh khống chế được dân nông thôn theo lệnh của Việt Minh.

 

KẾT LUẬN

 

Như thế, hai yếu tố trên đây (nguyên nhân chiến tranh và thành phần dân chún đủ cho thấy chiến tranh 1946-1954 là cuộc chiến giữa Việt Minh cộng sản với Pháp, chứ không phải giữa toàn dân Việt Nam với Pháp.  Đó là vì Việt Minh bị Pháp dồn vào thế cùng, nên Việt Minh đánh Pháp để trốn chạy khỏi Hà Nội.  Không phải toàn dân chống Pháp, vì phần lớn dân chúng tìm đến vùng an ninh, nhứt là các thành phố đề sinh sống.  Dân chúng nông thôn không chạy được, phải bám đất để cày bừa, dầu không theo Việt Minh vẫn bị Việt Minh kềm kẹp, kiểm soát chặt chẽ.

 

Vì vậy, không thể gọi chiến tranh 1946-1954 là chiến tranh Việt-Pháp, mà nên gọi cho đúng sự thật là CHIẾN TRANH GIỮA VIỆT MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỚI PHÁP.  Lúc đầu Việt Minh thua chạy.  Đến năm 1949, Trung Cộng thành công ở Trung Hoa. Trung Cộng bắt đầu viện trợ dồi dào cho Việt Minh, làm thay đổi cuộc diện chiến tranh …

 

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 29-04-2018)

Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.