Hôm nay,  

Peter Drucker, Cha Đẻ Môn Quản Trị Học

24/11/200500:00:00(Xem: 13290)
-Ngày 11-11 vừa qua, một ngôi sao đã tắt trong vòm trời kiến thức nhân loại, đó là ông Peter Drucker, người cha đẻ của môn quản trị học tại Hoa Kỳ và thế giới. Việt Nam có thể học những gì từ Drucker"
Xưa nay thường đề cập tới loại vấn đề sẽ chi phối tương lai, Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này đặc biệt nói tới nhân vật vừa khuất bóng qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa vì những gì ông Drucker để lại vẫn có thể soi sáng tương lai cho chúng ta. Bài do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Ngày 11 tháng 11 vừa qua, ông Peter Drucker vừa tạ thế tại Hoa Kỳ. Biến cố này được giới kinh doanh lẫn kinh tế khắp nơi nhắc nhở rất nhiều. Một số người còn hỏi vì sao với những cống hiến liên tục của ông trong hơn 60 chục năm, đáng lẽ Drucker phải được giải Nobel chứ. Xin đề nghị ông là ta sẽ đề cập tới nhân vật đặc biệt này qua câu hỏi đầu tiên đó…
-- Thứ nhất, người ta chỉ có giải Nobel về Kinh tế học và mới chỉ có từ năm 1969. Thứ hai, nếu có một giải Nobel về Quản trị học thì năm nào Peter Drucker cũng lãnh giải ấy! Lý do thứ hai này do một học giả về quản trị và là một trong các chủ biên của tạp chí chuyên đề về kinh doanh là tờ Fortune đã nêu ra tuần qua. Điều ấy cho thấy kích thước và ảnh hưởng của nhân vật kỳ lạ này. Ông Drucker sinh năm 1909 tại Vienna của nước Áo và mất tại California của Hoa Kỳ tám ngày trước khi mừng thượng thượng thọ ở tuổi 96. Ông là ngôi sao cuối cùng mọc lên từ xứ Áo vào thế kỷ trước và đã tỏa sáng khắp năm châu sau đó.
Hỏi: Vì sao là một ngôi sao của xứ Áo mà tỏa sáng khắp năm châu" Điều ấy có gì lạ chăng"
-- Peter Drucker sinh tại Vienna và chán ghét chế độ Đức quốc xã mà di tản qua Mỹ năm 1937 và là một trong nhiều nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX đã từ bỏ Vienna để gieo rắc kiến thức khắp năm châu và cống hiến nhiều lý luận hữu ích cho nhân loại.
Hỏi: Nói vậy tức là đã có một trào lưu tư tưởng hay kiến thức xuất phát từ Vienna hay sao"
-- Tôi thiển nghĩ rằng các sử gia hay xã hội học của thế giới, và nhất là của Việt Nam, cần tìm hiểu hiện tượng hy hữu ấy. Người ta có nhà tâm phân học Sigmund Freud, có triết gia về khoa học Karl Popper, có hai kinh tế gia nổi tiếng của trường phái tự do là Ludwig von Mises và Friedrick Hayek, có nhà ngữ học Ludwig Wittgenstein, nhà sinh học Konrad Lorenz, nhà sử học về nghệ thuật Ernst Gombrich, nhà soạn nhạc Arnold Schoenberg, nhà tâm phân học về nhi đồng là Bruno Bettelheim... Họ đều xuất hiện tại Vienna vào cuối thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20 rồi di tản qua Tây Âu, đa số nhập tịch Hoa Kỳ, trở thành nhóm người làm thay đổi tư tưởng đương thời trong từng địa hạt riêng của họ. Drucker là đợt sóng cuối và còn ảnh hưởng qua thế kỷ 21 này…
Hỏi: Ông có giải thích được phần nào hiện tượng hy hữu ấy hay không" Mà vì sao ông cho là Việt Nam cần tìm hiểu hiện tượng này"
-- Vienna từng là Kinh đô của Đế quốc Áo Hung, là trung tâm văn hóa nghệ thuật và kiến thức rực rỡ Âu châu. Khi Đế quốc ấy bị bại trận vì sức tấn công của nước Phổ, là nước Đức, vào năm 1866, Vienna trở thành kinh đô không đế quốc, một cái đầu quá lớn cho một xứ quá nhỏ. Nhiều thế hệ trí thức và học giả hết đất dụng võ, hết nơi thi thố tài năng, họ xoay về nội tâm, nghiên cứu về con người và trở thành những nhà tư tưởng độc đáo. Thế rồi khi Hitler cầm quyền, chủ nghĩa phát xít độc đoán dẫn tới hiện tượng xuất não và Vienna viện trợ cho thế giới những nhà tư tưởng vô địch về quyền tự do, về nhân vị, về giá trị của con người.
