Hôm nay,  

Ai Kỳ Hơn Ai?

19/10/200700:00:00(Xem: 9976)

...Giữa Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ, ai sẽ đoạt giải"...

Chỉ hai tiếng đồng hồ trước khi đứng cùng lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ để chào đón đức Đạt Lai Lạt Ma trong sảnh đường Rotunda của tòa nhà Quốc hội, Tổng thống George W. Bush đã có một cuộc họp báo nẩy lửa.

Nẩy lửa vì trong cuộc họp báo, ông mạnh lời đả kích Quốc hội - xin hiểu là đảng Dân chủ đa số - không làm tròn nhiệm vụ trong một số lãnh vực. Ông Bush liệt kê rất dài các lãnh vực đó: bảo hiểm sức khoẻ, an ninh nội địa, ngân sách quốc gia, giáo dục, gia cư, ngoại thương, trợ giúp cựu chiến binh, tăng cường quyền hạn tư pháp. Và ông kết thúc danh mục về sự bất cập của Quốc hội Dân chủ bằng một khiếm khuyết khác: chẳng những không làm đủ nhiệm vụ cho quốc dân lại còn mau mắn thi hành một việc thừa thãi và bất hợp thời, là ra nghị quyết lên án xứ Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) về tội diệt chủng năm 1915.

Sau cuộc họp báo căng thẳng tới bốc lửa, ông qua Quốc hội dự lễ trao tặng huy chương vàng, sự tôn vinh cao quý nhất của Quốc hội Hoa Kỳ dành cho một nhân vật dân sự. Lần này là đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng.

Vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo Tây Tạng có thể không biết là các chủ nhà đang cùng vinh danh mình thực ra cũng đang đấu trí và đấu võ với nhau, theo đúng quy luật dân chủ. Trong sảnh đường Rotunda trang trọng của Quốc hội, Hoa Kỳ có một bộ mặt văn minh và thống nhất khi tuyên dương một nhân vật xuất chúng và đặc biệt như đức Đạt Lai Lạt Ma, và gián tiếp thông báo cho lãnh đạo Trung Quốc rằng đã đến lúc họ nên trực tiếp nói chuyện với vị lãnh đạo Tây Tạng.

Nhưng, ở từ rất xa, lãnh đạo một quốc gia khác là Thổ Nhĩ Kỳ tại thủ đô Ankara cũng theo dõi rất sát những tranh chấp quan điểm trong nội tình Hoa Kỳ.

Ankara muốn biết rằng đề nghị của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện có được cả Quốc hội Mỹ thông qua hay không, để lên án dân Thổ Nhĩ Kỳ về tội diệt chủng năm 1915, khi xứ này còn là một phần của Đế quốc Hồi giáo Ottoman. Tại cuộc họp báo sáng 17, Tổng thống Bush kêu gọi Quốc hội là đừng làm việc đó vào lúc này, như quan điểm của tất cả các cựu Ngoại trưởng còn sống của Hoa Kỳ, thuộc cả hai đảng. Lý do là sẽ gây phản tác dụng, vào một thời điểm cực kỳ nhạy cảm tại một địa điểm cực nóng, là Iraq.

Dư luận Hoa Kỳ có thể không cần biết tới sự quan tâm theo dõi của Ankara, nhưng họ cần biết là giá dầu thô trên thế giới đã tăng vọt tới mức kỷ lục là hơn 87 Mỹ kim một thùng, tăng chín đồng trong có một tuần. Chỉ vì quyết định lên án của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa Kỳ, và phản ứng gay gắt của Thổ Nhĩ Kỳ khi họ chuẩn bị đưa quân vào Iraq.

Nếu có phải trả tiền xăng đắt hơn trong mấy tuần tới, dân Mỹ nên biết rằng điều ấy xuất phát từ sự bất ổn tại Vịnh Á Rập, và do một quyết định lạc quẻ của một số đại diện dân cử bên đảng Dân chủ. Đứng đầu là Dân biểu Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosi, một người đã sốt sắng vận động việc tôn vinh đức Đạt Lai Lạt Ma.

Vì sao Quốc hội Dân chủ lại chọn lúc này để gây hấn với một đồng minh của Hoa Kỳ tại Iraq là Thổ Nhĩ Kỳ" Nếu đã vì đạo tắc, quy tắc về đạo lý, để không quên những việc làm sai quấy của nhân loại trong quá khứ thì vì sao không nhân dịp này ra một nghị quyết lên án Trung Quốc đã tàn sát hơn một triệu dân Tây Tạng sau khi công khai xâm lăng cứ này vào năm 1950 và ngang ngược tấn công thẳng vào thủ đô Lhasa vào năm 1959"

Đảm lược và lý trí của Quốc hội Hoa Kỳ là điều gì đó vượt ra khỏi lý trí của người bình thường và Thổ Nhĩ Kỳ có thấy Mỹ là kỳ quá thì cũng chẳng sai. Nhưng, lãnh đạo của họ có nhiệm vụ sâu xa hơn và phải nhìn rộng hơn một phản ứng nông nổi và ấu trĩ của Quốc hội Mỹ.

