Hôm nay,  

Đủ Điểm Làm Người?

01/08/202500:00:00(Xem: 2207)
 
iStock-2159552400 học trò bé

Nghiên cứu cho thấy học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt. Ảnh: istockphoto.

 
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy.

Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.

Nói đến con số, không ai mê số như tổng thống Trump. Với ông, IQ là thước đo tuyệt đối. Ai về phe ông thì “IQ cao.” Ai phản đối – giáo sư, nghệ sĩ, nhà báo, thẩm phán – ai nấy đều “thấp”, đều “very stupid”. Còn ai vừa tâng bốc vừa có tiếng như Kanye West – người từng bảo chế độ nô lệ là “một lựa chọn” – thì được ông ca ngợi là “rất, rất thông minh.”

Niềm tin đơn giản  – rằng một con số có thể định nghĩa con người – nghe thiếu tim óc, nhất là khi thốt ra từ miệng một chính trị gia. Nhưng nó đã từng là một chính sách quốc gia.

Vào đầu thế kỷ 20, Alfred Binet, một nhà tâm lý học người Pháp, sáng tạo ra bài kiểm tra giúp trẻ em có nhu cầu đặc biệt được hỗ trợ trong học đường [1]. Nhưng khi bài kiểm tra ấy vượt đại dương sang Mỹ, nó không còn là công cụ hỗ trợ, mà trở thành công cụ phân loại. Henry Goddard – người tiên phong áp dụng Binet test tại Mỹ – nhanh chóng chia trí tuệ con người thành ba bậc: “idiot” (ngu si), “imbecile” (đần độn), và một chữ mới do ông sáng chế: “moron” (tửng/ngố) [2].

Moron – hay tửng – theo ông – là hạng nguy hiểm nhất, vì những người này có thể hòa nhập xã hội mà không ai biết. Họ biết đi làm, biết yêu, biết đẻ – nhưng không giỏi - và như vậy cần phải ngăn chặn họ, bằng cách ly, hoặc bằng triệt sản.

Năm 1911, Henry Goddard áp dụng bài kiểm tra IQ cho 2.000 học sinh trường công, rồi tuyên bố: có tới 18% trong số đó thuộc diện “thiểu năng trí tuệ” [3]. Kết luận này – không có nhóm đối chứng, không qua thẩm định khoa học – vậy mà nhanh chóng được xem như chân lý. Chỉ bốn năm sau, học khu Los Angeles mở chiến dịch “điều tra trí tuệ” toàn diện, thu thập hồ sơ học tập, đánh giá sức khỏe, và áp dụng bài kiểm tra Binet để xếp lớp học sinh. Những em bị xem là “lệch khỏi tiêu chuẩn” – không cần vi phạm kỷ luật hay thất học – lập tức bị tách khỏi lớp bình thường.

Đến năm 1921, tại Columbus, Ohio, người ta áp dụng cách phân loại tương tự. Giữa niên học, 41 học sinh bị buộc phải học lại chương trình học kỳ trước vì điểm IQ không khớp với “tuổi trí tuệ.” Sáu em bị giáng nửa lớp. Một em bị hạ nguyên năm. Ngược lại, 22 học sinh có điểm cao bất thường được nhảy lớp – không phải vì thành tích, mà vì con số.

Và kể từ đó, biểu đồ hình chuông trở thành giáo trình quốc gia. [4]

Đến năm 1954, việc kiểm tra IQ đã trở thành một định chế lớn trong giáo dục Mỹ. Chỉ riêng trong năm ấy, hơn 75 triệu bài thi chuẩn hóa được tổ chức cho khoảng 25 triệu học sinh – tức bình quân ba bài mỗi học sinh, chỉ để phân loại. Những em đạt điểm cao – nằm phía tay phải của biểu đồ hình chuông – được xếp vào lớp nâng cao, hưởng chương trình tốt hơn, giáo viên giàu kinh nghiệm hơn. Ngược lại, những em nằm bên trái đường cong – bị xem là thấp IQ – bị chuyển sang các lớp gọi là “Life Skills”. Nghe thì tưởng nhân văn, nhưng thực chất chỉ là nơi dạy trẻ cách tồn tại bên lề: không có văn chương, không có lịch sử, không có tư duy trừu tượng. Chỉ có những bài học căn bản để “làm theo,” và sống trong khuôn mẫu do người khác vạch sẵn.

