Hôm nay,  

Tháng Tư ở Đại Học Berkeley

02/05/200700:00:00(Xem: 10020)

Nguyễn Thị Minh Ngọc đang diễn vai bà mẹ ôm con dại đi bỏ chợ (ảnh Bùi Văn Phú)
   Thứ Hai 9.4.2007

Tối nay có chiếu phim Sống Trong Sợ Hãi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên. Như những lần trước, tôi đến rạp Pacific Film Archive sớm vì tìm chỗ đậu xe quanh đại học không dễ vào giờ này.

6 giờ 30, theo thông tin là giờ bắt đầu phát vé vào xem. Nhưng chưa thấy ai. Cửa rạp còn khoá, im lìm. Hay buổi chiếu phim bị huỷ bỏ"

Tôi nghe tin hôm chiếu phim này ở một đại học miền Đông đã có người biểu tình phản đối. Có thể nào buổi chiếu phim hôm nay bị hủy bỏ mà tôi không biết chăng" Tôi không nghĩ thế vì đây là cái nôi sinh của phong trào tự do phát biểu ý kiến trong khuôn viên đại học, dù có biểu tình phản đối thì sinh hoạt đã lên lịch vẫn diễn ra. Quá khứ chứng minh điều này. Mười năm trước, khi nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từ trong nước đến nói chuyện, có mấy chục người Việt kéo đến biểu tình bên ngoài, bên trong phòng hội vẫn diễn thuyết, thảo luận. Lần khác có đoàn múa rối nước qua diễn cũng có biểu tình bên đường và trên sân khấu Greek Theater những con rối vẫn ngụp lặn trong bể nước.

Tôi lang thang ra đường Bancroft chụp mấy tấm hình. Trở lại nơi chiếu phim, thấy chị Thuỷ Phạm vừa đến. Chị làm việc cho Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á của Đại Học Berkeley. Chị nói với người phụ trách phòng phim rằng hôm nay không phát vé, như lần chiếu phim Chuyện của Pao, mà First come first serve – ai đến trước vào trước. Chị hỏi, có biểu tình không" Tôi nói, theo thông tin trên mạng thì đây là một phim mang tính tuyên truyền cho Hà Nội vì do IVCE (Institute of Vietnamese Culture and Education) đem qua Mỹ chiếu, nhưng không thấy kêu gọi biểu tình.

Đúng giờ, giáo sư Peter Zinoman, chủ nhiệm trung tâm, đăng đàn giới thiệu Sống Trong Sợ Hãi là một phim đã được 5 giải Cánh Diều Vàng trong nước. Phòng chiếu thật thưa người, chỉ chiếm chừng 50 chỗ trong số ghế hơn 200.

Đây là câu chuyện của một người lính Việt Nam Cộng Hoà, tên Tải, vào thời gian vài năm sau ngày 30.4.1975 phải đi gỡ mìn về bán phế thải để nuôi sống gia đình với hai người vợ và mấy con nhỏ. Câu chuyện đan xen nhiều mảnh đời và những mối tình, công khai cũng như thầm kín của nhiều người đã một thời tham gia chiến tranh, thoát chết nhưng rồi cũng có người không qua được số mệnh oan nghiệt với bom mìn còn lại sau ngày cuộc chiến đã tàn.

Trong quá khứ tôi đã được nghe chuyện kể đi gỡ mìn, nhưng không phải để nuôi sống gia đình mà là theo lệnh của quản giáo trại học tập cải tạo. Nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hoà, ông Đỗ Tiến Đức, từng kể cho tôi nghe khi mới đến Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1970, sau mấy năm học tập cải tạo. Ông đã bị bắt đi dò mìn bằng khúc dây kẽm gai như nhiều cảnh trong phim. Còn những vùng đất cần được khai hoang, được gọi là vùng kinh tế mới, là nơi đầy đoạ gia đình tù cải tạo đã được thả về. Những câu chuyện tôi nghe nhiều trong thời gian công tác tại các trại tị nạn.

Trải nghiệm của những người từng sống qua những nơi như thế không đẹp như trong phim, không như Tải và gia đình, không như cảnh cán bộ và du kích kêu gọi nhân dân hồ hởi đi dò, gỡ mìn, dù câu chuyện được đạo diễn - cùng với nhà biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc - dựng thành phim là câu chuyện thực, như lời đạo diễn cho biết sau phần chiếu phim, phản ánh cuộc đời của một nhân vật có thật.

