Hôm nay,  

Xuống Núi

25/02/200500:00:00(Xem: 7920)
Xuống núi, hay nói một cách văn vẻ hơn là hạ sơn, thường để chỉ về sự kiện những nhà tu hành đã đắc đạo hoặc đạt đạo tới mức nào đó, có thể rời thạch động với mục đích đem sự chứng ngộ của mình mà chia xẻ cùng nhân gian. Nghĩa là, khi lên núi thì rất âm thầm nhưng khi xuống núi, các ngài đã là người đại diện Chư Phật, Chư Bồ Tát rao giảng lời Phật dạy và được thế nhân tôn kính.
Nhưng với môn thể thao leo núi thì ngược lại. Với những người chinh phục núi cao, đường lên núi mới chứng tỏ công lực; Và, tới được đỉnh núi là tột cùng vinh quang. Đường xuống núi lại hoàn toàn thầm lặng, bao nhiêu hãng truyền thanh truyền hình bám sát đường lên núi, nay đi đâu hết cả, chẳng ai buồn biết thêm về đường xuống núi của người hùng ra sao. Nhưng có can chi, vì cái mốc “Tới” của người leo núi đã được chứng minh rõ rệt bằng hình ảnh hân hoan ngạo nghễ trên đỉnh núi, giơ cả hai tay ra mà chào trời, chào mây, chào gió, chào trăng sao. Còn mốc “Đạt” của nhà tu hành thì hơi khó thấy khi quý ngài hạ sơn. Phải có thời gian năm, ba năm, có khi hàng chục năm, sau khi quý ngài hoằng pháp đó đây, may ra chúng sanh vô minh mới có thể tạm nhận ra quý ngài đã “Đạt”, đã “Đắc” thế nào khi quý ngài hạ sơn thuở nọ! Chẳng thế mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, vị Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng được cả thế giới tôn kính đã phải lên tiếng với tiểu đề “Tình thầy trò” trong cuốn “Từ Bi và kẻ thù” rằng, nhiều khi chúng ta cần một thời gian khá dài đến 10, hoặc 12 năm để quan sát đức hạnh và khả năng giảng dạy của giảng sư mới có thể biết vị đó có thực có khả năng và đạo hạnh cho ta đặt lòng tin và kính trọng hay không. Ngài còn nhắc, chính Đức Phật cũng dạy rõ điều này trong kinh điển, rằng ta không nên xem các vị thầy như thần thánh để tránh thất vọng khi sự thật không như vậy; vì một vị thầy tâm linh có nhiệm vụ truyền bá Phật pháp, hướng dẫn tinh thần kẻ khác mà lại phạm những lỗi lầm mà ông thường khuyên học trò nên tránh, là điều vô cùng tệ hại.
Đọc được những lời căn dặn trên, từ vị giáo chủ Phật giáo Tây Tạng đang được cả thế giới kính ngưỡng, hàng Phật tử sơ cơ như tôi bỗng vô cùng hoang mang. Tôi tin rằng, bất cứ người Phật tử nào mang một chút tín tâm mong cầu học đạo cũng cố gắng dọ dẫm tìm tới nơi mà họ “nghe đồn” là có vị thầy giảng pháp hay lắm. Khi đã tìm đến thì không phải chỉ nghe dăm ba lần là có thể khẳng định lời đồn đúng hay sai, vì khả năng của Phật tử lò dò tìm đạo cũng ví như học trò ngơ ngác buổi đầu cắp sách đến trường, chỉ biết, thầy thì phải giỏi là cái chắc, bởi không giỏi, sao được làm thầy" Đó là tâm trạng của phần đông những người đi tìm thầy. Lại nữa, hầu hết những điều thầy nói, thầy giảng là những điều trò chưa biết, chưa nghe, làm sao biết là thầy nói đúng hay sai trước khi trò có thời gian nghiền ngẫm, suy nghĩ về bài học" Do đó mà học trò muốn học chỉ còn cách cắm cúi tuân thủ lời thầy, hy vọng một mai sáng dạ. Chính cái thời gian “nhắm mắt nhắm mũi cắm cúi học” đó đã vô tình giúp thầy trò nhìn rõ nhau, tuy thầm lặng, tuy chậm rãi nhưng chính là thời gian quý báu để nhận thức bản chất của đối tượng. Chỉ có điều đáng thương là, nếu thời gian đó quá dài, có thể cần từ 10 đến 12 năm như Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói, “trò mới nhận ra thầy thực chưa phải minh-sư” thì e rằng niềm tin của Phật tử về ngôi “Tăng” sẽ lung lay như cây non trước bão tố; và điều quan trọng là, từ sự đau khổ ấy Phật tử có đứng dậy nổi để can đảm đi lại từ đầu con đường “Tầm sư học đạo” nữa hay không " Nếu không, thì phải làm sao " Nếu có, thì phải bắt đầu thế nào để tương đối tránh được thất bại như lần trước "
