Quận Cam (VB)- Những tranh cãi liên quan đến việc tác hại của mạng xã hội đối với trẻ em đang ngày càng căng thẳng. Vào cuối tháng 3 2026, một phiên toà tại Los Angeles phán quyết thắng kiện cho một phụ nữ trẻ, Kaley, trước hai công ty Meta và YouTube. Bồi thẩm đoàn xác định rằng Meta (công ty sở hữu Instagram, Facebook, WhatsApp) và Google (chủ sở hữu YouTube) đã cố tình thiết kế các nền tảng mạng xã hội mang tính gây nghiện, gây tổn hại đến sức khỏe tinh thần ngay từ thời thơ ấu của cô gái 20 tuổi này. Họ phải bồi thường khoản tiền 6 triệu đô la. Kết quả này dự kiến sẽ ảnh hưởng sâu rộng đối với hàng trăm vụ kiện tương tự tại các tòa án tại Mỹ. Meta và Google cho biết có ý định kháng cáo.
Những lo lắng về tác hại của mạng xã hội đến trẻ em cũng dẫn đến những thử nghiệm cấm học sinh sử dụng điện thoại di động trong trường học. Hiện tại đã có 33 tiểu bang có luật yêu cầu các khu học chánh thực hiện lệnh cấm sử dụng điện thoại di động trong các lớp học thuộc các trường phổ thông (K-12). Hầu hết các lệnh này cấm việc sử dụng điện thoại trong toàn bộ thời gian học tập tại trường. Ước tính trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay dành trung bình 5.5 giờ mỗi ngày để sử dụng điện thoại.
Trong một cuộc họp báo trên mạng do American Community Media tổ chức vào đầu tháng 4, hai nhà giáo dục và hai học sinh đã trình bày những kết quả nghiên cứu, ý kiến cá nhân về lệnh cấm này. Các diễn giả:
Tiến sĩ Timothy Pressley – Phó Giáo sư ngành Tâm lý học, Đại học Christopher Newport.
Tiến sĩ David Marshall – Phó Giáo sư Nghiên cứu thuộc Khoa Nền tảng, Lãnh đạo và Công nghệ Giáo dục, Đại học Auburn.
Kai Bwor – nữ học sinh năm cuối tại Trường Granada Hills Charter. Bwor đang là tổng biên tập tờ báo học đường của trường.
Nicholas Torres – nam học sinh vừa tốt nghiệp trung học phổ thông tại Houston, Texas.
Tiến sĩ Pressley trình bày một nghiên cứu về kết quả của lệnh cấm sử dụng điện thoại trong trường học trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay, các lệnh cấm kiểu này còn mới, chưa được áp dụng rộng rãi, cho nên chưa có nhiều dữ liệu. Nghiên cứu xem xét tác dụng của lệnh cấm dựa trên ba lĩnh vực: kết quả học tập, sức khỏe tâm lý, sự gắn kết của học sinh.
Về kết quả học tập, nghiên cứu tại Châu Âu cho thấy học sinh cải thiện kết quả ngay từ năm đầu tiên. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác tại Florida cho thấy không có khác biệt rõ ràng trong năm đầu tiên; nhưng sang năm thứ hai thì kết quả có cải thiện, đặc biệt với nhóm học sinh kém.
Về sức khỏe tâm lý, kết quả nghiên cứu tại Úc cho thấy tình trạng bully trong trường có giảm; nhưng những vấn đề căng thẳng, trầm cảm của học sinh không thay đổi nhiều. Một nghiên cứu ở Châu Âu cũng cho kết quả tương tự. Có thể các tác động tâm lý đối với học sinh không thay đổi nhiều là do các em vẫn sử dụng điện thoại nhiều sau giờ học tại trường.
Về sự gắn kết, chú tâm, một nghiên cứu tại New York cho thấy sự chú tâm trong giờ học được cải thiện. Ngoài ra, các em học sinh tham gia nhiều hơn vào các sinh hoạt của nhà trường, thí dụ như đi cổ động cho các trận đấu thể thao của trường đông hơn.