Thứ Ba 10.4

Sau hôm chiếu phim, có buổi diễn kịch của nhà viết kịch kiêm diễn viên Nguyễn Thị Minh Ngọc ở nhà chị Nguyệt Cầm và giáo sư Zinoman.

Tối hôm đó chị Minh Ngọc độc diễn nhiều vai, trích ra từng đoạn của những tuồng kịch do chị soạn. Khi là một người mẹ phải đem bỏ chợ đứa con non dại vì không đủ sức nuôi, khi đóng vai một người viết gặp tổng biên tập không dám đăng bài vì sợ mất ghế, khi thì làm tướng công, khi trong vai quan chức trả lời thắc mắc của dân với đầy nghịch lí.

Trong những phút giao lưu, qua chị người nghe biết được ở Việt Nam ngày nay người sáng tác vẫn phải tự kiểm duyệt, phòng xa những chuyện nhạy cảm để khỏi bị cấm. Nhưng có những chuyện tưởng sẽ có vấn đề thì lại không và đôi khi chuyện nhỏ lại có. Chị dẫn chứng một vở kịch có một vai thanh niên thích làm từ thiện, thích mặc quần rằn ri nên bị cho là đưa lên hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hoà xưa. Chị nghe trên bảo xuống là không lẽ chỉ có Việt kiều và ngụy mới làm việc từ thiện hay sao" Một dịp khác, một vở kịch mới vừa được chiếu trên kênh truyền hình thì có ai đó gọi vào, nói nội dung xúc phạm đến phụ nữ, thế là không được phát nữa.

Tôi hỏi chị Ngọc: trong những phim như Chuyện của Pao và Sống Trong Sợ Hãi, vai chính đều có hai vợ, hay trong tự truyện Yêu và Sống, Lê Vân cũng mấy chồng, điều này có phản ánh xã hội Việt Nam ngày nay"

Chị trả lời: Ngoài đời còn nhiều hơn thế nữa. Nghe nói ở bên này các bà không cho chồng về Việt Nam một mình, anh thấy có đúng không"

Tôi gật đầu.

Xem chị Minh Ngọc diễn hôm đó có ca sĩ Ái Vân, mới rũ vai nàng Kiều ở quê nhà để trở lại đất Mỹ; có mấy nhà báo như Nguyễn Hữu Liêm, Nguyễn Khoa Thái Anh, Trương Gia Vy; có nhà văn Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Xuân Hoàng, Dana Sachs, Đỗ Hoàng Diệu. Thấy tác giả của Bóng đè nhỏ bé đi cùng chồng, anh Alec, sinh viên cao học ngành Sử Việt Nam, một người Mỹ to cao, trong trí nhớ tôi thoáng vụt lên những hình ảnh của thời chiến tranh xa xưa.

Cuộc chiến ở Việt Nam đã để lại nhiều hình ảnh ấn tượng: một nhà sư ngồi trong biển lửa, một ông tướng giơ súng nhắm vào thái dương kẻ thù đứng cạnh, những xác dân lành dưới mương, những mồ chôn tập thể, trực thăng bốc người từ một nóc nhà thành phố, một chị du kích với súng trên tay dắt tù binh Mỹ đi.

Thứ Sáu 13.4

Sproul Plaza thật nhộn nhịp. Đang dịp bầu cử tổng hội sinh viên nên sân trường tràn ngập bích chương, bảng hiệu vận động được từng nhóm sinh viên đi qua, đi lại giơ cao. Thấp thoáng có bảng mang tên Van Nguyen, Danielle Duong, những ứng viên gốc Việt.

Mấy chục hội đoàn sinh viên bày bàn ghế ra ngồi quảng bá sinh hoạt và chuyện gẫu. Có hội sinh viên gốc Philippines, Iran, Palestine, Trung Hoa, Hồi Giáo. Có những nhóm sinh hoạt Đảng Cộng Hoà, Đảng Dân Chủ, có nhóm văn nghệ hip hop, có hội sinh viên khoa thương mại hay hội đồng tính. Có bàn của hội sinh viên Việt Nam với hàng chữ VSA quen thuộc.