Với cái đầu ưa nghĩ quẩn như tôi, gặp sự nan giải này, chẳng lẽ ngồi khóc " Tôi bèn “thử” đặt mình vào trường hợp không may này xem sao. Tôi trải chiếu, nhắm mắt, ngồi bán già một lúc, chỉ nghĩ ra được giải pháp không mấy thông minh nhưng thực tế, dễ áp dụng và nhất là tiết kiệm được thời gian. Đó là, THẦY GIẢNG CÂU GÌ, TRÒ CỨ NHÌN NGAY BẢN THÂN THẦY Ở CÂU ĐÓ. Tạm thí dụ những câu thông thường nhất mà không người Phật tử nào không từng nghe, chẳng hạn như, thầy giảng về Từ Bi Hỷ Xả thì sau buổi giảng, thay vì thỉnh cuốn băng về nghe ngày nghe đêm, trò hãy chỉ lẳng lặng “nhìn” thầy, từ cách hoằng pháp tới sinh hoạt thường ngày thầy có thực sự thể hiện lòng vị tha (Từ Bi) cứu độ chúng sanh không, hay chỉ là vị kỷ" Thầy có mở rộng lòng ban vui và vui với cái vui của người (Hỷ) không" Thầy có buông bỏ được toan tính hơn thua, đố kỵ nghi hoặc (Xả) để tâm thanh tịnh đạt được hài hòa với mọi người mọi loài không" Hoặc khi thầy giảng về Tham Sân Si, thầy có biết “đủ” để đừng muốn thêm những cái không cần thiết (tham); thầy có nổi nóng (sân) khi gặp điều bất toại ý; thầy có mất tự chủ mà hành xử như người thiếu trí tuệ (si) không …v…v…

Tôi cũng hiểu lơ mơ rằng, nhiều khi “thầy nghiêm khắc thế mà không phải thế”. Thầy chỉ dùng “phương tiện nghiêm khắc” để giáo hóa trò mà thôi. Đó có thể là cách các thiền sư xử dụng, đôi khi mạnh bạo như gậy gộc, đánh đập, đôi khi cộc cằn như la hét, mắng chửi, xua đuổi …v…v…Nhưng qua những giai thoại Thiền mà tôi được nghe hoặc được đọc thì VỊ THIỀN SƯ CHỈ DÙNG NHỮNG PHƯƠNG TIỆN VŨ BÃO ĐÓ KHI BIẾT LÀ SỞ HỌC CỦA ĐỆ TỬ ĐÃ CHÍN MÙI, giáng cho một đòn mạnh, trò có thể ngộ. Khi đó thì đánh đập, la mắng đúng là từ bi, là phương tiện giúp trò đạt ngộ. Nhưng thường xuyên chửi rủa, la mắng khi trò chưa đủ khả năng tiếp nhận thì sự nghiêm khắc này, e rằng không phải là lòng từ bi ! Giai thoại thiền nổi tiếng mà ai học thiền cũng biết là câu chuyện “cầu pháp an tâm” của ngài Huệ Khả cầu đạo Tổ Đạt Ma. Khi nghe Tổ Đạt Ma đang thiền trên núi Thiếu Thất, ngài Huệ Khả đã trèo đèo lội suối tìm đến cửa động dưới trời giá băng, mưa tuyết, quỳ ngoài cửa 7 ngày 7 đêm, tuyết phủ gần kín người mà Tổ Đạt Ma chẳng hề đoái hoài. Vì muốn chứng tỏ quyết tâm cầu đạo, ngài Huệ Khả dùng đao chặt đứt cánh tay trái, cúng dường Tổ. Vậy mà Tổ Đạt Ma chỉ quay lại hỏi: “Ngươi dùng chút khổ hạnh nhỏ này để cầu việc chi "” Ngài Huệ Khải kính cẩn thưa rằng: “Bạch Hòa Thượng, con chỉ cầu một việc là xin Hòa thượng chỉ cho con pháp an tâm vì tâm con luôn luôn bất an”. Tổ Đạt Ma nhìn ngài Huệ Khả đăm đăm rồi bất chợt quát to lên, tưởng đến long trời lở đất: “Đem cái tâm bất an của ngươi ra đây, ta an cho”. Ngài Huệ Khả nghe Tổ quát lớn, không kịp suy nghĩ gì, chỉ vội vã tuân theo lời quát là quay lại tự tâm, tìm cái tâm bất an để trình Tổ; thì ngay khi nhìn lại tâm mình một cách sâu sắc, thuần khiết, mới nhận ra sự bất an vốn không thật, đó chỉ là niệm vọng tưởng. Đã là vọng mà bị nhìn thấy, vọng lập tức biến mất. Ngài Huệ Khả ngơ ngác thưa: “Bạch Hòa Thượng, cái tâm bất an của con đâu mất, con tìm không thấy, lấy không ra”. Lúc đó Tổ Đạt Ma mới dịu dàng bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay câu đó, ngài Huệ Khả đạt đại ngộ.
