Hôm nay,  

Vấy Bẩn Đôi Găng

22/10/202605:18:00(Xem: 262)
fake-GOP
(Hình: X @amyactonoh)

 

Lịch Sử Đẹp

Mọi chuyện bắt đầu từ những người phản đối chế độ nô lệ. Họ là những con người bình thường, những cá nhân không thể chấp nhận tư tưởng cho rằng con người có quyền áp bức đồng loại của mình. Vào đầu thập niên 1850, những nhà hoạt động chống nô lệ này đã tìm thấy tiếng nói chung với những cá nhân kiên cường đang tìm cách định cư tại các vùng đất phía tây, nơi họ có thể thoát khỏi sự kiểm soát hay các loại thuế phí từ chính quyền. Khẩu hiệu của họ là: “Đất đai tự do, lao động tự do, ngôn luận tự do, con người tự do”. Chính nhờ sự đồng lòng phản đối chế độ nô lệ và sự chuyên chế của chính quyền, những con người giàu nhiệt huyết ấy đã khai sinh ra đảng Cộng Hòa.

Năm 1856, đảng Cộng Hòa trở thành một đảng chính trị tầm quốc gia khi đề cử John C. Fremont làm ứng viên tổng thống. Bốn năm sau, năm 1860, khi Abraham Lincoln đắc cử, đảng Cộng Hòa khẳng định vị thế vững chắc của mình như một đảng chính trị lớn. Cái tên “Cộng Hòa” (Republican) được lựa chọn vì nó gợi lên tinh thần bình đẳng, đồng thời gợi nhắc mọi người về Đảng Dân Chủ - Cộng Hòa (Democratic-Republican Party) của Thomas Jefferson.


Những dòng sử trên, không đâu xa, ghi nhận chính trên trang Alabama Republican Party. Không khó để thấy rằng, đảng Cộng Hòa là một chính đảng ra đời từ lương tâm, đạo đức.

Sợi chỉ ấy còn xuyên suốt rất lâu sau thời Lincoln. Năm 1950, Thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith của Maine đứng lên tại Thượng Viện để khiển trách Joseph McCarthy, một đồng đảng Cộng Hòa, trong bài phát biểu “Tuyên Ngôn Lương Tâm” của bà. Bà nói với các đồng nghiệp rằng bà không muốn thấy đảng mình giành chiến thắng nhờ sự sợ hãi, ngu dốt, cố chấp và bôi nhọ. Cho dù phải trả giá về chính trị, bà vẫn lên tiếng, vì bà hiểu rằng lòng trung thành với đảng chẳng có giá trị gì nếu nó đòi hỏi phải từ bỏ chính những nguyên tắc mà đảng tồn tại để bảo vệ.

Ngay cả “Điều Răn Thứ Mười Một” nổi tiếng của Ronald Reagan, chớ nói xấu một đồng đảng Cộng Hòa, cũng là một quy tắc tự kiềm chế giữa các đối thủ trong nội bộ, chứ không phải lệnh bịt miệng lương tâm.

Hôm nay, nhiều lãnh đạo của chính đảng này đang lộn ngược nó: Rũ bỏ đạo đức, lương tâm để tấn công đối thủ khi tranh cử; đừng nói xấu người Cộng Hòa làm điều sai, nhưng hãy khinh miệt người Cộng Hòa dám nói ra điều đó.

Một Quảng Cáo Chính Trị Thấp Hèn

Mười ba ngày trước khi Ohio bầu thống đốc mới, ứng viên đảng Cộng Hòa Vivek Ramaswamy đã bỏ ra $4 triệu cho một đoạn quảng cáo truyền hình dài một phút, trong đó họ gọi một người mẹ – không sai, một người mẹ – lên sóng truyền hình, gọi chính con gái mình là kẻ nói dối. Người con gái đó là Amy Acton, ứng viên đảng Dân Chủ, đối thủ của Ramaswamy. Người mẹ đó là Donna Arthur, người mà bà Acton đã cắt đứt quan hệ từ năm 1978. Truyền thông đưa tin hàng loạt, chỉ ra đó là năm mà trước tòa, bà Arthur chọn đứng về phía người chồng thứ hai của mình, sau khi ông ta xâm hại tình dục Acton, con gái của bà, lúc cô mới 12 tuổi.