Tôi giới thiệu mình là cựu sinh viên và muốn mua vé coi văn nghệ tuần tới. Hỏi chuyện, tôi thấy các bạn ít biết về Việt Nam. Đất nước của bố mẹ, ông bà có lẽ là một nơi nào xa lạ. Năm sinh viên chỉ có một bạn đã theo bố mẹ về thăm gia đình. Còn tiếng Việt thì các bạn lõm bõm, không hiểu nhiều, trừ một nam sinh viên.

Daniel Hoàng nói tiếng Việt tương đối sỏi. Chỉ khi nào biết hiểu không rõ, tôi chuyển câu hỏi sang tiếng Anh. Daniel cho phép tôi ghi lại cuộc trao đổi:

“Em đang học ngành gì" Năm thứ mấy"”

“Em học English Literature, năm thứ tư.”

“Em sinh ra ở Mỹ""

"Vâng, em sinh ra ở đây."

"Em có làm gì trong VSA không""

“Em có trong ban điều hành. Trong ban lo tổ chức.”

“Ban điều hành bây giờ có bao nhiêu sinh viên"”

“Khoảng hai mươi sinh viên tất cả.”

“Sinh ra ở Mỹ, em có biết gì về ngày 30 tháng Tư"”

“30 tháng Tư thì bố mẹ kể cho em nghe. Em có đọc mấy cuốn sách viết về lịch sử của người Mỹ. Họ cũng không biết gì nhiều, vì cái vụ chiến tranh Việt Nam là của mình, chứ không phải là của họ. Họ sẽ không bao giờ hiểu được hết. Em biết 30 tháng Tư Việt cộng tới, Sài Gòn fell, then we have the diaspora. [Sài Gòn thất thủ, rồi chúng ta có cộng đồng di dân]”

“Em học tiếng Việt ở đâu mà nói giỏi vậy"”

“Cám ơn anh. Nhờ hồi nhỏ có bà ngoại ở nhà nói chuyện với em."

"Em có thường theo dõi thông tin về Việt Nam không""

“Not much. Just a little bit. [Không nhiều. Chỉ chút ít.]”

“How do you get news about Vietnam" [Em nhận thông tin về Việt Nam bằng cách nào"]”

“Hỏi bố mẹ hay lên mạng research [tra tìm].”

“Mạng nào em lên đó tìm đọc thông tin về Việt Nam"”

“Le Monde."

"Tu parles Francaise" [Em nói được tiếng Pháp"]"

"Oui."

"Gia đình em ở quanh đây hay ở xa""

“Nhà em ở nam Cali. Westminster.”

“Em đã về Việt Nam bao giờ chưa"”

“Em chưa về bao giờ. Mẹ em về rồi. Bố em thì chưa. My dad says as long as the communists are still there, he will not come back. But we have to live past that. [Bố em nói chừng nào còn cộng sản ở đó thì bố sẽ không về. Nhưng chúng ta phải sống bỏ qua quan niệm đó.]”

Sather Gate và Sproul Plaza, U.C. Berkeley tháng 4.2007 (ảnh Bùi Văn Phú)

  “Em có muốn về Việt Nam không"”

“Em muốn dịp hè về đó dạy tiếng Anh.”

“Em coi mình là người Mỹ hay người Việt"”

“Mình có hai lựa chọn. Đất nước này với lots of opportunities and we make the best out of it. [nhiều cơ hội và chúng ta hãy làm ra những gì tốt nhất từ đó]. Hay coi mình là người Việt về sống bên đó. Nói về đó để làm nhiều điều, nhưng một vài tháng, vài năm. It’s nothing. [Không là gì cả]. Phải ở luôn đó. Nhưng nhiều người quen lối sống bên này rồi. It’s hard from them to live over there. It’s very different. If they have ideals which their parents put into them, they only do it on the face, just to say that I’m part of the Vietnamese culture, I come back and do it one, two years, that’s it. If you want to do it you must devote yourself the whole way. You don’t go there couple years and go back and say I did my part. The job is not done until Vietnam is free. The other thing I want to say is Việt cộng will change when they are ready. We can do nothing from here. [Thật khó cho họ sống ở bên đó. Đời sống rất khác. Nếu họ có những lý tưởng do cha mẹ truyền đạt, họ chỉ làm thế ở bề ngoài thôi, để nói rằng tôi là một phần của văn hoá Việt, tôi trở về, sống ở đó một đôi năm, thế thôi. Nếu bạn muốn làm thì phải tận hiến tất cả. Bạn không về đó vài năm rồi về lại đây và nói tôi đã góp phần. Sứ mạng chưa thể hoàn thành cho đến khi Việt Nam được tự do. Điều khác em muốn nói là Việt cộng sẽ thay đổi khi họ sẵn sàng. Chúng ta không làm gì được từ bên này.]”