Hỏi: Ngoài trường hợp Vienna, trong lịch sử có còn những trường hợp nào tương tự như vậy không"
-- Thưa có, năm 1453, khi Constantinople bị thất thủ trước đà xâm lược của Đế quốc Ottoman theo Hồi giáo, trí thức nơi đây di tản qua nơi khác và phần nào gây nên phong trào Phục hưng tại Ý rồi làm thay đổi Âu châu trong mấy thế kỷ sau. Vienna và nhiều thủ đô Đông Âu sau Thế chiến II có thể là những trường hợp tương tự: bạo quyền ruồng đuổi trí tuệ qua xứ khác trong khi xứ sở lụn bại dần vì sự độc đoán của nó. Hitler có thể là người yêu nước theo kiểu của ông ta, một lối yêu nước tự sát. Cũng nhờ vậy mà Peter Drucker mới thành ngôi sao sáng của nhân loại.
Hỏi: Trở về nhân vật đặc biệt này, ông Drucker đã cống hiến những gì mà ta cần ghi nhớ"
-- Peter Drucker tốt nghiệp Đại học tại Vienna, Frankfurt rồi London. Xuất thân Tiến sĩ Công pháp và Luật quốc tế, ông là kinh tế gia trong một ngân hàng Anh rồi qua Mỹ năm 1937 mở đầu sự nghiệp dạy học, trước tiên là về chính trị và triết học, sau đấy là giáo sư môn quản trị học tại Phân khoa Kinh doanh của Đại học New York trong 21 năm. Từ 1971 đến khi mất, ông về dạy tại một ngôi trường nhỏ là Đại học Claremont ở California và năm 1984, phân khoa Quản trị của trường này mang tên ông - đúng cách "Sơn tiên Thủy long", núi không cần cao cũng có tiên ở, nước chẳng cần sâu cũng có rồng nằm. Năm 2002, ông được Tổng thống Bush trao tặng Huân chương Tự do, huy chương cao quý nhất của Mỹ do Tổng thống John Kennedy lập ra. Thực ra, ông là cha đẻ môn quản trị học, ân nhân của nhiều doanh gia quốc tế, bậc thầy của nhiều thế hệ giáo sư quản trị tại Mỹ hay Nhật, là tư vấn cho các doanh nghiệp lớn nhất, cho các cơ quan chính phủ và rất nhiều tổ chức thiện nguyện xã hội sau này.
Hỏi: Giáo sư Peter Drucker có để lại nhiều trứ tác gì cho đời sau tham khảo không"

-- Peter Drucker viết cuốn sách đầu tiên về quản trị năm 1939 và cho đến khi tạ thế đã để lại 39 cuốn, được phiên dịch ra khoảng 50 ngôn ngữ, trong đó có 15 cuốn về quản trị, 13 cuốn về kinh tế, xã hội và chính trị, hai cuốn tiểu thuyết, một cuốn tự truyện và một cuốn biên khảo về hội họa Nhật. Ông thực hiện tám bộ phim quảng bá kiến thức về quản trị, là bỉnh bút của nhật báo the Wall Street Journal và tập san chuyên đề Harvard Business Review cùng nhiều tạp chí khác. Như vậy, ông là một nhà giáo, một bậc quân sư và một nhà văn đa diện, một triết gia về xã hội. Người ta tôn vinh ông là một "nhà tư tưởng thời Phục hưng", "Renaissance Man", nghĩa là bộ óc uyên bác đa năng. Đấy là tiểu sử chính thức của Peter Drucker.
Hỏi: Ông nói vậy nghĩa là còn những đoạn tiểu sử không chính thức hay sao"
-- Thưa không, đấy chỉ là chúng ta kể lại ngắn gọn sự nghiệp của một con người xuất chúng, còn lại, có không biết bao nhiêu là tiểu truyện về nhân vật này, mà đặc biệt nhất là viễn kiến hay khả năng tiên tri của ông ta. Người sáng lập ra môn quản trị học của một xứ tự hào về thành tích quản trị và kinh doanh thì tất nhiên phải có những cống hiến độc đáo và dự báo chính xác, chứ không dễ gì trở thành bậc thầy của nhiều thế hệ doanh gia hay quản trị viên được.
Hỏi: Ông nói đến quản trị và kinh doanh như hai chuyện khác biệt, vì sao lại như vậy"
-- Việt Nam ta còn nhiều ngộ nhận, tôi xin đơn cử một thí dụ bản thân đã gặp. Một nhà kinh tế của Hà Nội, có thời làm Phó Thủ tướng với thành tích lạm phát hơn 700%, mà gần đây còn cho rằng kinh tế học là tột đỉnh của các ngành kinh doanh. Người ta không phân biệt kinh tế với kinh doanh và quản trị. Lại không thấy sự khác biệt giữa quản trị, là tổ chức và điều hành một cơ quan, một tập thể, cho một mục tiêu nhất định - thí dụ như một nhà thương, một đại học hay một nha sở chính quyền - với môn kinh doanh là tổ chức quản trị một doanh nghiệp có mục tiêu kiếm lời. Vào lúc cuối đời, sau khi đã cố vấn về kinh doanh cho nhiều tổ hợp lớn của Mỹ, ông Peter Drucker thiên về tư vấn quản trị cho nhiều tổ chức vô vụ lợi và đề cao vai trò xã hội rất cần thiết của các tổ chức ấy trong một hình thái xã hội đang có thay đổi lớn lao.