Tại tòa án, sau khi chồng bà Arthur bị tòa buộc tội, Acton đã tiến lại gần mẹ mình “để đặt một nụ hôn, nhưng bà ấy chỉ quay mặt đi chỗ khác. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bà ấy,” bà Acton chia sẻ với tờ Vindicator, một tờ báo ở Youngstown, vào năm 2019. Bà Arthur mất quyền nuôi Acton và Philip Stearns, em trai của bà Acton.

Trong đoạn quảng cáo của nhóm Vivek Ramaswamy, bà Arthur cho rằng con gái bà đã “nói dối suốt cả cuộc đời.”

“Amy có một vấn đề nghiêm trọng: nó là kẻ nói dối, nó bịa đặt về quá khứ của chính mình. Nó bảo rằng nó lớn lên trong một túp lều, nhưng chẳng có điều nào trong số đó là sự thật cả. Nó đã nói dối suốt cả cuộc đời mình. Con gái tôi cần được giúp đỡ. Mà bản thân nó còn đang cần giúp đỡ thì làm sao có thể giúp được bạn?” bà Arthur nói trong đoạn phim quảng cáo của đảng Cộng Hòa dài một phút.

Nhưng sự thật là câu chuyện thương tâm của bà Acton vẫn còn được lưu trong hồ sơ tòa án.

Bà Acton, sau này trở thành một bác sĩ nhi khoa từng giữ chức giám đốc y tế dưới thời thống đốc Cộng Hòa hiện tại của Ohio là ông Mike DeWine. Bà chia sẻ trong chiến dịch tranh cử của mình về việc từng phải chịu đựng sự ngược đãi và bỏ bê trong thời gian sống cùng người mẹ. Bà cho biết gia đình mình từng có giai đoạn phải sống trong lều, trước khi bà cùng anh trai chuyển đến sống với cha ruột.

Các hồ sơ tòa án và thông tin từ truyền thông địa phương vào thời điểm đó đã xác nhận những chi tiết trong câu chuyện của bà Acton.

Ban vận động của Vivek Ramaswamy sắp xếp, sản xuất quảng cáo, để nó lan truyền trên mạng mà không ghi rõ ai tài trợ, rồi quyết định chi hàng triệu đô la để khuếch đại nó.



Vivek Ramaswamy biện hộ rằng cử tri có quyền nghe từ những người hiểu rõ bà Acton, và câu chuyện đời bà là đề tài hợp lệ vì chính bà kể nó khi vận động. Ý ông ta muốn nói là cử tri của bà Acton cũng cần phải lắng nghe chính người đã sinh ra bà. Điều đó là một lập luận không sai. Sai ở đây, chính là lựa chọn hành động của người ra tranh cử trở thành lãnh đạo quần chúng. Nó phơi bày ra cái bảng điểm đạo đức của ông ta, không chỉ cho cử tri của bà Acton, mà cho cả đảng phái của ông ấy.

Một chiến dịch hoàn toàn có thể soi xét thành tích của đối thủ mà không biến vụ xâm hại một đứa trẻ mười hai tuổi thành vật chứng. Không ai tỉnh táo, có lương tri, lại tin rằng tương lai của Ohio, trong đó có trường học, thuế, chương trình Medicaid, việc làm, lại phụ thuộc vào việc năm 1978, một cô bé 12 tuổi đã được tòa xác chứng là nạn nhân, có được mẹ mình tin hay không.

Nhưng những người còn tỉnh táo và còn lương tri của đảng Cộng Hòa, tin rằng, vận mệnh đảng phái của họ đang trên bờ vực nguy khốn.

 “Chúng ta đã đi chệch hướng hoàn toàn,” một chiến lược gia của đảng Cộng Hòa nhận định với tờ TIME hôm thứ Tư. “Chúng ta từng có cơ hội rất tốt, vậy mà lại để xảy ra chuyện này ngay trước thềm bầu cử hai tuần.”