Năm 1959, James Bryant Conant – cựu hiệu trưởng Đại học Harvard – đề nghị hạ ngưỡng IQ dành cho học sinh “năng khiếu” từ 140 xuống còn 130. Chỉ một vạch nhỏ được kéo xuống trên biểu đồ, thế là nước Mỹ bỗng có thêm hàng trăm ngàn “thần đồng.” Nhưng ở phía bên kia đường cong, mọi chuyện lại khắc nghiệt hơn. Chỉ cần một học sinh có IQ 72 thay vì 70 là đã đủ để không bị liệt vào diện “thiểu năng trí tuệ,” và vì vậy có thể tránh khỏi các biện pháp cưỡng bức như triệt sản. Cho đến tận năm 1981, tiểu bang Oregon vẫn còn duy trì luật triệt sản đối với người bị dán nhãn “không đủ trí tuệ” [5].
Như thế, với chỉ một cú rê bút trên biểu đồ, vận mệnh con người bị đẩy sang bên phải hay bên trái vạch ngăn.

Vào đầu thập niên 1970s, một số học giả bắt đầu thấy rõ cái giá của việc gán nhãn. Trong một báo cáo công bố năm 1972, Nicholas Hobbs cảnh báo rằng trẻ em bị dán mác “thiểu năng” có thể bị tước quyền học hành, bị cô lập, thậm chí bị cưỡng bức triệt sản – tất cả chỉ dựa trên kết quả một bài kiểm tra, mà không hề có đánh giá độc lập nào khác. Thế nhưng thay vì đề nghị xóa bỏ nhãn, Hobbs lại kêu gọi tinh chỉnh nhãn cho “chính xác hơn,” “phân loại kỹ hơn.” Một hệ thống vốn đã sai, nhưng thay vì gỡ bỏ, người ta lại bọc thêm lớp – như thể sai lầm có thể sửa bằng cách… phân loại khéo hơn.

Đến năm 2001, Đạo luật ‘No Child Left Behind’ được ban hành [6]. Nghe thì đầy thiện chí – “không học sinh nào bị bỏ lại” – nhưng trên thực tế, nó biến nhà trường thành xưởng sản xuất điểm số. Học sinh buộc phải làm bài kiểm tra liên tục để được “lọc” vào chương trình học phù hợp. Theo một báo cáo năm 2014, học sinh lớp 11 tại nhiều bang dành đến 15% thời gian trong năm học chỉ để thi. Những gì không kiểm tra được – không được dạy. Những gì không hiện thành con số – không được tính.

Và thế là ta bước vào thời đại mà giá trị một học sinh không còn được đánh giá bằng hành vi, mà bằng biểu đồ.

Vài tháng trước, ngày 29 tháng Giêng năm 2025, một chiếc trực thăng quân đội và máy bay dân sự American Airlines va chạm trên không phận Washington D.C., khiến 67 người mất mạng. Khi nguyên nhân tai nạn chưa kịp điều tra, Tổng thống Trump trong cuộc họp báo không phải để chia buồn hay để điều tra, đã tuyên bố: chính sách tuyển dụng người khuyết tật của Cục Hàng Không Liên Bang (FAA) chính là thủ phạm [7]. Ông nói: “Họ đã tích cực chiêu mộ những người mắc chứng rối loạn tâm thần nặng, trí tuệ khiếm khuyết, và nhiều loại tật nguyền khác,” ông khẳng định, tai nạn xảy ra “chỉ vì thuê mướn theo chính sách đa dạng.”

Không dẫn chứng. Không bằng chứng. Chỉ cần ông thấy đó là “lẽ thường.” Và theo “lẽ thường” ấy, người khuyết tật thì không thể làm việc tốt. Ai không thấy vậy hẳn sẽ bị ông cho là thuộc loại trí khôn “thấp.”

Ngày 7 tháng 3, khi được hỏi về kế hoạch và hậu quả của việc giải thể Bộ Giáo Dục, bà Linda McMahon – người đứng đầu cơ quan này – không đưa ra định hướng hay lo ngại. Bà chỉ đáp: “Chúng ta sẽ thấy điểm số tăng.” Một câu trả lời ngắn gọn, vô cảm – như thể việc tháo gỡ toàn bộ hệ thống giáo dục sẽ khiến mọi thứ tự động tốt đẹp hơn.

Còn Bộ trưởng Y Tế, Robert F. Kennedy Jr., thì dõng dạc tuyên bố: “Người tự kỷ sẽ không bao giờ làm việc. Không chơi bóng. Không làm thơ.” [8]. Có lẽ ông chưa từng đọc Emily Dickinson.

Ngược hẳn với những tuyên bố dễ dãi ấy, hàng chục năm nghiên cứu cho thấy: học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt – họ biết cảm thông, biết cộng tác, biết lắng nghe, trở thành những nhân tố tốt đẹp trong xã hội. Những điều ấy không nằm trong bài kiểm tra, không hiện thành con số – và vì không đo được, nên không được đếm.

