Hôm nay,  

Ai Giết The Post?

04/02/202623:29:00(Xem: 890)
wapo
Ai Giết The Post? (Minh họa: Việt Báo)

Sáng sớm mùa Đông, Lizzie Johnson thức dậy trong môi trường không điện, không sưởi, có ngày thì không có nước. Cô ngồi trong xe, dùng bút chì, vì các loại viết mực đều bị đông cứng dưới thời tiết của Kyiv, viết dưới ánh đèn pha. Đó là những bài tường thuật về cuộc chiến Ukraine gửi về cho Washington Post. Lizzie là ký giả của tờ Washington Post, đặc trách chiến trường Ukraine. Hôm 26/1, cô đăng trên mạng xã hội X, gắn tên trực tiếp @JeffBezos: “Tôi yêu công việc của mình. Mỗi ngày, tôi đặt cược sinh mạng của tôi cho công việc. Và tôi mong sẽ tiếp tục giữ nó, kể những câu chuyện ở tiền tuyến của một cuộc chiến đang định hình lại thế giới. Tôi nghĩ các độc giả của Washington Post luôn đón nhận những bài tường thuật quốc tế là cần thiết.”

Đúng một tuần sau, khoảng 11 giờ sáng ngày 4/2, Lizzie nhắn vài lời trên X: “Tôi bị Washington Post sa thải ngay giữa vùng chiến sự. Tôi đau đớn, không nói nên lời.”

Alan Sipress là biên tập viên quốc tế, chuyên về Trung Đông. Ông là tác giả cuốn sách The Fatal Strain, từng làm việc tại Jakarta, Cairo, New Delhi, Philadelphia và Princeton. Sipress thông báo: “27 năm của tôi ở Washington Post kết thúc vào hôm nay. The Post đã là nhà của tôi, một nơi mà tôi vô cùng yêu quý và tin tưởng mãnh liệt vào sứ mệnh của nó.”

Lizzie Johnson, Alan Sipress chỉ là hai trong hơn 300 ký giả chính thức nhận lệnh sa thải của Washington Post sau một cuộc họp trực tuyến sáng.

Sau khi Amazon MGM của Jeff Bezos chi $40 triệu USD để mua bản quyền và sản xuất bộ phim tài liệu về vợ của Donald Trump, "Melania” và chi thêm $35 triệu USD nữa để quảng cáo, thì tờ Washington Post (The Post), cũng thuộc sở hữu chủ của Bezos, cũng giảm đi hương vị đậm đà bên ly cà phê sáng – thói quen của nhóm người Mỹ đọc báo. Trong một phiên họp trực tuyến sáng nay, The Post thông báo sa thải hơn 300 ký giả, khoảng 30% tổng số nhân viên và giải thể các phòng tin tức cốt lõi của tờ báo. Một quyết định mà nội bộ của The Post mô tả là “một cuộc tàn sát.”

Cái chết được báo trước

Tin nhắn ngày 26/1 của Lizzie chứng tỏ tin đồn về việc sa thải đã lan truyền suốt nhiều tuần trước. Columbia Journalism Review (CJR) xác nhận, trong tòa soạn, cảm giác lo sợ đã bao trùm từ rất lâu rồi. Sáng nay, CJR tiết lộ, “cảm giác trong tòa soạn là cách họ xử lý vấn đề này giống như một cuộc chiến tranh tâm lý tàn nhẫn,” một nhân viên cho biết – người này, giống như những người khác, đã yêu cầu giấu tên vì sợ bị mất việc. Các liên kết đến các bài báo đưa tin về việc sa thải đã được “truyền tay nhau như những tài liệu mật,” một nhân viên khác nói. Cảm giác như “một lưỡi dao tử thần đang treo lơ lửng trên đầu chúng tôi.”

