Hôm nay,  

Tâm Hành Gia

08/03/200700:00:00(Xem: 16191)

Tâm Hành Gia

Lati Rinpoche
   ... Là những hành giả thám hiểm cái tâm của chúng sinh.

DHARAMSALA - Chuyện tử sinh của chúng ta là một khoa học chưa được các nhà khoa học chú ý đúng mức.

Khoa học tân tiến nhất của loài người ngày nay đã tìm đến Nguyệt cầu, Hoả tinh, và đã có các phi hành gia bay bổng ra ngoài tầng khí quyển để thám hiểm vũ trụ. Nhưng, ở bên trong, chúng ta biết gì về chính mình" Và về chính mình sau khi "tạ thế". Cái "thế" ấy là cuộc đời hữu hạn của mọi người ở bên này, nhưng "bên kia" cái ngưỡng cửa tử sinh ấy là gì" Là một hành lang như trong phi cảnh sẽ dẫn ta qua một chuyến bay khác" Bay tới đâu"

Mà có khi nào mình trở lại bên này hay không, dưới hình dạng ra sao"

Trên thế giới, duy nhất có một nền văn minh phát sinh trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn đã cúi nhìn và tìm hiểu về những câu hỏi ấy của mọi người. Đó là nền văn minh Tây Tạng. Họ không có phi hành gia thám hiểm vũ trụ mà có các "tâm hành gia".

Đấy là những nhà tu, các vị hành giả, chuyên chú tìm hiểu về chuyện sống chết như một khoa học gia - theo đúng nghĩa hiện đại của chữ này. Họ thám hiểm chính con người, từ khi ra đời cho tới khi tạ thế và tìm hiểu tiếp về một cõi "tạm du", một trạm "trung chuyển", trước khi con người đó lại trở về, lại tái sinh. Tái sinh ở một hình dạng với một tâm tính cao hay thấp hơn thì còn tùy vào kiếp này. Họ nghĩ, và biết, là khi hiểu ra chuỗi tiến hoá vô thường ấy thì mình đã được giải phóng khỏi cái chết. Hết sợ chết vì đã tìm ra một sự thật, một định nghĩa khác về cái chết. Vì chết chưa là hết.

Trong một ý nghĩa nào đó, Phật giáo Tây Tạng hàm chứa một thuyết tiến hoá kiểu Darwin. Nhưng với những quy luật tiến hoá khác, chủ yếu tùy thuộc vào cái tâm. Vì vậy, Giáo sư và Nhà sư Robert Thurman mới gọi họ là 'psychonauts', tâm hành gia!

Trong truyện Anh hùng Xạ điêu, nhân vật Quách Tĩnh của Kim Dung đã hỏi nhân vật lịch sử là Thành Cát Tư Hãn một câu để đời: "Chinh phục cả thiên hạ như thế, khi chết, Đại Hãn sẽ chinh phục bao thước đất"" Vấn nạn triết học bật ra từ một cậu bé trâu nước ù lỳ chậm hiểu!

Lịch sử cho biết là Thành Cát Tư Hãn tạ thế dưới chân thành Tây Hạ.

Lịch sử cũng cho biết là con cháu của ông về sau lại tôn các vị cao tăng Phật giáo Tây Tạng làm thầy.

Năm 1573, danh vị Đạt Lai Lạt Ma - Trí huệ như biển cả - là do một Đại Hãn Mông Cổ, một Hoàng đế nhà Nguyên, lần đầu tiên phong cho Đại sư Sonam Gyatso, là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ ba. Từ vị Đạt Lai Lạt Ma này, dân Tây Tạng mới suy ngược lên hai vị trước, và truyền thừa đến vị Phật sống tái sinh thứ 14 là đức Đạt Lai Lạt Ma đời nay, một hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Lịch sử cũng ghi lại rằng đế quốc lớn nhất lịch sử nhân loại do Thành Cát Tư Hãn xây dựng cuối cùng đã được "Phật hoá", tự giải giới để trở thành hiếu hoà, là nhờ công đức của các vị Lạt ma Tây Tạng. Phật giáo tại Mông Cổ đã từng được gọi là Lạt ma giáo cũng từ phép màu của Tây Tạng.