“Can we lobby and put some pressure for changes" [Chúng ta có thể vận động và tạo một số sức ép cho sự thay đổi không"]”

“You look at Cha Lý. [Anh coi Cha Lý đấy]. Họ bịt mồm cha lại. They covered his mouth and pushed him out of the courtroom. And we can not do anything [và đẩy cha ra khỏi phòng xử án mà chúng ta không làm được gì]. Ba mươi mấy năm rồi mà Việt cộng vẫn còn làm như thế. Nhưng em muốn hỏi anh như thế Hồ Chí Minh có đúng không"”

“Theo anh, câu hỏi đó chỉ có câu trả lời giả định vì ông Hồ mất năm 1969, trước khi chiến tranh chấm dứt.”

“Nếu ông còn sống he will be ashamed with what’s going on in Việt Nam today. Don’t you think" [Ông ấy sẽ xấu hổ với những gì đang xảy ra ở Việt Nam ngày nay, anh có nghĩ thế không"]”

“I think so. [Tôi nghĩ thế]”

Daniel đi tìm điếu thuốc, còn tôi đến giờ phải đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau hôm văn nghệ.

*

Rời Sproul Plaza, tôi theo một sinh viên đến lớp Việt ngữ của thầy Trần Hoài Bắc. Tôi muốn dự thính xem các bạn trẻ học tiếng Việt ra sao. Gần cuối giờ thầy dành cho mươi phút để sinh viên thực tập phỏng vấn tôi bằng tiếng Việt về công việc, đời sống, gia đình, về sinh hoạt trong trường thời tôi theo học. Trong lớp tình cờ có một nữ sinh viên, giới thiệu là con của Nguyễn Trọng Vũ và Nguyễn Kim Phượng, là hai bạn cùng được bầu vào ban chấp hành đầu tiên của VSA, Vũ phụ trách sinh hoạt còn Phượng lo tài chánh.

Ngày đó chúng tôi đi học, kể cả nơi ăn chốn ở một năm tốn chưa đến 4 nghìn, trong đó tiền học phí chừng 700 đô-la. Bây giờ tiền học một năm gần 8 nghìn, ăn ở tốn hơn chục nghìn nữa. Lúc đó trường không có lớp Việt ngữ, nhưng tiếng Việt vẫn được xem là một ngoại ngữ vì tôi đã phải đi thi để chứng nhận là biết một ngoại ngữ theo điều kiện nhà trường bắt buộc. Một mùa hè, chương trình ngôn ngữ Đông Nam Á luân phiên tại Mỹ về đến Berkeley thì có thày Lê Thức Lân dạy một hay hai lần.

Hơn mười năm nay, khi giáo sư Peter Zinoman về trường dạy rồi lên làm chủ nhiệm Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á, chương trình Việt ngữ được phát triển. Mỗi học kỳ có 6 lớp, từ sơ cấp mới tập đọc, tập viết, đến trung cấp có thảo luận rồi lên cao cấp với bình luận văn chương. Phụ trách lớp là các thày Trần Hoài Bắc, Trần Hạnh và cô Nguyễn Nguyệt Cầm. Thầy Hạnh là giáo sư thỉnh giảng đến từ Hà Nội.

Cảnh trong văn nghệ Sài Gòn Trăng Mờ: nét thực dân đụng tinh thần độc lập (ảnh Bùi Văn Phú)

   Số nghiên cứu sinh chuyên về Việt Nam cũng tăng nhiều trong những năm gần đây, hiện có khoảng 30 và hai phần ba có họ Việt. Tiếc là vào năm 1997 trường đã không giữ lại được kho tài liệu về chiến tranh Việt Nam của cố học giả Douglas Pike, phải chuyển nó qua Texas Tech University. Nhưng thư viện Berkeley, một trong những thư viện đại học lớn ở Hoa Kỳ, cũng có một kho tài liệu phong phú về Việt Nam.