Matt Murray, tổng biên tập của tờ Washington Post, thông báo với nhân viên “sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện chiến lược ở nước ngoài ở khoảng một chục địa điểm, tập trung vào các vấn đề an ninh quốc gia.” Nhóm phụ trách tin tức địa phương sẽ được cơ cấu lại. Số lượng biên tập viên tại Washington Post sẽ “giảm đáng kể”; các nhóm nghệ thuật sáp nhập vào nhau. “Những quyết định này rất đau đớn,” Murray nói. “Đây là một ngày khó khăn.”

Đây hoàn toàn không phải là một đợt sa thải nhân viên như bình thường hoặc như đang diễn ra ở Mỹ hơn một năm nay. Đây là sự sụp đổ của một cơ quan báo chí mà tên tuổi từng đại diện cho sự điều tra không khoan nhượng và phục vụ công chúng. The Post sa thải từ bộ phận thể thao đến các phóng viên quốc tế, điều mà ban lãnh đạo gọi là “tái cấu trúc chiến lược.” Chuyên mục sách (The Book Sections) – trương mục uy tín của những tác giả, độc giả, nhằm giới thiệu văn hóa đọc và kiến thức của sách đến cho người dân – cũng bị đóng. Podcast tin tức hàng ngày (Post Reports) bị tạm dừng. Các nhóm nhà báo đưa tin nước ngoài như Lizzie Johnson và nhóm phóng viên địa phương bị cắt giảm mạnh.

Marty Baron, cựu biên tập viên điều hành của The Post cho biết: “Đây là một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử của một trong những tổ chức tin tức lớn nhất thế giới.”

Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự.

Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.

Kết quả hôm nay của The Post không chỉ là hệ quả của thị trường bên ngoài. Các quyết định nội bộ, từ định hướng biên tập đến cách điều hành, là đoạn đầu đài đã bào mòn, khai tử cả tinh thần bên trong lẫn niềm tin bên ngoài, của nhân viên và độc giả.

Hơn một năm trước, vào giờ thứ 11, Jeff Bezos đưa ra quyết định rút lại sự tán thành của ban biên tập Washington Post dành cho ứng cử viên tổng thống Kamala Harris. Đó là một bước ngoặt lớn. Trong những ngày sau đó, hơn 250.000 độc giả đã hủy ghi danh thành viên.

Một nhân viên nói với CJR: “Có ý kiến ​​cho rằng các vấn đề tài chính hiện tại của The Post đã trở nên trầm trọng hơn do việc ông ta (Bezos) rút lại sự chứng thực của Harris và việc ông ta sửa lại các trang ý kiến, quan điểm, dẫn đến một ‘cuộc di cư’ của độc giả. Cùng với việc không thể tạo thêm doanh thu, nó đã tạo ra một cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn cho hoạt động kinh doanh mà giờ đây chúng tôi đang phải gánh chịu.”

Thêm vào đó, gần đây hơn, sau khi FBI đột kích vào nhà của Hannah Natanson, một phóng viên của The Post, liên quan đến cuộc điều tra rò rỉ các nguồn tin mật, “có một điều đặc biệt khó chịu là Bezos không nói gì cả,” nhân viên này nói thêm.

Liên quan đến sự kiện này, vào thời điểm đó, rất nhiều dư luận trên mạng xã hội chờ đợi Jeff Bezos lên tiếng bảo vệ quyền tự do báo chí của tờ báo.

Ruth Marcus, một nhà báo kỳ cựu đã có hơn bốn mươi năm tại tờ báo Washington Post, với tư cách là phóng viên, biên tập viên, người viết bài xã luận và người viết chuyên mục. Bà đã từ chức vào tháng Ba năm ngoái, sau khi Bezos thông báo rằng chuyên mục Quan Điểm, nơi bà làm việc, từ nay sẽ tập trung vào hai nội dung chính là “quyền tự do cá nhân và thị trường tự do.” Điều đáng lo ngại hơn là Bezos tuyên bố, những quan điểm phản đối hai nội dung đó sẽ được để cho các tờ báo khác đăng tải. “Trước đây, chuyên mục Quan Điểm của WaPo phản ánh nhiều ý kiến khác nhau – điều mà chính Bezos đã khuyến khích. Rõ ràng là sự thay đổi này hoàn toàn sai lầm,” Ruth viết trong một bài xã luận trên NewYorker.