Trước Thành Cát Tư Hãn 17 thế kỷ, một nhà chinh phục nổi danh khác cũng đã muốn thám hiểm chuyện tử sinh. Đó là Tần Thủy Hoàng Đế. Sau khi gồm thâu lục quốc thống nhất thiên hạ, ông không muốn chết mà sai bọn phương sĩ đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Chuyện hão huyền vì sau cùng Tần Thủy Hoàng Đế cũng chết!

Nhưng, ngoài phép tập trung cai trị bằng chế độ quận huyện, ông còn để lại một di sản tai hại khác là vai trò của các phương sĩ ưa bàn ngang tán dọc về chuyện tử sinh! Văn minh Trung Hoa từ đó đi qua hướng khác, với các Thiên tử hoàn toàn chấp vào chuyện hình tướng của kiếp này và bọn phương sĩ nửa Lão nửa Nho đẻ ra một hình thái chuyên chế tuyệt đối kéo dài gần hai ngàn năm.

Trong khi ấy, Tây Tạng lại bước qua ngả khác.

Là một quốc gia thiện chiến và hiếu chiến, một tiền lệ trước Mông Cổ đến sáu thế kỷ, người Tây Tạng bỗng tự giải giới và quay vào trong, vào trong tâm, kể từ vua Tùng Tán Can Bố (Songsen Gambo) vào đầu thế kỷ thứ bảy. Vị vua hùng tài này đã du nhập đạo Phật từ Ấn Độ và chuyển hoá một đế quốc hùng cường thành một quốc gia hiếu hoà: từ đấy, dân Tây Tạng dồn sức xây chùa và xây trường (hai khái niệm này thực ra là một, là những tu viện Tây Tạng ta thấy ngày nay).

Đây là nơi mà các phần tử ưu tú, các học giả và cũng là những nhà sư, đã thu thập kiến thức hiện đại nhất từ Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư, Mông Cổ và Đột Quyết (Hồi Hột, Uighur ngày nay) về tôn giáo, thi ca, toán học, và còn lập cả một hệ thống y học kết hợp các bộ môn như cơ thể học, thần kinh học, tâm lý, giải phẫu, thảo mộc học, hoá học và cả dưỡng sinh học. Ở trên cùng là những lý giải của Phật giáo, du nhập từ Ấn Độ nhưng được nghiên cứu và khai triển thâm sâu gấp bội, khi Phật giáo bị suy tàn tại Ấn.....

Với những kiến thức tổng hợp từ bốn phương, lại ở trên nóc thế giới và có tuổi thọ giới hạn vì điều kiện sinh sống khắc nghiệt trên đỉnh cao ấy, người Tây Tạng đã sớm chú ý đến một đề tài không thể bỏ qua được, và chú ý theo tinh thần khoa học.

Là nghiên cứu về cái chết.

Với chúng ta, hay Tây phương ngày nay, cái chết là một sự kết thúc. Một sự giải thoát nếu kiếp sống này quá buồn khổ, hay một bi kịch đau buồn mà mình tránh không được. Và ta định nghĩa cái chết - một cách khoa học và pháp lý - là khi tim ngừng óc bặt.

Dân Tây Tạng cũng đồng ý với chúng ta về điều ấy. Cái chết là một thảm kịch vào cuối đời, nhưng họ đi xa hơn khi tìm ra định nghĩa khác về chữ "đời" này và định nghĩa lại chữ "chết". Họ đã tu tập và suy nghiệm để định nghĩa lại vì đã thấy rằng cái chết chỉ khép một cánh cửa của đời này nhưng mở ra một cánh cửa khác, bước qua một cõi khác. Vui hay buồn là khi ta có hay không chuẩn bị cho chuyến đi ấy!

