Hôm nay,  

Đất nước và nỗi lòng cầy lỏn mẹ

14/06/202400:00:00(Xem: 2408)

Capture
Cầy lỏn mẹ và con, một cảnh trong Natural Born Rebels.
 
Nỗi buồn tận huyệt của những đầu óc cải cách lớn nhất của dân tộc cũng giống như nỗi lòng của người mẹ khi thấy đàn con ngày càng suy kiệt. Mà những thách thức họ từng đối phó cũng chính là chướng ngại của người mẹ vì sự nhỏ nhen, ghen tuông của những thứ “cha/dượng” nhỏ nhen, thậm chí chỉ đơn thuần là thứ tiểu nhân mơ làm cha, làm dượng.
 
Tôi nhận ra điều này khi cùng con trai xem phim tài liệu khoa học Natural Born Rebels, chương nói về loài cầy lỏn. Loài thú này, tiếng Anh là moongoose, cái tên từng được CIA chọn làm mật danh cho chiến dịch lật đổ lãnh tụ Cuba Fidel Castro, Operation Mongoose, tuy nhiên tôi không bàn chuyện tình báo. Vấn đề ở đây còn lớn hơn nhiều bởi đó là vận mệnh, là sự sống còn của đất nước bởi những khó khăn hay hiểm nguy mà bậc làm mẹ của loài thú này hằng đối mặt cũng chính là sự “phản động” của những thế lực bảo thủ của đất nước trước những hoài bão đổi mới, đi lên.
 
Giống thú này sống tại Nam Á và Đông Nam Á, tập trung thành những cộng đồng tối đa khoảng 50 con và truyền thống “nội hôn” khiến chúng đối mặt với nguy cơ suy kiệt. Với bản năng làm mẹ, những con cầy cái hiểu rằng để phát triển nòi giống, để cho ra những đứa con khỏe mạnh, chúng phải giao phối với những con cầy đực dồi dào sinh lực khác bầy thế nhưng việc này bị chính bầy đàn của chúng chống đối, nhất là những con đực ghen tuông, sợ bị… sây sớt quyền lợi. Để tránh cảnh đổ máu, những bà mẹ cầy cả nghĩ này phải tiến hành việc phát triển giống nòi trong cảnh vụng trộm, đầy hồi hộp thế nhưng, dĩ nhiên, sự đời không phải lúc nào cũng may mắn cả.
 
Những nhà cải cách của chúng ta – sau khi có cơ hội va chạm với những nền văn minh khác - chẳng đã ưu tư về sự sống còn của dân tộc như thế là gì. Hãy nhớ lại nỗi buồn của Nguyễn Trường Tộ khi bản điều trần dâng lên vua Tự Đức bị đám triều thần ngu si đội mũ cánh chuồn cười cợt, vô hiệu hóa. Hãy nhớ lại nỗi buồn Duy Tân mà Phan Chu Trinh mang theo tận đáy huyệt: văn hóa dân tộc vẫn chưa thực sự chấn hưng, con người vẫn chưa thực sự thay đổi cách học để mạnh lên trước khi nói đến việc giành lại độc lập.
 
Vân vân, lịch sử cận đại đã chứng kiến biết bao con người với viễn kiến như thế nhưng đành bó tay, thúc thủ trước sự cười cợt, chế nhạo và phản đối quyết liệt của những thành phần bảo thủ, cắn phá như thể là đám cầy đực bất an và cả ghen, khăng khăng đòi “tắm ao ta”. Mà hình tượng “ao ta” này lại gợi nhắc hình tượng đã trở thành sáo ngữ trong cái khẩu hiệu “tiến ra biển lớn” hiện đang rôm rả; hết tiến trên kinh tế thì tiến đến văn hóa, văn học, rồi lặt vặt hơn là ẩm thực, thời trang và, thậm chí, cả … nhan sắc.

Nhưng để có thể “tiến ra biển lớn” với những bước đi vững vàng thì đầu tiên là phải mang… biển lớn về với mình, là hấp thụ những giá trị tinh hoa và phổ quát của nhân loại, một cách có hệ thống, tận gốc rễ. Không làm như thế thì hệ quả là chúng ta, từ bên trong, bất quá chỉ là một đám làm dáng, đua đòi còn, nếu đi ra ngoài, cùng lắm chỉ được chú ý, theo dõi như một thứ “đặc sản”.