Một người khác nói thêm: “Giờ thì chúng ta xứng đáng thua cuộc trong cuộc đua này.”

Không ít những người cùng đảng phái với ông Vivek Ramaswamy lên tiếng phản đối. Thượng nghị sĩ Jon Husted, người đang tranh cử một nhiệm kỳ trọn vẹn tại Thượng Viện cho biết ông “sẽ không cho chạy quảng cáo đó.”

Nhà bình luận bảo thủ Meghan McCain, con gái của cố Thượng nghị sĩ John McCain viết trên X rằng đoạn quảng cáo này “đê hèn” và “đáng lẽ không bao giờ nên được tạo ra.”

Casey Putsch, người từng tranh cử với Ramaswamy trong vòng sơ bộ, tuyên bố sẽ bỏ phiếu cho bà Acton.

Tờ Columbus Dispatch tuyên bố ủng hộ Acton, gọi quảng cáo này là “ghê tởm và gây bất an.”

Thượng nghị sĩ Jon Husted (đảng Cộng hòa, bang Ohio) – người đang tranh cử một nhiệm kỳ trọn vẹn tại Thượng viện sau khi được bổ nhiệm vào ghế cũ của ông Vance – cho biết ông “sẽ không cho chạy quảng cáo đó”.

Đôi Găng ‘Cộng Hòa’

Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình. Tại một cuộc vận động, Vance ca ngợi Ramaswamy vì đã dám gọi Acton là kẻ nói dối trên truyền hình. Trump cũng bênh vực quảng cáo, nói rằng ông ta “chẳng biết gì cả.”

Chuyện xảy ra hôm nay ở Ohio, không thể không nhắc lại câu chuyện của 20 năm trước.

Trong cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống ở South Carolina năm 2000. Thượng nghị sĩ John McCain là mục tiêu của một trong những chiến dịch tung tin đồn xấu xa nhất trong nền chính trị Mỹ hiện đại. Những cuộc gọi điện, tờ rơi nặc danh bóng gió rằng ông có một đứa con da đen ngoài giá thú, một lời vu khống dựa trên việc vợ chồng ông nhận nuôi bé Bridget từ một trại trẻ mồ côi ở Bangladesh. McCain thua cuộc bầu cử sơ bộ đó. Qua trải nghiệm cay đắng, ông hiểu thế nào là khi gia đình mình bị biến thành vũ khí chĩa vào chính mình.

Tám năm sau, với tư cách ứng viên tổng thống của đảng Cộng Hòa, ông có cơ hội để làm với người khác điều người ta đã làm với mình. Nhưng ông từ chối. Ông không biến đối thủ Barack Obama thành đề tài tranh cử. Tại một buổi gặp cử tri ở Minnesota tháng 10 năm ấy, khi một người ủng hộ nói bà không thể tin Obama vì ông là “người Ả Rập,” McCain đã lấy lại micro và đính chính: Không! Không! Obama, là một người công dân đàng hoàng, một người của gia đình, chỉ là người mà tôi và ông ấy bất đồng về những vấn đề căn bản.”

Vào đêm bầu cử, ông chấp nhận thất bại một cách cao thượng, tôn vinh ý nghĩa lịch sử của chiến thắng của Obama.

Có lẽ sẽ không bao giờ người Mỹ có thể quên hình ảnh ấy. Và có thể cũng sẽ không bao giờ có lại một John McCain thứ hai, người giữ đúng chuẩn mực của người Cộng Hòa: có những điều ta không làm để chiến thắng, bởi chiến thắng bằng cách đó khiến ta không xứng đáng với chức vụ mình theo đuổi.

Đôi găng tay do những người như Vivek Ramaswamy, JD Vance, hay Donald Trump, chỉ là dán một nhãn hiệu “Cộng Hòa” giả tạo. Vì đôi găng thật sự, lần cuối cùng được mang ra sử dụng đã cách đây hơn hai thập niên. Từ đó, nó đã bị chôn vùi.

 

 

 

 

 

 

Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.