Năm ngoái Trung Tâm đã cho ra đời tập san bán niên Journal of Vietnamese Studies với nhiều nghiên cứu sâu sắc. Số mới nhất có bài về Đại Hội Đảng Cộng Sản, về Lý Toét và về ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn.

Thứ Năm 19.4

Có buổi nói chuyện và thảo luận của giáo sư Ken MacLean từ Đại Học Emory về việc phân ranh lãnh hải biển Đông. Những năm qua, đây là đề tài có lúc sôi nổi lên ở hải ngoại. Trong nước những người lên tiếng thì bị trù dập. Bận việc nên tôi không dự. Cũng tiếc.

Thứ Bẩy 21.4

Chiều nay tôi đưa con lên trường vui chơi trong ngày Open House, là ngày truyền thống của các đại học Mỹ, với nhiều sinh hoạt cho khách tham quan.

Nơi sân trường tình cờ gặp lại nhiều bạn cũ: Hồ Tường Thụy, Bảo Nguyễn, Thắng Võ. Gặp lại cả anh TA [Teaching assistant] gốc Đài Loan là người hướng dẫn tôi trong những giờ thí nghiệm thực hành của lớp Chem. 1A đúng ba mươi năm trước. Anh ngạc nhiên khi tôi còn nhớ tên anh là Chu-an Chang. Thời đó anh là sinh viên du học, mới đến Mỹ hơn một tuần nên vào lớp anh ăn mặc chỉnh tề, áo bỏ trong quần thẳng nếp, cổ tay đeo măng-sét, không xuề xoà quần gin áo thung như những TA khác. Anh kể sau khi tốt nghiệp tiến sĩ hoá học, anh ở lại Mỹ đi làm, rồi lập gia đình và hiện sống ở thành phố Piedmont gần đây.

5 giờ, tôi và các con đến Zellerbach Auditorium xem sinh viên trình diễn Sài Gòn Trăng Mờ. Các bạn sinh viên trong khăn đóng áo dài đứng đón khách.

5 giờ hơn, chương trình khai mạc với quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà.

Thính đường hai nghìn chỗ ngồi đông kín khán giả. 125 sinh viên đã góp phần dựng nên khung cảnh Sài Gòn vào thập niên 1930 và 1940, khi đất nước còn đang bị đô hộ, qua mối tình thăng trầm theo thời cuộc của một nhà văn Việt và cô giáo Pháp, qua phong cảnh, qua nét thơ Hàn Mặc Tử, qua lời ca tiếng nhạc, những vũ điệu và diễn xuất của các bạn trẻ lồng trong những tư tưởng, phong trào của những nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh và lòng khao khát độc lập, tự do của một dân tộc.

Thứ Hai 30.4

Trưa nay có giáo sư Larry Berman từ U.C. Davis đến nói chuyện về quyển sách mới nhất của ông viết về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn: Perfect Spy.

Lịch sử cuộc chiến tranh ở Việt Nam sang trang đã lâu. Nhưng từ phía chiến bại thì tiếp tục còn là đề tài nghiên cứu và tranh luận. Như nhân vật Phạm Xuân Ẩn, tuy nói đến nhiều nhưng chưa thực sự được giải mã. Và còn nhiều điều bí ẩn nữa chờ đợi thế hệ sinh viên trẻ đi tìm ngọn nguồn.

Ngày cuối tháng Tư bây giờ sinh viên không còn tổ chức đêm không ngủ, không tụ họp nhau đốt những ngọn nến lung linh, hát câu thương nhớ gửi về quê nhà xa xôi thăm thẳm bên kia đại dương.

Quê hương của thế hệ thứ nhất nay đã gần lại, thật gần, qua email, Internet, Webcam, YouTube, qua 17 giờ bay trên biển là thấy sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng với nước phù sa hiện lên bên dưới.

Nhưng Việt Nam là một nơi xa lạ lắm với những thế hệ con cháu.

Tháng Tư không còn những nỗi đau. Chỉ còn những ngày giỗ chạp.

Trịnh Công Sơn, Trần Bạch Đằng

David Halberstam, Chu Tử

Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Thu Hương

William Craig Nystul, Michael John Shea

Nguyễn Văn Long, Nguyễn Khoa Nam

Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn

Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hoà.

(talawas.org)

(Trân trọng cảm ơn tác giả Bùi Văn Phú đã gửi bài này tới Việt Báo.)

Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.