Những gì sẽ mất

Đây không chỉ là người mất việc. Đây là một mạng lưới truyền thông độc lập bị giật sập. Khi trưởng ban Trung Đông và các phóng viên quốc tế đăng dòng tweet ngắn gọn “lòng chúng tôi tan nát” thì nó cho thấy mức độ gắn bó với công việc, và sự tổn thất không đếm được.

Khi bàn tin tức địa phương hẹp lại, ít phóng viên theo dõi thành phố, cảnh sát, dân sự. Khi bàn quốc tế cắt ngắn đi, công chúng Mỹ nhận tin tức về thế giới qua tổng hợp thuật toán thay vì tường thuật tại chỗ. Khi mảng văn hóa, sách, thể thao biến mất, đời sống công chúng mất đi những không gian chung để hiểu nhau.

Các đợt sa thải tại The Post không chỉ là khủng hoảng của riêng nó. Chúng là triệu chứng của một hệ thống đang căng thẳng: báo chí bị tấn công chính trị, bị thao túng bởi chủ nghĩa tài phiệt. Chủ tịch NewsGuild-CWA Jon Schleuss viết: “Thật kinh tởm khi một trong những người giàu nhất thế giới lại đầu tư vào việc mua chuộc tổng thống Hoa Kỳ hơn là đầu tư vào các nhà báo là cơ quan giám sát nền dân chủ.” Ông cho rằng hành động của Bezos sẽ cảnh báo mọi người Mỹ quan tâm đến quyền lợi của họ ở đất nước này.

Trong bài viết của mình, Ruth Marcus trích dẫn lời của một cựu quản lý biên tập viên, làm việc cho The Post hơn nửa thế kỷ, nói rằng: “Bezos thất bại vì hệ thống làm việc cá nhân của ông ấy, một cách mà tôi sợ là ông ấy không hiểu được. Ông ta không biết rằng danh tiếng của mình sẽ bị tổn hại trong lịch sử nếu bị coi là người đã phá hủy thể chế của Katharine Graham, nhà xuất bản nổi tiếng đã dẫn dắt tờ báo từ những năm 60s đến những năm 90s, và Ben Bradlee đã xây dựng.”

Những người trong giới truyền thông chỉ ra rằng Jeff Bezos, người từng được ca ngợi là “anh hùng cứu thế” khi mua The Post năm 2013, ngày càng xa rời cam kết công khai với sứ mệnh báo chí. Một số cựu nhân sự cho rằng đường lối hiện nay bị thúc đẩy nhiều hơn bởi mong muốn “tồn tại chính trị và kinh tế” hơn là xây dựng một chiến lược củng cố báo chí điều tra độc lập. Nhà báo hiện tại của The Atlantic Ashley Parker, từ chối quay về The Post dù có những hứa hẹn quyền lợi hấp dẫn. Lý do là “The Post không còn là tờ báo đã tuyển dụng tôi tám năm trước và tôi không muốn làm việc cho một sở hữu chủ và nhà xuất bản nhầm lẫn khinh miệt phòng tin tức với một kế hoạch kinh doanh.”


Ai giết The Post?