Trong năm học 2022–2023, có đến 7.5 triệu học sinh Mỹ – tức khoảng 15% – theo học dưới bảo trợ của Đạo luật IDEA [9]. Thế nhưng, trong số những em bị dán nhãn “khuyết tật trí tuệ,” chưa tới 18% được học chung với bạn bè cùng lớp quá 80% thời gian. Con số ấy không nhúc nhích suốt 25 năm qua.
Và ai cũng làm như không thấy cần sửa gì, bởi chấp nhận thứ “lẽ thường” kiểu Trump – thứ ‘Common Sense’ thời hậu sự thật – không cần đúng, chỉ cần được cho là đúng là đủ. Và khi nó được lặp lại đủ lâu, nó trở thành chính sách.

Bé gái cháu tôi vẫn đến trường mỗi ngày. Nhìn cháu kiên nhẫn buộc dây giày, tôi hiểu: trí tuệ không phải là tốc độ, càng không phải là kết quả điểm thi. Trí tuệ là sự nhẫn nại, là khả năng nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của người khác. Là khi một đứa trẻ không nói được câu hoàn chỉnh nhưng vẫn chìa tay ra nắm lấy tay bạn mình.

Điều đó – không có cột điểm nào đo được. Cũng không nằm trong “lẽ thường”.

Và nếu chúng ta cứ tiếp tục định nghĩa giá trị con người bằng biểu đồ, thì không chỉ trẻ khuyết tật bị loại trừ. Mà chính ta – những người đã quên rằng con người không phải một con số – mới là kẻ thiếu trí tuệ.

Nguyên Hòa
Chú thích:
  1. Alfred Binet phát minh ra bài kiểm tra trí thông minh đầu tiên vào đầu thế kỷ 20, với mục
  2. Henry H. Goddard là người đầu tiên phổ biến bài kiểm tra IQ tại Mỹ và là người đề ra thuật ngữ “moron.” Xem: Zenderland, Leila. Measuring Minds: Henry Herbert Goddard and the Origins of American Intelligence Testing. Cambridge University Press, 1998.
  3. Tuyên bố của Goddard về việc 18% học sinh bị xem là “thiểu năng trí tuệ” không dựa trên dữ liệu kiểm chứng khoa học. Tham khảo: Rose, Nikolas. The Politics of Life Itself. Princeton University Press, 2007.
  4. Việc dùng điểm IQ để phân lớp học sinh đã trở thành tiêu chuẩn tại nhiều học khu, trong đó có Los Angeles (1915) và Columbus, Ohio (1921). Xem: Tyack, David & Cuban, Larry. Tinkering Toward Utopia: A Century of Public School Reform. Harvard University Press, 1995.
  5. Luật triệt sản người bị gán nhãn “thiểu năng trí tuệ” được duy trì tại nhiều bang Mỹ đến cuối thế kỷ 20. Oregon chính thức hủy bỏ luật triệt sản bắt buộc năm 1983. Xem: Lombardo, Paul A. Three Generations, No Imbeciles: Eugenics, the Supreme Court, and Buck v. Bell. Johns Hopkins University Press, 2008.
  6. Đạo luật No Child Left Behind (2001) và hậu quả của việc biến giáo dục thành cơ chế sản xuất điểm số. Xem: Ravitch, Diane. The Death and Life of the Great American School System. Basic Books, 2010.
  7. Về vụ va chạm trực thăng và phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày 30/01/2025, xem: Washington Post, “Trump Blames FAA Diversity Policy for D.C. Crash,” 31 January 2025.
  8. Tuyên bố của Robert F. Kennedy Jr. về người tự kỷ được ghi lại trong buổi họp báo Bộ Y Tế, ngày 12 tháng 3 năm 2025. Xem: CNN, “RFK Jr. Says Autistic Children ‘Can’t Play Ball or Write Poetry’,” 13 March 2025.
  9. Nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật: Hehir, Thomas et al. “A Summary of the Evidence on Inclusive Education.” Abt Associates, 2016. Đạo luật IDEA bảo đảm mọi trẻ em có khuyết tật tại Hoa Kỳ được học miễn phí trong môi trường phù hợp với nhu cầu riêng. Luật quy định phải có kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP), ưu tiên học chung với học sinh không khuyết tật, và có sự tham gia của phụ huynh. IDEA cũng bảo vệ quyền pháp lý của gia đình trong các quyết định giáo dục. 