Họ phải suy nghĩ lại về chỗ đứng của mình.

Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng một thành ngữ của dân Thổ, về hậu quả thì rất gần với câu nói của dân Việt, là già néo đứt dây. "Khi dây đã quá căng thì thà đứt cho xong!" là lời tuyên bố của ông Recep Tayyip Erdogan, người mới được dân Thổ tái tín nhiệm với một tỷ lệ phiếu rất cao cách đây đúng ba tháng. Với ông, "cho đứt dây" có nghĩa là cây  Thổ muốn lặng mà gió Mỹ chẳng muốn dừng, nên Thổ sẽ đổ quân vào Iraq để giải quyết cho sạch mối lo xuất phát từ dân Kurd.

Nó cũng gai góc như mối lo với dân Armenia ngày xưa, cách đây gần một thế kỷ.

Ngày xưa, Đế quốc Ottoman, tiền thân vĩ đại của Thổ Nhĩ Kỳ, là một chế độ Hồi giáo nhưng chấp nhận đa nguyên đa chủng. Đế quốc này nằm giữa một trục giao lưu vừa Đông-Tây (qua biển Địa Trung Hải) vừa Nam-Bắc, qua biển Caspian.

Thế rồi Thế chiến thứ nhất bùng nổ vì những tranh chấp của Âu châu, và đế quốc này lãnh hoạ sau đó. Giữa giải pháp dung hoà đặc tính đa nguyên vì đa chủng và đa văn hoá, với giải pháp củng cố sức mạnh quốc gia trong một xã hội thuần chủng, họ ngả theo giải pháp thứ hai. Giữa những biến động long trời lở đất của cả thế giới, tinh thần quốc gia dân tộc được dân Thổ đề cao. Đấy là lúc liệt cường dùng dao giải phẫu Đế quốc Ottoman theo kiểu Tây phương tại hội nghị Sèvres- nghĩa là ngang ngược: cho xứ này một mảnh, xứ kia một góc, bất chấp thực tế sắc tộc ở tại chỗ.

Thí dụ như xứ Hy Lạp (Grece) lại được phần béo bở là mạn Bắc của biển Dardanelles; còn Armenia có một lãnh thổ quá lớn cho một dân số quá nhỏ; và dân Kurd thì có đủ yếu tố đòi hỏi quyền độc lập mà lại không có lãnh thổ, để trở thành một quốc gia. Cụ thể là dân Kurd mà lập quốc là dân Turkey thấy sự toàn vẹn lãnh thổ của họ bị đe dọa.

Hoà ước thành Sevres vào năm 1920 đã gieo mầm loạn cho Thổ Nhĩ Kỳ và sau ba năm tranh đấu để đòi lại đất đai đã bị liệt cường chia vụn cho Hy Lạp, Armenia và người Kurd, họ luôn luôn hoài nghi tinh thần giải phẫu vô trách nhiệm của các nước Tây phương. Việc họ tàn sát dân Armenia từ năm 1915 đến 1920 là điều không tha thứ được, nhưng phải được hiểu như một phản ứng sợ hãi. Phản ứng tâm lý đó vẫn còn sau khi Thổ Nhĩ Kỳ giành độc lập và ra khỏi tinh thần đa nguyên của Đế quốc Ottoman đã bị khai tử.

Ngày nay, nếu họ luôn luôn trú quân tại miền Bắc Iraq để lập vùng trái độn trong khu vực sinh hoạt của dân Kurd, tại Turkey và Iraq, người ta có thể hiểu ra. Quốc hội Mỹ không xem bản đồ hay đọc lịch sử nên khỏi cần hiểu chuyện ấy. Dân Mỹ đã bầu lên cấp lãnh đạo như vậy càng khỏi cần hiểu chuyện ấy! Và không biết rằng quân số của Turkey đang trú đóng tại miền Bắc Iraq còn cao hơn 160 ngàn lính Mỹ tại Iraq. Vì không hiểu nên, một lần nữa lại đòi giật đuôi cọp.

Năm 1991, sau khi tấn công Iraq để giải phóng Kuweit, Hoa Kỳ vào thời Bush cha đã tặng Turkey một món quà độc bất ngờ, cứ tưởng như chính đáng, là muốn cho dân Kurd được tự trị tại miền Bắc Iraq, tiếp giáp với vùng sinh hoạt của dân Kurd ở Turkey. Dân Kurd này mà đấu tranh để giành độc lập là cả Iraq lẫn Turkey sẽ loạn to. Vì vậy, năm 1995, Turkey đã tung vào Iraq 35 ngàn quân để đàn áp cuộc nổi dậy của người Kurd.

Bây giờ, nỗi ám ảnh nguyên thủy của dân Thổ đang tái diễn khi dân Kurd tại Iraq đang có nhiều quyền hạn hơn vì hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ. Và còn đang vận động đầu tư quốc tế vào các giếng dầu trong vùng kiểm soát của họ. Nhìn từ Ankarra, đấy là điều đáng ngại khi mà lực lượng cực đoan nhất của dân Kurd, đảng Công nhân Kurdistan PKK (một nhóm phiến loạn bị Hoa Kỳ lên án là khủng bố) lại tấn công các căn cứ quân sự của Turkey và rút chạy qua biên giới Iraq.