Ngôn ngữ của chúng ta có tính cụ tượng và suy nghĩ chúng ta cũng nặng dấu ấn của đặc tính này. Nhận diện kẻ thù, chúng ta chỉ chú ý đến sự khác biệt bên ngoài, như Nguyễn Đình Chiểu trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
 
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan
Ngày xem ống khói chạy đen sì toan ra cắn cổ;
 
rồi đánh đuổi kẻ thù, chúng ta cũng nhìn sự độc lập – tự chủ của mình như là sự tự chủ ở cái bề ngoài, như Quang Trung trong Hịch đánh Thanh:
 
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chính luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

nên khi hấp thụ những giá trị bên ngoài, chúng ta chỉ sính những thứ cụ thể, nhỏ nhỏ. Theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trong cuốn Văn học thời toàn cầu hóa, thì thực ra thì chúng ta cũng thích hướng ngoại nhưng, đa số, chỉ thích cái gì nhỏ nhỏ mà đố kỵ với những gì có tính hệ thống, từ tận gốc rễ. Thích những gì nhỏ nhỏ, phơn phớt bề ngoài nên chúng ta khiếp hãi và báo động khi có cảm giác choáng ngợp trước những giá trị ngoại lại, như “dư luận xôn xao” ở miền Nam vào thập niên 1970 trước “hiện tượng sách dịch”, khi số lượng sách dịch qua mặt sách Việt. [1]


Có lẽ chính vì thế nên, cho đến bây giờ, ngã đường “tiến ra biển lớn” vẫn tiếp tục là khẩu hiệu chỉ để hô và cái “biển lớn” mang ra hay mang về chỉ là những gì phơn phớt, có tính trình diễn, như một thứ mì ăn liền.
 
Kể ra thì, gần một thế kỷ trước, đã có một thế hệ chấp nhận đổ máu để mang về một thứ “biển lớn” thật sự, có danh xưng rất oách là “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Đầu tiên là âm thầm, bí mật, sau đó là ồ ạt với sự bảo kê của bạo lực nhưng, như có thể thấy với hậu quả nhãn tiền, nó chỉ mang lại tác dụng duy nhất là tự đày đọa dân tộc mình, tự làm chậm chân đi của đất nước mình. Một thứ “biển lớn” mà cả nơi đã khai sinh ra nó và cả nơi đầu tiên áp dụng đã cho vào hàng phế thải. Còn trên đất nước chúng ta thì, có thể nói, đã chết lâm sàng và chỉ có thể tồn tại với cuộc sống thực vật qua những nghi lễ tế tự gượng gạo, hoàn toàn trái ngược với thực tế lịch sử.

Và cái đám cầy lỏn đực tồn tại theo những nghi lễ tế tự giả tạo kia. Càng yếu sinh lý như những hậu duệ đang sa sút và suy kiệt vì tập tục “nội hôn”, chúng càng bất an trước những khác lạ, dồi dào sinh lực hơn mình. Càng đau đớn làm tình với bóng ma của quá khứ như những con đực bị bệnh bất lực, chúng càng dữ dội trong sự ghen tuông bấy nhiêu. Chúng cảnh giác rình mò. Chúng khăng khăng kháng cự và chúng gầm gừ cắn xé.
 
Tra cứu thêm từ các tài liệu phổ thông tôi được biết thêm rằng, trong những tình thế khẩn cấp, cầy lỏn có thể dũng cảm chiến đấu chống lại cả sư tử, thậm chí từng có việc một con cầy lỏn dũng cảm đối phó trong vòng vây của bốn con sư tử.Vượt qua những giấy phút khiếp hãi ban đầu, con cầy đã trấn tỉnh để lắt léo tránh né nanh vuốt của đối thủ, có khi bất thình lình nhảy ra đối đầu, cắn vào mũi của kẻ thù rồi tẩu thoát. Mà để có thể chống trả kiên cường như thế thì, đầu tiên, con cầy lỏn tinh quái này phải có sức khỏe và phải kiên cường trong ý chí sinh tồn nên, do đó, khó mà tin rằng đó là một sản phẩm “nội hôn”.

Để sinh tồn, tổ tiên chúng ta đã từng đối đầu với con sư tử láng giềng như thế. Láng giềng này, vào đời Tống, đã đạt đến sức mạnh cực đại như một siêu cường của thế giới nhưng đã bị Lý Thường Kiệt đánh cho tan tành và, nhà Lý, vào thời điểm đó, là triều đại đã thực sự mang về cả một “biển lớn” khi công nhận Phật giáo là quốc giáo.

Còn cái bầy cầy chỉ có thể tồn tại theo những nghi lễ giả tạo và vờ vịt thống khoái khi khổ sở làm tình với quá khứ kia. Cứ nhìn cảnh chúng mệt mỏi, máy móc và suy kiệt khi đối đầu với sư tử, ai mà không nhận rằng đó chỉ là thứ sản phẩm nội hôn, sự giao phối nội bộ của những giá trị bảo thủ đã mang về đất nước gần một thế kỷ trước?

Cái tham vọng “tiến thẳng” lên một xã hội lý tưởng chỉ có trên lý thuyết đã thất bại ê chề. Và cái tham vọng “tiến thẳng ra biển lớn” nhất định cũng sẽ thất bại tương tự bởi, nếu chỉ vùng vẫy trong cái ao nhà chật hẹp, làm sao có thể, trong thoáng chốc, tự tin giữa sóng gió của đại dương?