Kalynh Ngô


Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.
Từ khi Tối Cao Pháp Viện lật đổ Roe v. Wade, chúng ta đều biết câu chuyện không dừng lại ở đó. “Để tiểu bang tự quyết” chỉ là cái cớ. Và Texas, tiểu bang bảo thủ dẫn đầu, vừa chứng minh điều đó bằng một luật mới: trao cho bất kỳ ai quyền săn lùng và kiện những người dính dáng tới thuốc phá thai. Texas vốn đã có một trong những lệnh cấm khắc nghiệt nhất: phá thai bị cấm hoàn toàn, trừ vài ca y tế khẩn cấp. Không ngoại lệ cho thai dị tật chết non. Không ngoại lệ cho hiếp dâm. Không ngoại lệ cho loạn luân. Thế nên, nhiều phụ nữ Texas chỉ còn con đường tìm đến thuốc phá thai qua mạng, thường từ những nhà cung cấp ở ngoài tiểu bang. Luật mới nhắm thẳng vào cánh cửa mong manh ấy.
Suốt 250 năm, người Mỹ đồng ý rằng cai trị bởi một người duy nhất là sai lầm, rằng chính quyền liên bang vốn cồng kềnh, kém hiệu quả. Lẽ ra hai điều ấy đủ để ngăn một cá nhân cai trị bằng mệnh lệnh từ Bạch Ốc. Nhưng Trump đang làm đúng điều đó: đưa quân vào thành phố, áp thuế quan, can thiệp vào ngân hàng trung ương, chen vào quyền sở hữu công ty, gieo nỗi sợ để buộc dân chúng cúi đầu. Quyền lực bao trùm, nhưng không được lòng dân. Tỉ lệ chấp thuận của ông âm 14 điểm, chỉ nhỉnh hơn chút so với Joe Biden sau cuộc tranh luận thảm hại năm ngoái. Khi ấy chẳng ai lo ông Biden “quá mạnh”. Vậy tại sao Trump, dù bị đa số phản đối, vẫn dễ dàng thắng thế?
Có bao giờ bạn nói một điều rõ ràng như ban ngày, rồi nghe người khác nhắc lại với nghĩa hoàn toàn khác? Bạn viết xuống một hàng chữ, tin rằng ý mình còn nguyên, thế mà khi quay lại, nó biến thành điều bạn chưa từng nghĩ đến – kiểu như soi gương mà thấy bóng mình méo mó, không phải bị hiểu lầm, mà bị người ta cố ý dựng chuyện. Chữ nghĩa, rơi vào tay kẻ cố ý xuyên tạc, chẳng khác gì tấm gương vỡ. Mỗi mảnh gương phản chiếu một phần, nhưng người ta vẫn đem mảnh vỡ đó làm bằng chứng cho toàn bộ bức tranh. Một câu, một đoạn, một khẩu hiệu – xé khỏi bối cảnh trở nên lệch lạc – hóa thành thứ vũ khí đâm ngược lại chính ý nghĩa ban đầu. Câu chuyện của đạo diễn Trấn Thành gần đây là một minh họa. Anh chỉ viết đôi dòng thương tiếc chia buồn với sự ra đi của nghệ sĩ đàn bầu Phạm Đức Thành. Vậy thôi. Thế mà lập tức bị chụp mũ, bêu riếu, bị gọi “3 que,” “khát nước,” “Cali con.” Người ta diễn giải đủ kiểu, vẽ ra đủ cáo buộc: từ tội mê văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đến tội phản quốc.
Sau thất bại trước đối thủ đảng Dân Chủ Joe Biden trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, nội các “gia đình trị” của Donald Trump gần như biến mất khỏi chính trường. Các đồng minh không thể có cùng tiếng nói với Trump, nhất là sau vụ bạo loạn Quốc Hội Jan 06. Duy nhất một người vẫn một lòng trung thành không bỏ rơi Trump, đó chính là Stephen Miller. Nhiệm kỳ hai của Trump, người được cho là có quyền lực hơn trong vòng tròn thân cận của Trump, hơn cả JD Vance, chẳng ai khác hơn chính là Stephen Miller. Để tạo ra những ảnh hưởng chính trong chính quyền Trump hôm nay, Miller đã có một đường dài chuẩn bị, khôn ngoan và nhẫn nại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.