Theo khoa học về thần kinh, tình yêu được tạo ra bởi một số hóa chất trong não bộ. Thí dụ, khi chúng ta gặp ai đó đặc biệt với mình, các hormone như dopamine và norepinephrine sẽ kích thích phản ứng dẫn đến sự khen thưởng trong não bộ, khiến chúng ta muốn gặp người đó nhiều lần nữa, cũng giống như khi nếm thử món gì đó thấy ngon miệng, chúng ta thường sẽ thèm được ăn thêm.
Hay hay dở, bạn bè của chúng ta trước đây đều thực sự là người, hỉ nộ ái ố gì cũng đối đãi nhau trong giới hạn tốt xấu của con người. Nhưng bây giờ thì bạn có thể… hơn là người. “Bạn”, nhưng lại phong tỏa thông tin hay kiểm duyệt nhau, như thể chính quyền. “Bạn” nhưng, theo từng thái độ chính trị, có thể trục xuất, cấm vận hay tuyên chiến với nhau, hung hăng và sắt máu, như thể Anh, Nga, Pháp, Mỹ hay Tàu.
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
“Tôi đã cố gắng rất nhiều để trở thành một di dân tốt của đất nước Hoa Kỳ. Tôi phục vụ trong quân đội. Tôi học cao học. Tôi làm việc cho chính phủ liên bang. Tôi luôn cố gắng làm tốt công việc của mình trong 15 năm qua. Nay, tôi, chúng tôi, đang hoang mang về những chính sách không rõ ràng, không biết từ ai. Thậm chí, sếp lớn nhất của cơ quan chúng tôi phải tổ chức cuộc họp để trấn an nhân viên về những email của OPM gửi ra gần đây kêu gọi chúng tôi nên tự động nghỉ việc để nhận tám tháng lương. Họ không khuyến khích chúng tôi trả lời những email như thế. Trên một diễn đàn của Fed, mọi người từ lo lắng, sợ hãi, cho đến bây giờ thì tất cả đều đồng ý sẽ chiến đấu đến cùng.”
Không ra tranh cử. Không được xác nhận chính thức. Cũng chẳng cầm một xu tiền lương từ chính phủ. Elon Musk, người giàu nhất thế giới, đã tuyên chiến với chính phủ liên bang Hoa Kỳ và, chỉ trong vài ngày, đã bắt đầu ra tay cắt giảm quy mô và ảnh hưởng của bộ máy chính quyền, đồng thời còn nắm được một số bí mật nhạy cảm nhất. Musk sử dụng mạng xã hội quyền lực của mình để định hướng dư luận, và không ngần ngại dọa dẫm rằng sẽ dùng khối tài sản khổng lồ của mình để hậu thuẫn cho đối thủ chính trị của bất kỳ ai dám chống đối.
Tổng Bí thư Tô Lâm hứa “Việt Nam sẽ học hỏi tối đa kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc, đặc biệt là sự đổi mới lý luận và thực tiễn của Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới".
...Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai, Mỹ khởi xướng Kế Hoạch Marshall vào năm 1948 để giúp tái thiết kinh tế Châu Âu và ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Khi nhận thấy cần có một cơ quan phát triển phối hợp, Tổng thống John F. Kennedy đã ký lệnh hành pháp 10973 Foreign Assistance Act vào ngày 4/9/1961, và ký thành luật thành lập Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) ngày 3/11, tập trung vào phát triển kinh tế và xã hội trong thời gian dài, thay vì chỉ viện trợ quân sự hoặc khẩn cấp. Cơ quan này được tạo ra để hợp nhất các nỗ lực viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ và thúc đẩy phát triển toàn cầu như một phần của chính sách đối ngoại quốc gia. Thời Chiến Tranh Lạnh, USAID đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bằng cách cung cấp viện trợ cho các nước ở Châu Phi, Mỹ Latinh và Châu Á. USAID là nguồn là viện trợ chính cho các chương trình phát triển tập trung vào nông nghiệp, y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng. Cuộc Cách Mạng Xanh (Green Revolutio
Với mức áp thuế 10% lên hàng hóa Trung Quốc, liệu đây là những "đòn ngoại giao" như giới ủng hộ Donald Trump luôn bào chữa hay là sự thăm dò? Còn hiện nay, với các phát biểu cầu cạnh, một mức thuế "nhẹ nhàng" như vậy so với hai láng giềng đồng minh lâu đời Mexico và Canada, con đường "đánh Tàu" của Donald Trump trong nhiệm kỳ hai xem ra đã không như người Việt ủng hộ ông kỳ vọng.
Khi Sài Gòn thất thủ, cha của Bình Lý hòa cùng dòng người đi vào “đêm chôn dầu vượt biển.” để lại quê nhà người vợ và hai đứa con trai còn nhỏ. Sau gần 10 năm, cha và mẹ của anh đoàn tụ ở nước Mỹ. Bình chào đời trên xứ sở tự do, mang trên mình căn cứ người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ hai. Đúng 50 năm của biến cố 30 Tháng Tư (1975 – 2025), chính anh và những người bạn trẻ khác trong nhóm Viet Place Collective, đã tranh đấu suốt hai năm để thuyết phục giới chức vùng DMV chuẩn thuận cho tên đường Saigon Blvd – Đại Lộ Sài Gòn hiện diện trên một đoạn đường Wilson Blvd thuộc Falls Church.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.