Bởi thế cái chính không phải là vật vã giao hợp với quá khứ hay hò hét những khẩu hiệu giả tạo như một thứ viagara tinh thần. Cái chính là học theo những con cầy mẹ, là thật sự mở cửa về tinh thần, là giao phối với những giá trị tinh hoa và phổ quát của nhân loại một cách có hệ thống, tận gốc rễ, đừng có nông cạn và sốc nổi như thể đám trẻ trâu học đòi.
 
Chú thích:
  1. Năm 1970 là năm mà số lượng đầu sách dịch qua mặt đầu sách Việt tại thị trường sách báo miền Nam và gây nên mối lo âu về “hiện tượng sách dịch”. Tháng 8/1973 tạp chí Văn đã ra số đặc biệt về hiện tượng này, trong đó Mặc Đỗ đã thẳng thừng bài bác, cho rằng sự lo âu này là vô căn cứ.
Văn là bán nguyệt san và trong 11 năm tồn tại đã dành ra 90 số, tức gần 1/3 tổng số phát hành, cho những chủ đề về các tác giả hay tác phẩm ngoại quốc.

Theo Võ Phiến thì một trong những lý do làm nên hiện tượng sách dịch là sự phát triển của các đại học, giúp nâng cao trình độ dân trí. Dân trí cao hơn nhưng do các đại học dạy bằng tiếng Việt, không dạy bằng tiếng Pháp như thời thuộc địa nên trình độ ngoại ngữ của giới tốt nghiệp đại học không cao tương xứng. Dân trí cao hơn mà năng lực ngoại ngữ không tương xứng thì dẫn đến nhu cầu đọc sách dịch.

Võ Phiến (1986), Văn Học Miền Nam – tổng quan, Văn Nghệ, California, trang 240-243.