May mắn thay cho ngài Huệ Khả đã được Tổ Đạt Ma dùng tuệ nhãn thấy rõ sở học bền bỉ nhiều năm và lòng quyết tâm tìm giải thoát; chỉ kẹt nơi pháp chấp văn tự mà ngài Huệ Khả chưa nhận rõ Phật-tánh thanh tịnh của mình, vọng niệm mới “đánh lừa” ngài là tâm đạo bất an. Tiếng quát lớn của Tổ chính là giúp ngài Huệ Khả DỪNG VỌNG, HIỆN CHÂN. Tiếng quát trong phút giây đó là bàn tay từ bi đưa ra, kéo người cầu đạo khỏi bờ mê, tới bến giác.
(Nhưng, nếu cũng tiếng quát này, gặp hàng Phật tử như tôi là bay hồn bạt vía, chết giấc xuống chín tầng địa ngục còn chưa hiểu tại sao bị quát, huống chi là hiểu đạo!)
Vì biết căn cơ chúng sanh muôn người chẳng đồng như thế nên Đức Phật mới từ bi đặt ra tới tám mươi bốn ngàn pháp môn; xin quý thầy cũng từ bi nương căn chúng sanh mà dạy dỗ. Suốt 49 năm hoằng pháp, bao nhiêu kinh điển để lại cho hậu thế đều mô tả rõ ràng từng lời Phật nói, dù đôi khi lời nói đó chỉ là một câu ngắn ngủi, Phật cũng thể hiện đời sống mình qua câu đó, tuyệt đối không khác, không sai. Đệ tử theo Phật chỉ cần nhìn Phật là thấy ngay những BÀI-PHÁP-SỐNG, đầy linh động cho sự thực tập.
Ngày nay, nếu vị thầy giảng dạy điều gì mà bản thân các ngài thể hiện đúng như lời dạy, thì chính là các ngài đang mang những bài pháp ngàn xưa, từ Thế-Giới- Tích-Môn mà dựng thành những tấm gương ngay nơi Thế-Giới-Bản-Môn cho Phật tử hiện đời noi theo. Được như thế thì Phật tử ngày nay cũng có phước duyên hưởng hạnh phúc lớn lao không thua gì 1250 vị Tỳ-Kheo được theo Phật từng bước, như lời Tôn giả Anan thường mở đầu trên mỗi pho Kinh.
Diệu Trân
Tháng Hai 2005

Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.
Trong môi trường chính trị thực tế đương đại, LM chính trị là lẽ sống duy nhất của mỗi tổ chức và cá nhân người Việt quốc gia. Không có LM mỗi tổ chức hay thực thể riêng biệt không khác nào một đàn cá nhốt trong ao tù, không bao giờ thoát ra biển khơi để lớn mạnh vùng vẫy hầu trở thành một lực lượng chính trị đủ sức đối trọng với đảng CSVN.
Việc một hồ sơ tình báo được giải mật thường khiến dư luận có cảm tưởng rằng toàn bộ sự thật cuối cùng đã được phơi bày. Nhưng trên thực tế, ý nghĩa của việc giải mật không đơn giản như vậy. Một tài liệu được công bố chỉ cho thấy những gì đã từng được thu thập hoặc ghi nhận tại một thời điểm nhất định; nó không mặc nhiên xác nhận rằng mọi nội dung trong đó đều đã được kiểm chứng hoặc trở thành kết luận chính thức.
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng. Triết gia/nhà tâm lý học Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.
Khi nói đến quyền lực tại Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ trước hết tới Tổng Thống, Quốc Hội, các cuộc bầu cử, hay những cuộc vận động ngoài đường phố. Nhưng trong lịch sử Hoa Kỳ, còn có một quyền lực lặng lẽ âm thầm hơn, mà ảnh hưởng nhiều khi kéo dài hơn cả một đời tổng thống: Tối Cao Pháp Viện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.