Hỏi: Thế còn bước đầu, vì sao một giáo sư triết học và chính trị lại là người sáng lập môn quản trị học"
-- Khởi đầu, vào năm 1942, khi đọc cuốn "Tương lai của con người công nghiệp" của Drucker, ông Alfred Sloan, doanh gia khét tiếng cầm đầu công ty General Motors, đã tìm gặp vị giáo sư về chính trị và triết học này để nhờ nghiên cứu về hãng GM của mình. Từ đấy, môn quản trị học xuất hiện tại Mỹ, vì Drucker không chỉ nghiên cứu và cố vấn cho việc tản quyền và cải tiến kinh doanh mà còn hệ thống hóa sự hiểu biết ấy cho mọi người cùng biết, cùng học hỏi.
Cũng từ đấy, trong 60 năm liền, ông là học giả đa bác, phổ biến kiến thức ra nhiều địa hạt và làm thay đổi tư duy, hành động và nếp sống của rất nhiều người, mà chẳng cần cải tạo hay ép buộc ai cả. Ông ta có biệt tài là chịu nghe và chịu nhận xét, với con mắt tinh tế khác thường, và sau cùng nêu loại câu hỏi bất ngờ như một công án Thiền tông, làm giới quản trị viên phải chưng hửng và duyệt xét lại toàn bộ tư duy và tập quán để tự tìm ra giải pháp hoàn hảo hơn.
Hỏi: Ông có nói đến viễn kiến hay khả năng tiên tri của Peter Drucker, xin ông đơn cử vài thí dụ cho thính giả cùng rõ được không"
-- Từ mươi năm nay, ta nghe nói đến nền "kinh tế tri thức" đi cùng cuộc cách mạng về công nghệ thông tin như một bước ngoặt lịch sử. Trước đấy, bị ảnh hưởng bởi kiến thức thô thiển của Marx về bước đầu công nghiệp hóa và của Lenin về vị trí công nhân thợ thuyền trong tiến trình sản xuất dây chuyền, người ta nói đến đấu tranh giai cấp hay sứ mạng tiên tiến của giai cấp công nhân. Ngay từ giữa thế kỷ trước, khoảng 1950, Peter Drucker đã nói công nhân phải là tài sản quý, chứ chẳng là món nợ; cũng từ năm 1950 ông nói đến vai trò của khách hàng, của thị trường toàn cầu và cách tổ chức doanh nghiệp đa quốc; từ năm 1970 ông tiên báo hình thái tổ chức và kinh doanh mới, với vai trò của kiến thức, của "lao động tri thức" sẽ thay thế dần công nhân thợ thuyền và đẩy lui ảnh hưởng của các nghiệp đoàn. Đấy là một vài thí dụ.
Hỏi: Những điều ấy có liên hệ gì tới các bài toán quản trị hay kinh doanh mà Việt Nam đang cần biết không"
-- Từ đấy, Peter Drucker cảnh báo về lỗi lầm mà tôi cho là lãnh đạo các nước chậm phát triển như Việt Nam ngày nay, ưa mắc phải. Rằng các yếu tố sản xuất cổ điển như đất đai, lao động hay tư bản vốn liếng, chính là những lực cản cho sản xuất và sự tiến hóa. Tri thức mới là yếu tố quyết định. Cho quy trình sản xuất hiện hành thì tri thức dẫn tới năng suất; cho những gì chưa hiện hữu thì tri thức dẫn tới sáng tạo. Mà tri thức cần nhất là tự do tư tưởng.
Drucker còn có một công thức lạ, là các định chế chính trị hay xã hội chính là loài sinh vật thủ cựu trong sự ổn định giả tạo, vì chỉ nghĩ đến bảo vệ thành quả quá khứ chứ không kịp ứng biến với môi trường. Trong khi về thực chất thì doanh nghiệp là các "trung tâm gây loạn" vì phải thường xuyên tự xét lại thành tích để thay đổi, nếu không là bị lỗ, hoặc bị phá sản. Chẳng biết ông ta có biết Dịch lý không nhưng ưa nói điều nghịch lý mà đúng! Ở một xứ tự do, ông ta là bậc thầy, ở một xứ độc tài hôn ám, ông ta có thể gặp số phận của Khuất Nguyên, Chu Văn An hay Nguyễn Trường Tộ, không thất nghiệp, lên máy chém hay vào tù thì cũng bị tập trung cải tạo. Nói vậy không ngoa đâu vì khi còn đang học tại Đức, cách nhau bốn năm, hai tiểu luận của cậu sinh viên Drucker đã bị chế độ Hitler tịch thu và đốt sạch!

Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.