Khi thiên tai đổ xuống, thảm họa xảy ra, và con người với khả năng chống đỡ có giới hạn, thì những gì nhân loại có thể làm là cứu nhau. Ngược lại với nguyên tắc tưởng chừng như bất di bất dịch của một thời đại mà con người luôn hướng đến hòa bình và lương thiện, lại là các thuyết âm mưu tạo ra để lan truyền thù ghét và mất niềm tin vào chính quyền đương nhiệm. Đại dịch Covid-19 vĩnh viễn là sự thật của lịch sử Mỹ, trong triều đại của Donald Trump. Tòa Bạch Ốc của Trump lúc ấy, qua lời mô tả của những nhân viên trong ngày dọn dẹp văn phòng làm việc để bắt đầu bước vào giai đoạn “work from home” là “ngôi nhà ma.” Giữa lúc số người chết tăng theo từng giây trên khắp thế giới thì Trump vẫn điên cuồng xoay chuyển “tứ phương tám hướng” để kéo người dân quay về một góc khác của đại dịch, theo ý của Trump: “Covid không nguy hiểm.”
Mặc dù các bác sĩ tâm thần có bổn phận bảo mật các thông tin sức khỏe tâm thần do bệnh nhân tiết lộ, nhưng hầu hết các tiểu bang tại Hoa Kỳ đều có luật bắt buộc hoặc cho phép bác sĩ tâm thần tiết lộ thông tin bí mật khi bệnh nhân có triển vọng gây tổn hại cho cộng đồng...
Trong tuần lễ cuối cùng của chiến dịch tranh cử tổng thống vào năm 1980 giữa Tổng Thống Đảng Jimmy Carter (Dân Chủ) và ứng cử viên Ronald Reagan (Cộng Hòa), hai ứng cử viên đã có một cuộc tranh luận duy nhất vào ngày 28 tháng 10. Trong cuộc tranh luận, Reagan đã nêu ra một trong những câu hỏi quan trọng nhất trong mọi thời đại: “Hôm nay quý vị có khá hơn bốn năm trước hay không?” Câu trả lời của Carter là “KHÔNG." Cùng với một số lý do không kém quan trọng khác, số phiếu của ông đã giảm xuống vào những ngày quan trọng cuối cùng của chiến dịch tranh cử. Reagan đã giành được số phiếu phổ thông lớn và chiến thắng trong cuộc bầu cử.
Nobel là một giải thưởng cao qúy nhưng đó không phải là tất cả hay tối thượng mà, xét cho cùng, mục tiêu của nền văn học quốc gia hay bất cứ lĩnh vực nào khác đâu nhất thiết là hướng tới giải Nobel? Mahatma Gandhi đã năm lần bị bác giải Nobel Hoà Bình nhưng so với một Henry Kissinger hí hửng ôm nửa cái giải ấy vào năm 1973, ai đáng ngưỡng mộ hơn ai? Tuyên ngôn Nobel Văn Chương 1938 vinh danh nhà văn Mỹ Pearl Buck về những tác phẩm “diễn tả xác thực đời sống của nông dân Trung Hoa” nhưng, so với Lỗ Tấn cùng thời, nhà văn không chỉ diễn tả xác thực đời sống mà cả tâm não của người Trung Hoa, ai để lại dư âm lâu dài hơn ai?
Nếu mũ cối là biểu tượng của thực dân Tây phương vào thế kỷ 18 thì, bây giờ, “năng lượng tích cực”, như là diễn ngôn của thực dân Đại Hán với những dấu ấn đậm nét của tân hoàng đế Tập Cận Bình, đã trở nên gắn bó với người Việt, từ diễn ngôn của thể chế cho đến giọng điệu ngôn tình của những đôi lứa bỡ ngỡ trước ngưỡng cửa hôn nhân.
AI là trí tuệ nhân tạo. AI là một kho kiến thức nhiều vô cùng vô tận, đã siêu xuất chứa đựng nhiều thư viện nhân loại hơn bất kỳ dữ liệu tri thức nào, và cứ mỗi ngày AI lại mang thêm nhiều công năng hữu dụng, mà một người đời thường không thể nào có nổi kho tri thức đó. Trong khi đó, Thầy Tuệ Sỹ là một nhà sư phi thường của dân tộc, với những tri kiến và hồn thơ (như dường) phong phú hơn bất kỳ nhà sư nào đã từng có của dân tộc Việt. Câu hỏi là, AI có thể biểu hiện như một Tuệ Sỹ hay không? Chúng ta có thể gặp lại một phong cách độc đáo của Tuệ Sỹ trong AI hay không? Thử nghiệm sau đây cho thấy AI không thể sáng tác được những câu đối cực kỳ thơ mộng như Thầy Tuệ Sỹ. Để thanh minh trước, người viết không phải là khoa học gia để có thể hiểu được vận hành của AI. Người viết bản thân cũng không phải học giả về kho tàng Kinh Phật để có thể đo lường sự uyên áo của Thầy Tuệ Sỹ.
Israel và Iran đã âm thầm chống nhau trong một thời gian dài. Nhưng nhiều diễn biến sôi động liên tục xảy ra gần đây làm cho xung đột giữa hai nước leo thang và chiến tranh có nguy cơ bùng nổ và lan rộng ra toàn khu vực. Điển hình là vào tháng 4 năm nay, Iran công khai tấn công bằng tên lửa vào lãnh thổ Israel. Đầu tháng 10, Israel đã tấn công bằng bộ binh ở miền nam Lebanon. Trước đó, trong cuộc không kích vào trụ sở dân quân Hezbollah ở Beirut, Israel đã tiêu diệt thủ lĩnh Hezbollah là Hassan Nasrallah và nhiều nhân vật quan trọng khác.
Nhà báo Cù Mai Công vừa lên tiếng nhắc nhở đồng nghiệp (“Ráng Xài Tiếng Việt Cho Đúng, Xài Bậy, Dân Họ Cười Cho”) vào hôm 6 tháng 9 vừa qua. Ông dùng tựa một bản tin của báo Dân Trí (“Hai Kịch Bản Siêu Bão Yagi Tác Động Đến Đất Liền”) như một thí dụ tiêu biểu: “Trong toàn bộ các tự điển tiếng Việt xưa nay, ‘kịch bản’ nguyên nghĩa là bản viết cho một vở kịch, sau có thể mở rộng thành văn bản, bản thảo về nội dung cho một phim truyền hình, quảng cáo, phim ảnh, gameshow…
Trong nhiều ngày qua, Donald Trump và Cộng Hòa MAGA tung rất nhiều tin giả hay bóp méo và nhiều thuyết âm mưu liên quan đến cơn bão lụt Helene một cách có hệ thống. Mục đích để hạ đối thủ Kamala Harris và Đảng Dân Chủ. Theo tường thuật của CNN vào ngày 6/10, Cựu Tổng thống Donald Trump đã đưa ra hàng loạt lời dối trá và xuyên tạc về phản ứng của liên bang đối với cơn bão Helene. Theo MSNBC, “Những lời dối trá đó đã được khuếch đại bởi những người như tỷ phú Elon Musk, nhà lý luận âm mưu chuyên nghiệp Alex Jones và ứng cử viên Đảng Cộng hòa đang dính nhiều bê bối cho chức thống đốc Bắc Carolina, Mark Robinson. Dân biểu Marjorie Taylor Greene, một đồng minh trung thành của Trump.” Ngay cả Hùng Cao, một nhân vật MAGA mới bước vào chính trường cũng góp phần vào việc nấu nồi canh hẹ này.
“Luật Phòng Chống tham nhũng ở Việt Nam năm 2005 nêu rõ: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.