Nếu biết trước và tự chuẩn bị thì mình được giải phóng khỏi nỗi ưu tư về chuyện "có-không" hay "được-mất" của kiếp này. Nếu chuẩn bị chu đáo hơn, bằng cả một hành trình tu tập, mình còn có thể chủ động chọn được cái cõi tạm sẽ đến để từ đó sẽ trở về, sẽ tái sinh. Nhưng mục tiêu tái sinh không để trở thành triệu phú hay tổng thống, mà để nâng cao giá trị của mình bằng cách cứu giúp người khác. Tinh thần Đại thừa và chân lý Bồ tát hạnh của Phật giáo Tây Tạng đòi hỏi ý chí vị tha ấy ngay trong chuyện sống chết. Bồ tát là người đã thành Phật nhưng vẫn quay trở về để cứu độ chúng sinh.

Tất cả chỉ vì cái tâm bồ đề, Bồ đề tâm, cái lòng từ bi như một thuộc tính, một căn tính bẩm sinh của con người. Ta gọi đó là Phật tánh cũng đúng.

Vì vậy, chúng ta thấy ra cái vòng chu chuyển rất hợp lý của hệ thống lý luận Tây Tạng: lòng từ bi thúc giục tinh thần hiếu hoà không hiếu chiến; lòng từ bi khiến ta muốn sống hữu ích cho người khác; và khi chết đi thì cũng chỉ như bước qua một chặng khác của một con đường dài - không vạch ra từ không gian hay cõi "không" trống vắng và lạnh lẽo mà chúng ta nghĩ về cái chết - để sẽ tái sinh làm người hữu ích hơn nữa.

Trong thế giới ấy, chúng ta mới thấy các vị "tulku" hay "Phật sống", những người đã vượt lẽ tử sinh thường hằng, để quay trở lại là Lạt Ma, là Rinpoche hay Đạt Lai Lạt Ma....

Tần Thủy Hoàng Đế ngày xưa cũng muốn sống mãi như vậy mà không thành. Ông ta phải "sống giả" bằng những lăng mộ thật giả được xây dựng kiên cố và bí hiểm. Ông ta thật ra không biết chết.

Con cháu của ông, giới lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay, cũng lại tiếp tục sự nghiệp cũ khi xâm chiếm và muốn tiêu diệt luôn nền văn minh Tây Tạng. Họ thua kém các Hoàng Đế Nguyên Mông trong cách đối xử với các vị tâm hành giả của nền văn hoá và tôn giáo này.

Chúng ta chưa thể biết được là các vị cao tăng Tây Tạng, đứng đầu là đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể tái diễn được phép cảm hoá màu nhiệm của đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba với các Đại Hãn Mông Cổ hay không. Nhưng, cũng do thảm kịch Tây Tạng mà thế giới bắt đầu biết rõ hơn về các vị "tâm hành gia" Tây Tạng.

Một trong những nhân vật ấy là Lati Rinpoche.

Ngài là thầy dạy học và dạy đạo cho đức Đạt Lai Lạt Ma năm xưa và nay vẫn là một cố vấn về giáo lý và lý luận Phật học cho vị lãnh tụ Tây Tạng. Ngài là hoá thân - Rinpoche - của một đại cao tăng và là một kho báu của dân tộc Tây Tạng. Ngài cũng đã giới thiệu hay giải thích cho nhân thế những kiến giải của mình về cái chết, về cõi tạm và sự tái sinh trong cuốn Death, Intermediate Sate and Rebirth do nhà Snow Lion xuất bản năm 1985 tại New York.

Bài này được viết như một lời tạ ơn của tác giả khi Đại lão Hoà thượng Lati Rinpoche phái các đệ tử thay mặt Ngài tổ chức dạ tiệc khoản đãi riêng một số Phật tử từ California qua Dharamsala dự khoá thuyết pháp năm nay của đức Đạt Lai Lạt Ma. Thời điểm là tối Thứ Năm mùng tám tháng Ba. Nơi tổ chức là nhà hàng Chonor House do Phật tử Richard Gere thành lập cheo leo trên một con dốc nhìn qua đỉnh núi tuyết!

Đây là biến cố làm mọi người chưng hửng vì chưa từng có bao giờ!

Trong một bài khác, biết đâu tác giả chẳng có duyên may viết tiếp về vị tâm hành gia này"

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.