Turkey cần sự hợp tác của Hoa Kỳ để giải quyết bài toán của họ, và sẽ hợp tác với Chính quyền Bush để giải quyết bài toán Iraq của Mỹ. Giữa thời điểm ấy, Quốc hội Mỹ lại kết án dân Thổ về một tội ác xảy ra gần trăm năm trước!

Ngày 15 vừa qua, người cầm đầu quân đội Hoa Kỳ, Đô đốc Chủ tịch Bộ tham mưu Liên quân Michael Mullen đã phải gọi thẳng vị tương nhiệm là Đại tướng Yasar Buyukanit để nói chuyện về những hậu quả của dự luật kết án Turkey đang được Quốc hội Mỹ cứu xét. Nếu chuyện đáng tiếc ấy thành hình, nhẹ nhất thì quân lực Hoa Kỳ cũng hết được dùng căn cứ không quân Incrilik của xứ Turkey, tức là sẽ gặp trở ngại lớn về tiếp liệu cho các đơn vị Mỹ tại Iraq. Nặng hơn nữa, lính Thổ sẽ nhập trận tại miền Bắc Iraq để tấn công dân Kurd, và kế hoạch ổn định của Mỹ sẽ cháy như bó đuốc!

Trong hơn nửa thế kỷ, Thổ Nhĩ Kỳ đã là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và thành viên khả tín trong Minh ước NATO suốt thời Chiến tranh lạnh. Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một đồng minh kín đáo của Israel trong tình trạng sôi bỏng tại Trung Đông, và mãi tới gần đây có thể còn báo tin ngầm cho Israel trong vụ phi cơ Do Thái tấn công một căn cứ nguyên tử của Syria vào ngày mùng sáu vừa qua. Sự hợp tác ấy đang bị bào mỏng, và có thể dứt, như Thủ tướng Tayyip Erdogan đã cảnh báo.

Lý do gắn bó năm xưa của Thổ Nhĩ Kỳ là Hoa Kỳ giữ vai trò một siêu cường ổn định, cho phép họ gìn giữ được an ninh và phát triển thành một quốc gia tân tiến. Với vị trí của mình là một cường quốc trong khu vực, Thổ Nhĩ Kỳ sẵn sàng là đồng minh của thế lực ổn định, là Hoa Kỳ. Nhưng khi tấn công Iraq và quậy nát trật tự cũ trong khu vực, Hoa Kỳ đã khiến dân Thổ chột dạ. Nhìn từ quan điểm của dân Thổ, Ankara có lý do chống lại việc Mỹ vào Iraq năm 2003 và chỉ còn giữ vai trò yểm trợ rất thứ yếu, và canh chừng mối nguy của dân Kurd, một đồng minh khác của Mỹ trong khu vực.

Lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đang cân nhắc ngần ấy rủi ro trong khu vực: Iran nay đã trở thành một cường quốc sát nách và hết sợ đối thủ truyền kiếp là Iraq. Liên bang Nga nay đã đứng dậy, khống chế toàn khu vực Caspian và muốn quay về Địa Trung Hải. Trong khi ấy, dân Kurd đã mơ ước sẽ có ngày lập quốc từ những mảnh vụn tại Iraq, Turkey và Iran, thành Cộng hoà Kurdistan có dầu khí!

Giữa những rủi ro ấy họ cần xem lại là Hoa Kỳ có thiện chí và đáng tin tới mức nào, hay sẽ như liệt cường thời 1920, xé nát cả khu vực này do những tính toán thiển cận của Washington. Họ đang được Tổng thống Bush trấn an và kêu gọi kiên nhẫn thì lại bị Quốc hội Dân chủ vỗ mặt.

Quốc hội Mỹ muốn dùng dân Thổ phá nát kế hoạch Iraq của Chính quyền Bush. Vừa phải vuốt mặt, lãnh đạo Thổ vừa suy tính xem là họ có nên làm trò đánh lén không công ấy hay chăng.

Thành thử, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ, ai kỳ hơn ai thì ai cũng rõ.

Nếu chưa rõ thì có thể hỏi lại Quốc hội Mỹ, rằng dân Mỹ từ đâu tới để lập quốc trên xứ này, và những người Mỹ nguyên thủy, thổ dân Mỹ, đã bị diệt chủng ra sao" Một lễ Tạ ơn hàng năm để cám ơn thổ dân Mỹ về mấy con Turkey thực ra chưa đủ xoá tội đâu. Việc cho mở sòng bài để kiếm bạc triệu với lý do trợ cấp cho một số thổ dân Mỹ cũng thế!

Vì sao không sờ vào gáy mình mà lại còn muốn hỏi tội xứ Turkey, và hùng dũng lặng thinh về tội ác tày trời của rất nhiều xứ khác" Kỳ cục!

Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.