Các nhóm nghiên cứu có nêu lên một số quan ngại từ phụ huynh, thí dụ như không thể liên lạc được với con trong trường học, đặc biệt là trong trường hợp khẩn cấp. Về phía học sinh, các em cho rằng có cảm giác bị cô lập khi không có điện thoại. Ngoài ra, các em còn than phiền là thầy cô, nhà trường không công bằng về lệnh cấm đối với tất cả các học sinh, có sự thiên vị. Về phía thầy cô cho biết điện thoại là cần thiết cho một số hoạt động học tập trong lớp, thí dụ như tham khảo thông tin trên internet. Các nhóm nghiên cứu còn đề nghị nhà trường khi áp dụng lệnh cấm nên thường xuyên lắng nghe ý kiến từ phụ huynh, giáo viên, học sinh. Nhà trường cần có hướng dẫn rõ ràng, minh bạch cho toàn bộ giáo viên về các qui định, để việc áp dụng lệnh cấm được đồng nhất, công bằng.
Giáo sư Marshall trình bày kết quả nghiên cứu từ một thử nghiệm tại một học khu ở Virginia, bắt đầu áp dụng trong khoảng đầu năm 2025. Khi được hỏi ý kiến, 84% giáo viên tán đồng với lệnh cấm, với lợi ích nổi bật nhất là các em học sinh chú tâm nhiều hơn vào việc học trong lớp. Ngoài ra, giáo viên ghi nhận các em học sinh tương tác với bạn bè nhiều hơn, từ đó có thể phát triển khả năng giao tiếp xã hội tốt hơn. Đa số giáo viên cho rằng việc áp dụng phải mang tính đồng nhất với toàn bộ giáo viên trong trường thì mới có kết quả tốt, nếu không sẽ dễ bị học sinh chống đối.
Khi được hỏi ý kiến, nữ học sinh Kai Bwor cho biết cô từng là một “con nghiện” của mạng xã hội, đặc biệt là từ sau đại dịch Covid 19, khi điện thoại là phương tiện duy nhất để cô liên lạc với thế giới bên ngoài. Mắt cô kém hơn vì dùng điện thoại quá nhiều. Cô đồng ý rằng các trang mạng xã hội có những phương pháp hữu hiệu để khuyến khích giới thanh thiếu niên sử dụng, tương tác trên phone càng nhiều càng tốt. Các trang mạng xã hội ảnh hưởng nhiều đến cách hành xử, cách ăn mặc, quan niệm về xấu đẹp của cô và bạn bè.
Bwor cho biết bản thân không ủng hộ lệnh cấm điện thoại trong trường học, cho rằng nhà trường nên kêu gọi sự tự giác, nên giáo dục học sinh về cách sử dụng hợp lý hơn là cấm đoán. Ở tuổi teen, lệnh cấm sẽ khiến cho học sinh tìm ra những cách để vượt qua sự kiểm soát để tiếp tục sử dụng phone lén lút, và cô đã thấy điều này từ bạn bè chung quanh.
Nam sinh Nicholas Torres cũng không tán thành lệnh cấm, cho rằng điện thoại là cần thiết trong trường học vì nhiều lý do: là công cụ trong nhiều hoạt động học tập; liên lạc gia đình trong trường hợp khẩn cấp. Bản thân Torres dùng phone chủ yếu để chơi game, liên lạc với bạn bè, chứ không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi những thông tin trên mạng xã hội. Thiếu phone, Torres cảm thấy đơn độc, vì không thể liên lạc với bạn bè trong giờ học. Nói về lệnh cấm trong trường của mình, Torres cho biết nhiều giáo viên không quan tâp đến vấn đề này, không để ý các em có sử dụng điện thoại hay không, miễn là các em hoàn thành các bài tập được giao.
Xem ra lệnh cấm sử dụng điện thoại trong trường học vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét lại, cần phải có sự phối hợp tốt hơn giữa nhà trường, phụ huynh, giáo viên nếu muốn áp dụng thành công trong tương lai.



Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình